Sông Đông êm đềm - Chương 222 phần 1
Chương 222
Gió nồm ấm áp thổi đã hai ngày.
Tuyết trên các cánh đồng còn lại vài đám cuối cùng đã tan nốt. Những con suối
mùa xuân sủi đầy bọt trắng đã bắt đầu réo to hơn. Các khe và sông nhỏ trên đồng
cỏ đã lại có nước. Đến tảng sáng ngày thứ ba thì gió lặng sương mù rất dày sà
xuống đồng cỏ, những giọt nước lấp lánh như bạc trên những đám cỏ vũ mâu năm
ngoái, một tấm màn khói trắng bệch không sao nhìn qua được trùm khắp các
nấm kurgan, các khe núi, các thôn trấn, các đỉnh gác chuông, các
ngọn tiêu huyền hình kim tự tháp mọc vươn lên trời. Mùa xuân xanh mướt đã ngự
trị trên vùng đồng cỏ sông Đông mênh mông.
Một buổi mai đầy sương mù, lần
đầu tiên sau khi khỏi bệnh, Acxinhia bước ra thềm và đứng ở đấy rất lâu, ngây
ngất trong không khí mùa xuân mát mẻ, ngọt ngào. Nàng cố nén cái cảm giác váng
đầu, buồn nôn, ra tới cái giếng trong vườn rồi đặt chiếc thùng xuống và ngồi
trên thành giếng.
Muôn vật hiện ra khác hẳn trước
mắt nàng, tất cả đều đổi mới một cách lạ lùng và đầy sức quyến rũ. Nàng long
lanh cặp mắt, bồi hồi nhìn khắp chung quanh, hai tay lần lần trên những nếp của
chiếc áo dài như đứa con nít. Những khoảng xa mung lung sương khói, những cây
táo trong vườn lõng bõng nước tuyết tan, dãy tường bao đẫm nước và con đường
sau bức tường với những vết bánh xe năm ngoái ngập nước rất sâu, Acxinhia có
cảm tưởng như tất cả đều đẹp như nàng chưa từng thấy bao giờ, tất cả đều như nở
hoa với những màu sắc đậm đà, mịn màng, tất cả đều như đang rực lên với nắng.
Một mảng trời không gợn chút mây
nào hiện ra qua làn sương mù làm nàng loá mắt với màu xanh lành lạnh của nó.
Mùi rơm cỏ mục và mùi đất đen tan tuyết ngởi quen thuộc và dễ chịu đến nỗi
Acxinhia bất giác hít một hơi rất dài có một nụ cười trên khoé miệng. Điệu hát
đơn giản mộc mạc của một con sơn ca vẳng tới không biết từ chỗ nào trên cánh
đồng cỏ đầy sương mù gợi lên trong lòng nàng một nỗi buồn man mác. Chính nó,
chính cái tiếng chim hót trên đồng đất nước người đã làm trái tim của Acxinhia
đập dồn dập và làm hai giọt nước mắt dè sẻn ứa ra trên khoé mắt nàng…
Acxinhia cảm thấy sự sống quay
trở lại với mình, trong lòng thanh thản một cách thú vị. Nàng rạo rực, chỉ muốn
tay mình sờ vào tất cả mọi vật, mắt mình được nhìn ngắm tất cả. Nàng chỉ muốn
chạm tay vào bụi phúc bồn tử đẫm nước biến thành màu đen, áp má vào nhánh táo
phủ một lớp lông xanh xám, mịn như nhung, chỉ muốn bước qua đoạn hàng rào đổ
dụi, rồi lội bì bõm trong bùn, không theo những con đường sẵn có, tới đám lúa
mạch mùa đông sau cái khe núi rộng, với màu xanh thần thoại lẫn với màu của
khoảng xa chìm trong sương mù…
Acxinhia sống vài ngày trong tâm
trạng chờ đợi, cứ tưởng Grigori sắp trở lại với mình đến nơi, nhưng sau nhờ có
những người láng giềng sang thăm chủ nhà, nàng được biết chiến tranh còn chưa
chấm dứt, rằng nhiều gã Cô-dắc đã từ Novorossisk bỏ chạy tới Krym bằng đường
biển, còn những gã ở lại thì đều gia nhập Hồng quân hoặc đi làm phu mỏ.
Đến cuối tuần, Acxinhia quyết
định dứt khoát sẽ trở về nhà và chẳng bao lâu nàng đã kiếm được người bạn
đường. Một buổi chiều có ông lão nhỏ bé, lưng gù gù, đi thẳng vào trong nhà mà
không gõ cửa. Ông cụ lặng thinh cúi chào và bắt đầu cởi cái áo ca-pôt kiểu
Anh bẩn thỉu, đã sứt chỉ, mặc lùng thùng trên người như một cái túi.
- Cụ làm sao thế, cụ khách tốt,
chẳng nói được một câu "chào cả nhà" mà lại muốn ở nhờ à? - Chủ nhà
vừa hỏi vừa ngạc nhiên ngắm người khách không rời mà đến.
Nhưng ông lão kia vẫn cởi nhanh
áo ca-pôt, giũ ra ngoài ngưỡng cửa, treo rất cẩn thận lên cái
móc, rồi mới vuốt chòm râu xám xén ngắn, mỉm cười và nói:
- Bác chủ nhà quí mến ạ, xin bác
hãy vì Chúa mà thứ lỗi cho tôi, nhưng cái thời buổi hiện nay đã dạy cho tôi cái
lối đầu tiên cởi áo ngoài rồi sau mới xin nghỉ đêm, nếu không người ta sẽ không
để cho vào nhà dâu. Bây giờ con người ta đã trở nên thô bạo, thấy khách đến nhà
không vui mừng nữa rồi…
- Nhưng chúng tôi sẽ xếp cho cụ
nằm ở chỗ nào bây giờ? Cụ xem gia đình tôi đã ở chật chội như thế nầy rồi. -
Chủ nhà nói, giọng đã ôn tồn hơn.
- Chỉ cần cho tôi một chỗ chỉ
bằng cái lỗ mũi là đủ rồi. Ngay ở chỗ nầy, tôi nằm còng queo bên cạnh ngưỡng
cửa là ngủ được ngay.
- Nhưng làm sao mà cụ lại đi như
thế nầy hả cụ? Cụ chạy loạn à? - Vợ chủ nhà tò mò hỏi.
- Đúng thế đấy, đúng là tôi chạy
loạn. Chạy mãi, chạy mãi, chạy ra đến biển để rồi lại từ ngoài ấy lững thững
trở về, chạy cũng đến cực ông cụ vui tính ngồi xổm xuống bên cạnh ngưỡng cửa
trả lời.
- Nhưng cụ là ai cơ chứ? Cụ người
đâu ta? - Chủ nhà hỏi tiếp.
Ông già lấy trong túi áo ra một
cái kéo thợ may to tướng, xoay xoay nó trong tay và nói, vẫn với nụ cười luôn
luôn nở trên môi:
- Đây là giấy chứng minh về cấp
bậc, quân hàm của tôi. Tôi đã mang nó từ Novorossisk để lên đường đi công tác
đấy. Còn quê tôi thì xa lắm, tận trấn Vosenskaia cơ. Bây giờ tôi lại trở về đấy
sau khi ra biển uống một ít nước mặn.
- Cháu cũng là người Vosenskaia
đấy, bố già ạ. - Acxinhia nói. - Nàng sung sướng đỏ cả mặt.
- Thật không ngờ? - Ông già kêu
lên. - Thế mà đến đây lại gặp được bà con đồng hương! Dù trong thời buổi thế
nầy, đó cũng chẳng phải là một điều kỳ dị lắm. Ngày nay chúng ta cũng như dân
Do Thái ấy: khắp gầm trời đâu cũng có. Tình hình ở Kuban là như thế nầy: cầm
cái gậy đánh con chó lại choảng ngay phải một gã Cô-dắc sông Đông. Đi đâu cũng
chạm trán với họ, không làm thế nào đếm cho xuể, mà những người nằm dưới ba tấc
đất lại còn nhiều hơn nữa đấy. Các bà con yêu quí ạ, trong cuộc rút lui lần nầy
tôi đã được nhìn thấy chẳng còn thiếu điều gì. Những sự thiếu thốn khổ cực mà
nhân dân đang phải chịu đựng thì không kể sao cho hết! Hôm kia tôi đã ngồi ở
ngoài ga, bên cạnh tôi có một bà quí tộc đeo kính. Qua mắt kính, bà ta cứ nhìn
những con rận trên người mình. Mà chúng nó thì kéo đàn kéo lũ trên người bà ta.
Thế là bà ta đưa những ngón tay rất nhỏ nhắn ra bắt rận, mặt nhăn như ăn phải
một quả táo dai. Bà ta bắt đầu giết một con rận đáng thương, và mặt lại càng
nhăn hơn, méo xệch đi, ý chừng vì kinh tởm! Thế mà lại có đứa nhẫn tâm, giết
một con người mà mặt cũng chẳng nhăn, miệng cũng chẳng méo đi chút nào cả. Tôi
đã trông thấy ngay trước mắt mình một tay hảo hán như thế chém chết ba thằng
Kalmys, chém xong chùi lưỡi gươm vào cổ ngựa, lấy thuốc lá, châm hút. Rồi nó
bước tới mặt tôi và hỏi: "Nầy bố già, làm gì mà bố trợn mắt lên như thế
hả? Bố có muốn tôi chém béng cái đầu của bố đi không?". Tôi vội nói:
"Anh nói gì vậy, anh chàng thân mến, cầu Chúa che chở cho anh! Anh chém
mất đầu thì tôi làm thế nào mà nhai được bánh mì bây giờ?" Nó bèn phá lên
cười rồi bỏ đi.
- Có những kẻ giết người, một khi
bàn tay đã quen với cái việc đó thì còn dễ hơn giết rận đấy. Cách mạng đã làm
cho cái mạng con người bị coi rẻ rồi. - Chủ nhà nói chen vào, giọng thâm thuý.
- Bác nói đúng đấy! - Người khách
đồng ý. - Con người, nó không phải là súc vật, nên có thể quen dần với tất cả.
Chẳng hạn như tôi đã hỏi cái bà ấy: "Bà là ai thế? Nhìn dung mạo thì hình
như bà không xuất thân là dân thường thì phải". Bà nhìn tôi, nước mắt ròng
ròng: "Tôi là vợ của thiếu tướng Gretrikhin". Tôi nghĩ bụng: "Dù
mụ có chồng là thiếu tướng hay thừa tướng gì đi nữa, nhưng rận chấy của mụ cũng
chẳng kém gì những con bọ trên mình một con mèo ghẻ?" Tôi bèn bảo bà ta:
"Thưa bà lớn, tôi xin lỗi, nhưng nếu bà lớn cứ trị các loài côn trùng sâu
bọ của bà lớn như thế nầy thì tôi e bà lớn sẽ có đủ công việc để làm đến lễ Đức
Mẹ mất. Mà rồi móng tay cũng gãy hết thôi. Bà giết tất cả chúng nó một lượt có
hơn không?" Có cách nào để làm như thé được?" - bà ta hỏi. Tôi nói:
"Bà lớn hãy cởi áo ra, trải xuống chỗ nào cứng, rồi lăn một cái chai mà
giết". Tôi thấy bà tướng nhà tôi gãi sồn sột và lẩn ra sau cái tháp nước,
rồi tôi lại thấy bà ta lăn một cái chai thuỷ tinh xanh trên cái áo sơ-mi, và
lăn khéo khéo là, cứ như đã lăn cái chai ấy suốt đời rồi ấy!" Tôi cứ trầm
trồ nhìn bà ta mà nghĩ thầm: "Đúng là Thượng đế cái gì cũng có nhiều, người
ban cả những con sâu bọ nầy cho những con người quí phái, để cho chúng nó hút
cả cái thứ máu ngọt ngào của họ, đâu cứ chỉ sống bằng máu người lao
động…". Thượng đế có phải là thằng ngốc Mikiska đâu[331]!
Người tinh thông nghiệp vụ của người lắm chứ! Lần nào mà Người rủ lòng thương
con người thì Người sắp xếp mọi mặt đâu ra đấy, không thể nào nghĩ ra cách khéo
hơn được nữa…
[331] Một
nhân vật trong chuyện cổ tích Nga. (N.D)
Ông lão thợ may cứ nói chuyện
thao thao. Cụ thấy hai vợ chồng chủ nhà rất chú ý nghe mình kể bèn khéo léo bảo
ngầm cho họ biết rằng mình còn có thể nói thêm khá nhiều chuyện thú vị nữa,
song bụng đói quá nên hai con mắt cứ nhíu lại vì buồn ngủ.
Ăn bữa tối, ông lão vừa bước tới
chỗ ngủ vừa hỏi Acxinhia:
- Còn cô, cô bạn đồng hương, cô
định ở lại đây có lâu không?
- Cháu đang sửa soạn trở về nhà
đây cụ ạ.
- Được, thế thì cô cùng đi với
tôi, như thế sẽ vui hơn.
Acxinhia vui vẻ nhận lời ngay và
sáng hôm sau hai người từ biệt vợ chồng nhà chủ, rời bỏ cái xóm Novyi
Mikhailovsky khỉ ho cò gáy trên đồng cỏ.
Đi đến ngày thứ mười hai thì hai
người đến thị trấn Miliuchinskaia, rồi tới xin ngủ nhờ một ngôi nhà to lớn, coi
vẻ giàu có. Sáng hôm sau người bạn đường của Acxinhia quyết định ở lại thị trấn
một tuần để nghỉ ngơi và chữa hai bàn chân đã sây sướt đến chảy máu. Ông cụ
không thể nào đi thêm được nữa. Nhà chủ cũng kiếm được công việc may vá cho cụ,
vì thế ông già đang buồn nhớ công việc đến ngồi ngay bên cạnh chiếc cửa sổ nhỏ,
lấy cái kéo ra, đeo cái kính buộc bằng sợi chỉ, và bắt đầu tháo chỉ thoăn thoắt
một cái áo cũ.
Lúc chia tay với Acxinhia, ông
già hay chuyện và vui tính làm dấu phép chúc phước cho nàng và bất thần chảy
nước mắt. Nhưng cụ lại lau mắt ngay để nói bằng cái giọng bông lơn thường ngày:
- Sự bần thần cũng không phải là
mẹ đẻ của mọi người, nhưng nó làm cho người ta thân thiết với nhau… Vì thế tôi
thương cô quá… Nhưng thôi, chẳng còn làm thế nào được nữa, cô hãy đi một mình
thôi, con gái yêu của tôi, cùng một lúc lão dẫn đường của cô đã bị khập khiễng
cả hai chân rồi, phải có nơi nào đó để người ta nuôi lão bằng bánh mì đại mạch
mới được… Nhưng thật ra cô đã đi với tôi khá nhiều, mà đối với bảy mươi tuổi
trời của tôi thì quá nhiều là khác Nếu có dịp thì nhờ cô nói lại hộ với bà lão
nhà tôi rằng ông bạn già của bà ấy vẫn còn sống, còn khoẻ, và tuy đã bị bỏ vào
cối giã, bị cho vào máy nghiền, nhưng vẫn còn sống, ông ấy vừa đi đường vừa may
quần áo cho những người nhân đức, chỉ ngày một ngày hai là về nhà thôi… Cô nói
lại giùm với bà lão rằng ông lão ngu xuẩn đã chấm dứt cuộc rút lui, đang đánh
nước mã hồi và chưa biết rõ lúc nào mới về được tới bên bếp lò…
Acxinhia còn phải đi đường thêm
vài ngày nữa. Từ thị trấn Bokovskaia, nàng ngồi lên một chiếc xe ngựa đi cùng
đường về tới thôn Tatarsky. Mãi khi trời tối mịt, nàng mới bước vào cái cửa xếp
mở toang của nhà mình. Nàng đưa mắt nhìn sang nhà Melekhov, và một tiếng nức nở
bỗng nhiên ập lên cổ làm nàng tức thở… Trong căn bếp trống huếch trống hoác,
nặc mùi những nơi không có người ở, nàng đã khóc cho hết nước mắt, những giọt
nước mắt đàn bà tích lại trong bao tháng ngày. Rồi nàng ra sông Đông lấy nước,
nhóm lò và ngồi vào bàn, hai tay buông thõng trên đầu gối. Vì đang mải suy
nghĩ, nàng không nghe thấy tiếng cánh cửa cọt kẹt và chỉ tỉnh lại khi bà
Ilinhitna vừa bước vào nhà vừa khẽ nói:
- Thế nào, chào chị, chị láng
giềng? Chị đến những nơi đồng đất nước người, đã mất tin tức lâu quá đấy…
Acxinhia hoảng hốt nhìn bà già và
đứng dậy.
- Sao chị cứ nhìn tôi chằm chằm,
chẳng nói chẳng rằng như thế? Hay lại đem về những tin chẳng lành? - Bà
Ilinhitna từ từ bước tới bên cạnh cái bàn, ngồi xuống mép chiếc ghế dài, cặp
mắt đầy vẻ dò hỏi không lúc nào rời khỏi khuôn mặt Acxinhia.
- Không đâu ạ, cháu thì làm gì có
tin tức… Cháu đang mải suy nghĩ mà không biết những gì, cũng không ngờ cụ sang,
nên cụ vào nhà mà không nghe thấy… - Acxinhia luống cuống nói.
- Chị gầy rộc đi, chắc hẳn trong
lòng có chuyện gì…
- Cháu bị thương hàn…
- Thằng Grigori nhà tôi… nó hiện
nay như thế nào… Chị chia tay với nó ở đâu thế? Nó có còn sống không?
Acxinhia kể lại vắn tắt. Bà
Ilinhitna lắng nghe nàng kể, không nói thêm vào câu gì. Cuối cùng bà mới hỏi:
- Lúc để chị ở lại, nó ra đi có
ốm không?
- Không, anh ấy không ốm đâu.
- Thế chị không được biết gì thêm
về nó nữa à?
Không ạ.
Bà Ilinhitna thở dài nhẹ nhõm:
- Thôi nhé, cám ơn chị đã cho tôi
nghe những lời tốt lành. Thế mà ở đây, người ta cứ đồn đại trong thôn đủ mọi
chuyện lung tung về nó…
- Họ đồn những gì cơ? - Acxinhia
hỏi, giọng nàng chỉ thoáng nghe rõ.
- Toàn là nói lung tung thôi mà…
Làm thế nào mà nghe được tất cả mọi người. Cả thôn chỉ có một mình ông Vanca
Beskhlevnov trở về thôi. Ông ấy có gặp thằng Grigori ở Ekaterinoda, thấy nó
đang ốm. Còn những người khác thì tôi không tin!
- Nhưng họ nói những gì hả cụ?
- Chúng tôi nghe đồn rằng một gã
Cô-dắc nào đó ở thôn Xinghinsky có cho biết bọn Đỏ đã chém chết thằng Grigori ở
thành phố Novorossisk. Tôi bèn đi bộ đến Xinghinsky: lòng dạ của người mẹ đã
làm tôi không thể nào chịu được. Tôi đã tìm thấy gã Cô-dắc ấy. Nó đã cho biết
rõ. Nó nói rằng nó không trông thấy mà cũng không nghe thấy như thế. Lại có tin
đồn rằng hình như nó bị bắt bỏ tù rồi chết trong đó vì thương hàn.
Bà Ilinhitna đưa mắt nhìn xuống
và nín lặng giờ lâu, nhìn hai bàn tay sần sùi và nặng nề của mình. Khuôn mặt
của bà sị nặng nhưng nom rất bình thản, cặp môi mím chặt đầy vẻ nghiêm khắc,
nhưng hai gò má rám nâu bất thần đỏ ửng như màu anh đào, và mí mắt bà hơi rung
rung. Bà ngước nhìn Acxinhia, hai con mắt ráo hoảnh sáng rực trong cơn xúc
động, và nói khàn khàn:
- Nhưng tôi không tin! Tôi không
thể nào mất đứa con trai cuối cùng được? Tôi chẳng làm gì nên tội mà bị Chúa
trừng phạt… Mà tôi cũng chẳng còn sống được bao lâu nữa… Sống thì chẳng còn
được mấy ngày, nhưng dù không thế cũng đã chịu cực khổ hết mức rồi? Thằng
Griska vẫn còn sống đấy! Trong lòng tôi chưa thấy điều gì báo trước, như vậy là
nó còn sống, thằng con yêu dấu của tôi vẫn con sống.
Acxinhia quay đi, không nói gì
cả.
Trong bếp lặng đi giờ lâu rồi một
làn gió bỗng thổi mở toang cánh cửa vào phòng ngoài, bắt đầu nghe thấy tiếng
nước lũ gào rú trầm trầm trong đám tiêu huyền bên kia sông và tiếng những con
ngỗng trời lo lắng gọi nhau quàng quạc trên làn nước lũ.
Acxinhia ra đóng cửa rồi quay vào
đứng tựa lưng vào bếp lò.
- Cụ đừng quá lo buồn về anh ấy,
cụ ạ, - nàng nói khe khẽ. - Chẳng nhẽ một người như anh ấy mà có thể bị bệnh
tật đánh quị hay sao? Anh ấy khoẻ cứ như con người bằng thép ấy. Những người
như thế không chết được đâu. Suốt chặng đường, trời đại hàn rét như cắt da mà
vẫn không đeo găng…
- Thế nó có nhớ đến con nó không?
- Bà Ilinhitna hỏi giọng mệt moi.
- Anh ấy nhớ cả cụ lẫn hai cháu.
Hai cháu có khoẻ không cụ?
- Chúng nó khoẻ cả, chẳng có
chuyện gì đâu. Nhưng ông Panteley Prokofievich đã mất trong khi rút lui rồi.
Chỉ còn lại mấy mẹ con bà cháu chúng tôi…

