Buồn nôn - Chương 19

Những hình ảnh dị kỳ, chúng biểu tượng cho một mớ những sự
vật. Không phải những sự vật đích thực, nhưng là những sự vật khác tương tự.
Những đối vật bằng gỗ tương tự những chiếc ghế, những đôi guốc, những đối vật
khác tương tự với những cây cối. Và rồi là hai khuôn mặt: đấy là cặp nhân tình
đã dùng bữa gần bàn tôi hôm chủ nhật, tại quán Vézelize. To béo, nóng sốt, gợi
cảm, phi lý, với đôi lỗ tai đỏ nhừ. Tôi đã nhìn thấy đôi vai và chiếc cổ họng
của người đàn bà. Hiện hữu trần truồng. Hai người trẻ tuổi đó, điều này đột
nhiên làm tôi khiếp hãi, hai người ấy lại tiếp tục hiện hữu ở nơi nào đó trong
thành phố Bouville; một nơi nào đó, giữa những mùi vị nào? Chiếc cổ họng êm ái
nọ còn tiếp tục ve vuốt làn vải êm mát, tiếp tục nép mình trong những chiếc dây
treo, và người đàn bà tiếp tục cảm thấy cổ họng mình hiện hữu trong lần áo lót,
hắn phải nghĩ rằng: “Đôi nhũ hoa, những quả cây tươi ngon của tôi” với nụ cười
bí ẩn, chăm chú chờ đôi nhũ hoa căng phồng lên làm nàng nhột nhạt. Và rồi tôi
đã la to lên và tôi đã tìm gặp lại đôi mắt mở lớn.

Có phải tôi đã mộng thấy sự hiện diện vĩ đại kia không? Nó
đấy, dựng đứng trên khu công viên, ngã nhào xuống trong những lùm cây, mềm
nhũn, nhiễm độc cả, dày đặc, một thứ mứt ngọt. Và tôi, tôi đã hiện hữu trong
đó, cùng với toàn thể khu vườn? Tôi sợ hãi, nhưng nhất là, tôi đã nổi giận, tôi
cho rằng điều đó quá ngu ngốc, quá bất ổn, tôi thù ghét chất mứt đê tiện nọ.
Chất mứt dẫy đầy, chất mứt tràn lan! Nó bay lên tận trời, nó tỏa khắp mọi nơi,
nó phủ đầy tất cả bằng vẻ chán nản nhừa nhựa của mình và tôi nhìn thấy những
chiều sâu, sâu hút xa hơn cả những giới hạn của khu vườn, những ngôi nhà và
Bouville, tôi còn ở Bouville nữa, không ở nơi nào cả, tôi đang bồng bềnh trôi.
Tôi không kinh ngạc, tôi biết rằng đó là thế giới, thế giới trần truồng đột
nhiên lộ xuất, và tôi tức giận đến nghẹn thở cái hữu thể phi lý vĩ đại kia.
Người ta chẳng có thể tự hỏi cái đó nảy sinh từ đâu, tất cả những cái đó cũng
chẳng tự hỏi được làm sao mà thế giới lại hiện hữu, thay vì không gì cả. Điều
ấy chẳng có nghĩa gì, thế giới đã hiện diện khắp nơi, đằng trước, đằng sau.
Tuyệt chẳng có gì trước khi thế giới hiện hữu. Chẳng có gì.
Chẳng có giây phút nào mà thế giới đã không thể không hiện hữu. Chính điều này
làm tôi giận dữ: hiển nhiênlà chẳng có bất cứ lý do nào cho nó hiện
hữu, cái loài côn trùng mềm nhão này. Nhưng không thể nào nó
lại không hiện hữu. Đấy là điều không thể nghĩ tưởng được: để tưởng tượng ra hư
vô thì người ta lại đã hiện hữu rồi, giữa lòng thế giới và đôi mắt mở to, sinh
động; hư vô, hư vô chỉ là một ý tưởng trong đầu óc tôi, một ý tưởng đang hiện
hữu bềnh bồng trong cõi bao la này: trạng thái hư vô đó đã không đến trước hiện
hữu, nó là một hiện hữu khác, và đã xuất hiện sau nhiều hiện hữu khác. Tôi la
lên: “Nhơ bẩn, chó chết!”. Và tôi lắc đầu để giải thoát mình ra khỏi tình trạng
nhơ bẩn hiểm độc này, nhưng hiện hữu vẫn còn đó và có vô số, hàng ngàn hàng vạn
hiện hữu, hoài hoài không dứt: tôi nghẹn thở dưới đáy sâu của nỗi kinh tởm bao
la nọ. Và rồi đột nhiên, khu vườn biến mất tựa hồ chìm hẳn vào trong một chiếc
lỗ hổng vĩ đại, thế giới đã biến dạng theo cùng lối như khi nó đến, hoặc là tôi
đã tỉnh dậy - dù sao, tôi cũng không còn nhìn thấy nó nữa; chỉ còn lại màu đất
vàng chung quanh tôi, từ đó nảy lên những cành khô dựng đứng lên trời.

Tôi đứng lên, bước ra khỏi vườn. Đến bên chiếc cửa lưới sắt,
tôi quay lại. Lúc đó khu vườn đã mỉm cười với tôi. Tôi tựa người vào chiếc cửa
lưới và tôi đã nhìn sững giờ lâu. Nụ cười mỉm của những chiếc cây, của đám
nguyệt quế, đã muốn nói lên điều gì; đấy chính là nỗi bí ẩn
đích thực của hiện hữu. Tôi nhớ lại rằng vào một ngày chủ nhật nọ, cách đây
không lâu hơn ba tuần, tôi đã bắt chợt trên những sự vật một thứ dáng điệu đồng
lõa. Có phải dáng điệu đó nhằm gởi đến tôi không? Tôi buồn bã cảm nhận rằng tôi
đã chẳng có bất cứ phương tiện nào để hiểu cho thấu đáo. Chẳng có bất kỳ phương
tiện nào. Tuy nhiên, nó đấy, trong niềm chờ đợi, nó tương tự một cái nhìn. Nó
đấy, trên thân cây dẻ... nó chính là cây dẻ. Những vật thể, người ta đã bảo
chúng là những tư tưởng dừng lại nửa vời, những tư tưởng tự quên lãng mình,
những tư tưởng quên lãng những gì chúng đã muốn suy tưởng đến và chúng tồn tại
như thế đó, đong đưa, dao động, với một chút ý nghĩa kỳ dị vượt thoát khỏi
chúng. Mỗi ý nghĩa bé nhỏ đó đều làm tôi bực bội: tôi đã không thể hiểu
nó, dẫu cho tôi có trải qua một trăm kiếp tựa người vào cửa lưới; về hiện hữu,
tôi đã học biết tất cả những gì có thể biết được. Tôi đã cất bước, quay về
khách sạn và ở đấy, tôi đã viết lại những dòng này.

Giữa đêm.

Tôi đã quyết định. Không còn lý do gì nữa để lưu lại
Bouville vì tôi chẳng viết tiếp cuốn sách; tôi sẽ đến sống tại Ba Lê. Ngày thứ
sáu, tôi sẽ đáp chuyến tàu hỏa năm giờ, thứ bảy tôi sẽ gặp lại Anny; tôi nghĩ
rằng hai đứa sẽ sống chung nhau vài ngày. Kế đó tôi sẽ quay lại đây để thanh
toán một vài công việc và sửa soạn hành lý. Chậm lắm là vào ngày 1 tháng ba,
tôi sẽ vĩnh viễn lập nghiệp tại Ba Lê.

Thứ sáu.

“Au Rendez-vous des Cheminots”. Chuyến tàu tôi đi sẽ khởi
hành trong hai mươi phút nữa. Chiếc máy hát. Ấn tượng phiêu lưu mãnh liệt.

Thứ bảy.

Anny ra mở cửa đón tôi, trong chiếc áo dài đen. Dĩ nhiên,
nàng không đưa tay cho tôi bắt, nàng không chào tôi. Tôi để bàn tay phải trong
túi áo khoác. Nàng nói bằng một giọng hờn dỗi và rất nhanh, để tránh những hình
thức xã giao:

“Anh vào đi, và ngồi đâu thì ngồi, trừ chiếc ghế bành gần
cửa sổ”.

Đúng là nàng, đúng thật là nàng. Nàng buông thõng hai tay,
khuôn mặt ảo não, khuôn mặt ngày xưa đã làm cho nàng có vẻ một cô gái ở tuổi
dậy thì. Nhưng bây giờ nàng chẳng giống một cô gái nữa. Nàng mập ù, bộ ngực
nàng thật vĩ đại.

Nàng đóng cửa lại, trầm ngâm tự nói một mình:

“Không biết có nên ngồi trên giường... hay không...”

Cuối cùng nàng buông người trên một loại thùng phủ bằng một
tấm thảm. Dáng điệu nàng không còn như xưa. Nàng đi đứng với một vẻ nặng nề
trang trọng nhưng không kém phần duyên dáng: nàng có vẻ lúng túng vì sự mập mạp
đầy mới lạ của mình. Tuy nhiên, dù sao cũng chính là nàng, chính là Anny.

Anny phá lên cười.

“Tại sao em cười?”

Nàng không trả lời ngay, đó là thói quen của nàng, và tỏ một
dáng điệu gàn bướng:

“Hãy nói tại sao?”

“Tại vì cái cười độ lượng của anh khi mới bước vào phòng.
Anh có vẻ một ông bố vừa mới gả chồng cho con gái. Nào, đừng đứng như thế nữa.
Hãy cất áo choàng đi và ngồi xuống, ừ, ngồi đấy cũng được”.

Một lúc im lặng tiếp theo, mà Anny không tìm cách phá vỡ.
Căn phòng trơ trọi làm sao! Ngày xưa, trong tất cả cuộc du lịch, Anny đều đem
theo một chiếc va li lớn đầy những khăn choàng, khăn bịt đầu, khăn trùm đầu,
mặt nạ Nhật Bản, những hình ảnh Épinal. Ngay khi vừa bước xuống, vào một khách
sạn - và nàng chỉ ở lại đó một đêm - công việc đầu tiên của nàng là mở va li,
lấy hết những “của cải” của nàng ra, rồi nàng treo lên tường, móc lên cây đèn,
trải trên bàn hay dưới đất theo một thứ tự biến đổi và phức tạp: trong không
đầy nửa giờ, căn phòng tầm thường nhất mặc lấy một nhân cách nặng nề và gợi cảm
hầu như không thể chịu đựng nổi. Có lẽ chiếc va li đã bị lạc mất và đang còn ở
phòng gởi hành lý... Căn phòng lạnh lẽo này, với chiếc cửa mở hé sang phòng rửa
mặt, bao phủ một vẻ gì ảm đạm. Nó giống với căn phòng của tôi ở Bouville, ngoại
trừ tính cách xa hoa và buồn thảm hơn.

Anny vẫn cười. Tôi nhận ngay ra đúng là giọng cười rất cao
và hơi chịt trong lỗ mũi.

“Này, anh đã chẳng thay đổi gì cả: anh đang tìm gì với cái
vẻ mặt hoảng hốt như thế?”

Nàng mỉm cười, nhưng cái nhìn của nàng soi bói tôi với một
vẻ tò mò hầu như đầy ác cảm.

“Anh chỉ nghĩ rằng căn phòng này chẳng có vẻ đang được em
lưu ngụ cả.”

“Thế à?” nàng đáp trổng.

Một khoảng im lặng nữa. Bây giờ Anny đã ngồi xuống giường,
nàng trông rất xanh xao trong chiếc áo dài đen, nàng nhìn chăm tôi, bằng một vẻ
trầm lặng, lông mày hơi nhướng cao lên một tí. Nàng chẳng có gì để nói với tôi
sao? Tại sao nàng lại mời tôi đến? Không khí im lặng này thật khó chịu.

Đột nhiên, tôi bảo nàng giọng thương hại:

“Anh vui mừng gặp lại em.”

Chữ cuối cùng tắc nghẹn trong cuống họng tôi: nếu chỉ để nói
như thế, thì chẳng thà tôi im lặng còn hơn. Chắc chắn nàng sắp sửa nổi giận,
tôi nghĩ rất đúng rằng giờ khắc đầu tiên sẽ rất nhọc nhằn. Xưa kia, khi gặp lại
Anny, dù rằng chỉ sau một thời gian vắng mặt lâu hai mươi bốn tiếng đồng hồ, dù
rằng vào buổi sáng khi thức dậy, chẳng bao giờ tôi biết tìm ra được những lời
nàng đang chờ đợi, những lời thích hợp với chiếc áo nàng đang mặc, với thời
tiết, với những lời cuối cùng chúng tôi đã thốt ra đêm trước. Nhưng mà nàng
đang muốn gì? Quả thật tôi chẳng thể đoán ra.

Tôi nhướng mắt lên. Anny nhìn tôi, thoáng vẻ dịu dàng.

“Vậy ra, anh chẳng thay đổi gì cả? Anh luôn luôn “ngố” thế
sao?”

Khuôn mặt nàng biểu lộ sự thỏa mãn. Nhưng nàng có vẻ nhọc
mệt làm sao!

“Anh là một cột trụ chỉ đường, nàng tiếp, một cây trụ chôn
bên vệ đường. Anh trơ trơ giải thích và anh sẽ dùng cả đời mình để giải thích
rằng Melun cách hai mươi bảy cây số và Montargis cách bốn mươi hai cây. Đó là
lý do vì sao em cần đến anh như thế.”

“Cần đến anh? Em đã cần đến anh trong suốt bốn năm, bốn năm
anh chẳng hề gặp em? Này, em kín đáo thật đấy nhé.”

Tôi vừa nói vừa cười: nàng có thể tưởng rằng tôi đang giữ
lòng oán hận đối với nàng. Tôi cảm thấy nụ cười đó rất giả tạo, gượng gạo tận
miệng, tôi khó chịu.

“Anh quả là ngốc nghếch! Dĩ nhiên, em đã chẳng cần gặp anh,
nếu đấy là điều anh muốn nói. Anh biết chứ, anh tuyệt chẳng có gì đặc biệt làm
vui thích mắt nhìn. Em đang cần anh hiện hữu, và anh không thay đổi. Anh tựa
như chiếc thước mẫu bằng bạch kim mà người ta bảo tồn đâu đó tại Ba Lê hay các
vùng phụ cận. Em chẳng nghĩ rằng có kẻ lại nảy ra ý muốn nhìn thấy nó.”

“Đấy là điều làm em lầm lẫn.”

“Rốt cuộc, chẳng quan hệ gì, em không lầm đâu. Này, em hài
lòng được biết rằng nó hiện hữu và đo đúng một phần mười ngàn của một phần tư
kinh tuyến trái đất. Em nghĩ đến điều đó mỗi lần người ta đo đạc trong một ngôi
nhà hay bán vải từng thước cho em.”

“Thế à?” tôi lạnh nhạt bảo.

“Nhưng anh biết, em rất có thể chỉ nghĩ đến anh như nghĩ đến
một đức hạnh trừu tượng, một loại giới hạn. Anh phải cám ơn em vì em cứ nhớ gợi
khuôn mặt anh mỗi lần.”

Vậy là những cuộc tranh luận dẳng dai mà ngày xưa nàng
thường bắt tôi tham dự đã tái diễn, khi trong lòng tôi có những thèm muốn đơn
giản và tầm thường, như bảo nàng rằng tôi yêu nàng, như ôm nàng trong đôi tay.
Ngày hôm nay, tôi chẳng thèm muốn, khát khao gì. Có lẽ ngoại trừ nỗi thèm muốn
được im lặng nhìn ngắm nàng, nỗi thèm muốn được thể hiện trong im lặng tất cả
tầm quan trọng của biến cố dị thường đang diễn ra: sự hiện diện của Anny trước
mặt tôi. Và đối với Anny, ngày này có giống với những ngày khác chăng? Đôi bàn
tay nàng không run rẩy. Hẳn nàng phải có một điều gì cần nói vào ngày nàng viết
thư cho tôi - hoặc có lẽ, đấy chỉ là một hứng thích nhất thời, bất chợt. Hiện
giờ, chẳng có câu hỏi nào được thốt lên, từ khá lâu.

Đột nhiên Anny mỉm cười với tôi bằng một vẻ dịu dàng rõ rệt,
đến độ nước mắt dâng lên trên mắt tôi.

“Em đã nhìn đến anh nhiều hơn là đến chiếc thước bằng bạch
kim. Chẳng có ngày nào em lại không nghĩ đến anh. Và em nhớ anh rõ rệt cho đến
cả chi tiết nhỏ nhặt nhất của con người anh.”

Nàng đứng dậy và đến đặt tay trên vai tôi.

“Em đố anh dám nói rằng anh nhớ mặt em; anh, người thường
phàn nàn than vãn.”

“Thật quỷ quyệt, tôi bảo, em biết rõ rằng trí nhớ anh tồi
lắm.”

“Anh vừa thú nhận đấy nhé: anh đã hoàn toàn quên em. Anh sẽ
nhận ra được em ngoài phố không?”

“Dĩ nhiên là có. Không phải vấn đề đó đâu.”

“Anh còn nhận ra nổi màu tóc em không?”

“Còn chứ! Tóc em hoe vàng.”

Nàng cười rũ ra.

“Anh bảo thế một cách kiêu hãnh. Bây giờ, khi đã nhìn thấy
tóc em, anh chẳng còn công lao gì nhiều nữa đâu.”

Nàng dùng tay quét tóc tôi.

“Còn anh, tóc anh màu đỏ hoe, nàng nhại lại tôi; lần đầu khi
gặp anh, em chẳng bao giờ quên được - anh đội một chiếc mũ mềm xìu ngả sang màu
hoa cà, trông thật chối mắt với bộ tóc hoe đỏ của anh. Quả rất bực dọc khi nhìn
anh. Mũ anh đâu rồi? Em muốn biết anh có luôn luôn kém “gu” như thế không.”

“Anh chẳng đội mũ nữa.”

Nàng thổi nhẹ một hơi, vừa hé mắt nhìn.

“Anh đã không tự lực nhận ra điều ấy một mình đấy chứ? Này,
em ngợi khen anh đó. Dĩ nhiên! Duy có điều, phải nghĩ đến nó. Mái tóc anh chẳng
đội gì lên được đâu, chúng tương phản với mọi kiểu mũ, với những đệm ghế bành,
ngay cả với tấm thảm trải tường dùng làm “phông”. Hoặc giả anh phải ấn mũ xuống
tận mang tai in như chiếc mũ nỉ anh đã mua ở Luân Đôn. Anh thu giấu tóc mình
dưới mũ, chẳng ai có thể biết được nữa là anh còn tóc hay không.”

Nàng nói thêm, bằng cái giọng quả quyết nàng thường dùng kết
thúc những lần gây gổ trước đây:

“Nó hoàn toàn chẳng đi đôi với anh chút nào”. Tôi chẳng biết
là nàng đang có ý muốn nói đến chiếc mũ nào nữa.

“Nếu như anh bảo rằng nó “đi” với anh?”

“Em tin chắc là anh nói thế! Anh chỉ chuyên môn nói thế
thôi. Và anh tự ngắm mình một cách lén lút trong những chiếc gương, khi anh
tưởng rằng em không nhìn thấy anh.”

Sự hiểu biết về quá khứ này đè nặng lên tôi. Anny cũng chẳng
tỏ vẻ gì đang gợi lại những kỷ niệm, giọng nói nàng chẳng có âm độ làm động
lòng và xa vắng, thích hợp với loại chuyện đó. Tuồng như nàng đang nói về những
chuyện xảy ra ngày hôm nay, hay nhiều nhất là hôm qua; nàng đã duy trì trọn vẹn
những ý kiến, những sự ương ngạnh, những mối ác cảm, ghét hận ngày xưa. Đối với
tôi, trái lại, tất cả đều chìm ngập trong một tình trạng mơ hồ thơ mộng; tôi
sẵn sàng cho mọi nhượng bộ.

Đột nhiên nàng thốt ra bằng một giọng không âm điệu:

“Anh thấy chứ, em đã béo ra, em đã già, em phải tự săn sóc
đến mình.”

Vâng, và nàng có vẻ mỏi mệt làm sao! Vì thấy tôi muốn nói,
nàng lập tức thêm:

“Em đã diễn kịch, tại Luân Đôn.”

“Với Candler à?”

“Không, không phải với Candler. Em đã nhận ra đúng là anh.
Anh cứ cố nhét vào đầu óc ý nghĩ rằng em sẽ diễn kịch với Candler. Biết bao
nhiêu lần rồi em phải bảo anh: Candler là một nhạc trưởng! Không, em diễn trong
một hí viện nhỏ, Soho Square. Tại đó người ta cho trình diễn vở Emperor
Jones
, các vở kịch của Sean O'Casey, của Synge, và vở Britannicus.”

Britannicus?” tôi ngạc nhiên hỏi lại.

“Vâng, Britannicus. Chính vì thế mà em đã
bỏ đi. Chính em là người đưa ý kiến dựng vở Britannicus; và họ đã
muốn em thủ vai Junie.”

“Em nhận chứ?”

“Dĩ nhiên là em chỉ có thể thủ vai Agrippine thôi.”

“Và hiện giờ, em đang làm gì?”

Tôi đã lầm lẫn khi hỏi thế. Sự sống rút lui toàn diện khỏi
gương mặt nàng. Tuy nhiên, nàng trả lời ngay:

“Em chẳng diễn kịch nữa. Em đi du lịch. Có một gã đang “bao”
em. Vả lại, đấy là một lão già, lão chẳng làm em bực mình.”

“Một lão người Anh chắc?”

“Chuyện đó có ăn thua gì đến anh cơ chứ? Nàng bực dọc hỏi.
Chúng ta sẽ không nói về lão đó nữa. Lão chẳng quan trọng gì cả đối với anh lẫn
em. Anh dùng trà không?”

Nàng bước vào phòng rửa mặt. Tôi nghe nàng đi đi lại lại,
lay động những son quánh và nói một mình; một lời thầm thì the thé và khó hiểu.
Trên chiếc bàn đêm gần giường nàng, như thường lệ, có một quyển Lịch Sử Pháp
Quốc của Michelet. Bên trên giường, bây giờ tôi mới nhận rõ nàng đã treo một
tấm ảnh, tấm ảnh độc nhất, một bản sao lại chân dung Emily Bronté do anh của nữ
văn sĩ họa.

Anny trở lại và đột ngột bảo tôi:

“Bây giờ, phải nói về anh cho em nghe.”

Đoạn nàng lại biến dạng vào phòng rửa mặt. Về chuyện đó thì
mặc dù trí nhớ rất tồi, tôi vẫn nhớ rõ: nàng đặt ra những câu hỏi trực tiếp như
thế, làm tôi quá đỗi bực bội, bởi vì tôi cảm thấy trong những câu hỏi đó vừa
biểu lộ một sự chú tâm thành thực, vừa lòng ham muốn kết thúc nó càng chóng
càng hay. Dù sao, sau câu hỏi, tôi chẳng còn được phép nghi ngờ gì nữa: nàng muốn
một điều gì đó nơi tôi. Lúc này, mới chỉ là những giai đoạn sơ bộ: người ta tự
tháo gỡ ra khỏi những gì có thể gây bực bội; người ta vĩnh viễn thanh toán với
những cậu hỏi thứ yếu; “Bây giờ, phải nói về anh cho em nghe”. Chốc nữa đây,
nàng sẽ nói cho tôi nghe về nàng. Đột nhiên, tôi chẳng muốn thuật lại với nàng
bất cứ điều chi. Nào có ích gì? Cơn Buồn Nôn, sự sợ hãi, hiện hữu... Tốt hơn
tôi nên giữ riêng cho mình tất cả những thứ đó.

“Nào, nhanh đi”, nàng kêu lên xuyên qua vách ngăn.

Nàng trở lại với một bình trà.

“Anh đang làm gì thế? Anh hiện ở Ba Lê?”

“Anh đang ở Bouville.”

“Bouville? Tại sao? Anh chưa cưới vợ chứ, em hy vọng thế?

“Cưới vợ?” tôi giật mình hỏi nàng.

Tôi rất khó chịu khi thấy Anny có thể nghĩ đến điều ấy. Tôi
bảo cho nàng biết.

“Thật phi lý. Đấy thuần là những cái thứ tưởng tượng chất
phác mà em đã trách anh ngày xưa. Em biết chứ: khi anh tưởng tượng em góa bụa
và là mẹ của hai đứa bé. Và tất cả những câu chuyện mà anh đã thuật cho em về
tình trạng của chúng ta. Em ghét chuyện đó mà.”

“Còn anh thì anh thỏa thích với nó, nàng trả lời không chút
bối rối. Anh nói thế để làm vẻ mạnh. Vả lại anh giận dữ như thế trong khi chúng
ta đàm đạo, nhưng anh có đủ phản bội để một ngày kia lén lút cưới vợ. Trong
suốt một năm, anh đã giận dữ phản đối rằng sẽ không đi xem phim “Violettes
Impériales
”. Rồi ngày nọ, khi em bệnh, anh đã một mình đi xem phim đó ở một
rạp nhỏ trong khu phố.”

“Anh đang ở Bouville, vì anh đang viết một cuốn sách về hầu
tước De Rollebon”, tôi nói bằng giọng nghiêm trang.

Anny nhìn chăm tôi với một vẻ thích thú đầy chăm chú.

“Hầu tước De Rollebon? Ổng sống vào thế kỷ XVIII chắc?”

“Phải”.

“Anh đã nói với em về chuyện đó, quả thế, nàng bảo một cách
trống không. Đấy là một cuốn sách lịch sử?”

“Vâng”.

“Ha! Ha!”

Nếu nàng đặt thêm cho tôi một câu hỏi nữa, chắc tôi sẽ thuật
lại hết mọi chuyện với nàng. Song nàng chẳng hỏi thêm gì. Bề ngoài nàng cho
rằng đã hiểu biết khá đầy đủ về tôi. Anny rất biết lắng nghe, nhưng chỉ khi nào
nàng muốn. Tôi nhìn nàng: nàng đã hạ thấp mi mắt xuống, nàng đang nghĩ đến
chuyện sắp nói với tôi, đến cái cách thức nàng sẽ bắt đầu. Đến phiên tôi, tôi
có phải đặt câu hỏi cho nàng không? Tôi không tin rằng nàng chịu để tâm đến
những lời tôi hỏi. Nàng sẽ nói khi nào nàng cho là nên nói. Tim tôi đập thật
mạnh.

Đột nhiên nàng bảo:

“Còn em, em đã thay đổi.”

Đấy là khởi đầu. Nhưng rồi nàng im lặng. Nàng pha trà trong
những chiếc tách bằng sứ trắng. Nàng đang chờ tôi mở lời: tôi phải nói lên điều
gì, mà phải đúng ngay điều nàng đang chờ đợi. Tôi đang bị khổ hình. Quả thật
nàng đã thay đổi chăng? Nàng đã béo ra, nàng đã có vẻ mệt mỏi: chắc chắn đấy
không phải là điều nàng muốn nói.

“Anh không biết nữa, anh không nhận ra. Anh đã tìm gặp lại
được nụ cười của em, cách thức em đứng dậy và đặt tay lên vai anh, chứng hay
lẩm bẩm một mình của em. Em luôn luôn đọc quyển Lịch Sử của Michelet. Và rồi
thì một lô những chuyện khác...”

Mối chú tâm sâu xa mà nàng dành cho cái yếu tính vĩnh cửu
của tôi và sự dửng dưng hoàn toàn của nàng đối với tất cả những gì có thể xảy
đến cho tôi trong cuộc sống - và rồi là cái tính chất cầu kỳ quái dị, vừa thông
thái rởm, vừa duyên dáng - và rồi, cái cách thức bãi bỏ ngay từ đầu tất cả
những định thức máy móc của phép xã giao thân hữu, tất cả những gì làm dễ dàng
những mối tương quan giữa người với nhau, cái cách thức bó buộc những người đối
thoại với mình phải luôn luôn sáng tạo, bày đặt ra những gì mới lạ.

Nàng nhún vai:

“Có chứ, em đã thay đổi, nàng bảo với giọng khô khan, em đã
hoàn toàn thay đổi. Em chẳng còn y như trước nữa. Em đã nghĩ rằng anh đã nhận ra
ngay lúc mới gặp nhau. Và anh lại vừa đem nói với em về cuốn Lịch Sử của
Michelet”.

Nàng đến đứng im trước mặt tôi:

“Chúng ta sẽ xem thử anh chàng này quả có mạnh như anh ta
thường tự hào không. Nào, tìm đi: em đã thay đổi ở những điểm nào?”

Tôi do dự, nàng giậm chân, miệng vẫn còn mỉm cười nhưng đã
thực sự bực mình,

“Ngày xưa, cũng có một điều gì làm anh phải than vãn. Hay ít
ra anh cũng cho là như thế. Và bây giờ mọi chuyện đều kết thúc, mất tăm. Anh
phải nhận ra điều đó. Anh có còn cảm thấy dễ chịu nữa hay không?”

Tôi chẳng dám trả lời rằng không: hệt như ngày xưa, tôi đang
ghé mông ngồi trên ghế, lo lắng tìm cách lẩn tránh những cạm bẫy, làm khuây
những cơn giận dữ khó giải thích của nàng.

Nàng đã ngồi xuống lại.

“Này, nàng vừa nói vừa gục gặc đầu với vẻ tin tưởng chắc
chắn, nếu như anh không hiểu, thì đấy là vì anh đã quên mất nhiều điều. Nhiều
hơn em tưởng nữa. Sao, anh chẳng còn nhớ gì hết về những hành động ác đức của
anh ngày xưa à? Anh đến, anh nói, anh bỏ đi. Tất cả đều vào một lúc trái cựa. Anh
hãy tưởng tượng rằng đã chẳng có gì thay đổi cả: anh bước vào phòng, sẽ có
những mặt nạ, những khăn quàng treo trên tường, em sẽ ngồi trên giường và sẽ
bảo anh (nàng ngả đầu ra sau, thở căng lỗ mũi và nói bằng giọng phường tuồng,
như để tự chế nhạo chính mình): “Sao?” Anh còn chờ gì nữa? Ngồi xuống đi”. Và
dĩ nhiên là em sẽ cẩn thận tránh bảo anh: “Trừ trên chiếc ghế bành gần cửa sổ.”

“Em đang giăng bẫy anh.”

“Không phải là những cạm bẫy đâu... Dĩ nhiên là lúc ấy, về
phần anh, sẽ đi thẳng đến ngồi lên chiếc ghế.”

“Và rồi chuyện gì sẽ xảy đến cho anh?”

Tôi vừa hỏi vừa quay lại và tò mò quan sát chiếc ghế bành.

Báo cáo nội dung xấu