Những đêm ở Rodanthe - Chương 01 - 02

1

Ba năm trước, vào một buổi sáng ấm áp tháng Mười Một năm
1999, Adrienne Willis quay trở về Nhà Nghỉ và thoạt nhìn đã nghĩ rằng nó không
hề thay đổi, như thể ngôi nhà nhỏ bé ấy không chịu ảnh hưởng gì của nắng, cát
hay sương muối. Cánh cổng vòm vừa được sơn mới, những cánh cửa chớp đen bóng ở
hai bên ô cửa sổ chữ nhật buông rèm trắng trên cả hai tầng lầu trông như những
phím đen của cây dương cầm. Bao lơn bằng gỗ tuyết tùng mang một màu trắng tuyết
bụi bặm. Ở hai bên ngôi nhà, lớp lớp sóng yến mạch rì rào lời chào đó, và những
đụn cát uốn lượn cứ lặng lẽ biến đổi mỗi ngày theo bước chuyển của từng hạt
cát.

Với vầng mặt trời lơ lửng giữa những đám mây, không khí phát
sáng như thể những hạt ánh sáng đã ngưng đọng trong lớp sương, và trong một
khoảnh khắc Adrienne cứ ngỡ nàng đã quay ngược lại thời gian. Nhưng khi nhìn kỹ
hơn, nàng dần nhận ra những thay đổi mà lớp tô vẽ bên ngoài không thể che giấu:
vết mục ở góc các cửa sổ, những vết gỉ sét chạy dọc theo mái nhà, vệt nước đã
khô gần ống máng. Căn Nhà Nghỉ có vẻ đang xuống cấp dần, và dù biết nàng không thể
làm gì để thay đổi điều đó, Adrienne nhớ rằng khi ấy nàng đã nhắm mắt, như thể
chỉ cần chớp mắt là kỳ diệu thay nàng có thể đưa nó về như ngày trước.

Giờ đây, Adrienne đang đứng giữa căn bếp trong ngôi nhà của
chính mình, khi đã bước sang tuổi sáu mươi được vài tháng. Nàng gác ống nghe
sau cuộc nói chuyện với con gái, rồi ngồi xuống bên bàn bếp, hồi tưởng lại
chuyến thăm gần đây nhất tới Nhà Nghỉ, nhớ về kỳ cuối tuần dài nàng đã ở đó. Dù
ngần ấy năm đã trôi qua với nhiều chuyện xảy ra kể từ ngày đó, Adrienne vẫn một
lòng tin rằng tình yêu là điều thiết yếu của một cuộc sống hạnh phúc và trọn
vẹn.

Nhà chỉ có một mình nàng. Các con nàng đã trưởng thành, cha
nàng đã qua đời vào năm 1996, và nàng đã ly dị với Jack được mười bảy năm. Dù
thỉnh thoảng các con trai vẫn giục nàng tìm lấy một người để chung sống những
năm còn lại, Adrienne không hề muốn làm vậy. Không phải nàng chán ghét đàn ông,
mà ngược lại, đến tận lúc này đôi khi nàng vẫn thấy mình dõi mắt theo những
người đàn ông trẻ hơn mình trong siêu thị. Có những khi họ chỉ hơn các con nàng
vài tuổi, nên nàng tò mò không hiểu họ sẽ nghĩ gì khi phát hiện ra nàng đang
nhìn họ. Liệu họ có gạt phắt không thèm để ý đến nàng? Hay họ sẽ mỉm cười lại
với nàng, thấy sự quan tâm của nàng đối với họ có nét gì đó hấp dẫn? Nàng không
rõ. Và nàng cũng không biết liệu họ có thể nhìn thấu qua mái tóc bạc và những
nếp nhăn của nàng để thấy người phụ nữ từng là nàng ngày xưa hay không.

Không hẳn là nàng hối tiếc vì đã già đi. Ngày nay người ta
cứ nói mãi về ánh hào quang của tuổi trẻ, nhưng Adrienne không hề mong muốn
được trẻ lại. Về tuổi trung niên thì có thể, nhưng trẻ hẳn thì không. Quả thật
nàng có tiếc nuối một vài điều, như có thể chạy bổ lên cầu thang, mang nhiều
hơn một túi đồ mỗi lần, hay có đủ sức chạy theo lũ cháu khi chúng nô đùa quanh
sân, nhưng nàng sẵn sàng đổi những điều đó lấy những kinh nghiệm mà nàng có, và
những điều chỉ có được cùng với tuổi tác. Chính việc nhìn lại đời mình và nhận
ra rằng mình sẽ không thay đổi gì nhiều nếu có quay lại khiến gần đây giấc ngủ
đến với nàng thật dễ dàng.

Hơn nữa, tuổi trẻ cũng có những vấn đề riêng của nó. Nàng
không chỉ nhớ được những chuyện đó từ chính đời mình, mà còn trông thấy các con
nàng vật lộn qua những nỗi lo của tuổi thiếu niên và sự bất an cùng những rắc
rối của tuổi đôi mươi. Dù hai đứa giờ đã ngoài ba mươi, và một đứa cũng sắp vào
tuổi đó, đôi khi nàng vẫn tự hỏi liệu đến khi nào vai trò người mẹ mới thôi
chiếm trọn thời gian của nàng.

Matt đã ba mươi hai tuổi, Amanda ba mươi mốt, còn Dan vừa
sang tuổi hai mươi chín. Cả ba đều đã tốt nghiệp đại học, điều đó khiến nàng tự
hào, vì đã từng có lúc nàng không chắc có đứa nào vào được đại học hay không.
Chúng là những con người thành thật, tốt bụng và tự lập, và thường thì đó là
tất cả những điều nàng mong muốn ở chúng. Matt làm kế toán, còn Dan là phát
thanh viên mục thể thao cho chương trình tin tức buổi tối ở Greenville, cả hai đều đã
yên bề gia thất. Nàng nhớ rằng khi chúng về thăm nàng vào lễ Tạ ơn, nàng đã
ngồi lui ra một bên ngắm chúng tất bật quanh lũ con, cảm thấy hài lòng một cách
lạ lùng với tình trạng hiện giờ của hai con trai nàng.

Như thường lệ, mọi chuyện luôn ít nhiều phức tạp hơn đối với
con gái nàng.

Khi Jack dọn ra khỏi nhà, lũ trẻ đang ở tuổi mười bốn, mười
ba và mười một, và mỗi đứa trẻ có cách phản ứng khác nhau với vụ ly dị. Matt và
Dan trút giận lên các môn thể thao và đôi khi gây gổ ở trường học, nhưng Amanda
là người bị ảnh hưởng nhiều nhất. Là đứa con thứ hai trong nhà, kẹp giữa hai
anh em trai, nó luôn là đứa nhạy cảm nhất, và ở tuổi thiếu niên, nó cần người
cha trong nhà để tránh bớt những cái nhìn lo lắng từ người mẹ. Nó bắt đầu mặc
những thứ Adrienne cho là giẻ rách, giao du với một bọn đi chơi về muộn, và thề
thốt rằng mình đang yêu say đắm ít nhất là một tá con trai đủ loại trong vài
năm sau đó. Sau giờ học, nó ngồi trong phòng hàng giờ, nghe thứ nhạc làm tường
nhà rung bần bật, phớt lờ tiếng mẹ gọi xuống ăn tối. Có những giai đoạn nó hầu
như không nói một lời với mẹ và các anh em trong mấy ngày liền.

Phải mất đến vài năm, nhưng cuối cùng Amanda cũng tìm được
đường đi cho mình, dần bước vào cuộc sống ổn định, một cuộc sống với cuộc sống
mà Adrienne từng có đến kỳ lạ. Con bé gặp Brent ở trường đại học, và chúng cưới
nhau sau khi tốt nghiệp rồi có hai đứa con trong vòng mấy năm sau đám cưới. Giống
như nhiều cặp mới cưới khác, hai vợ chồng phải vật lộn với vấn đề tài chính,
nhưng Brent là một người cẩn thận khác hẳn với Jack. Ngay sau khi sinh đứa con
đầu lòng, Brent đã mua bảo hiểm nhân thọ để phòng xa, dù cả hai đều nghĩ còn
lâu nữa mới phải cần đến khoản bảo hiểm đó.

Nhưng chúng đã nhầm.

Brent qua đời đến nay đã được tám tháng, là nạn nhân của căn
bệnh ung thư tinh hoàn quái ác. Adrienne đã chứng kiến Amanda chìm sâu vào
tuyệt vọng, và chiều hôm qua, lúc đưa lũ cháu về sau khi chơi với chúng, nàng
thấy rèm cửa trong nhà kéo kín, đèn trước cửa vẫn sáng, còn Amanda mặc áo
choàng ngủ ngồi ở phòng khách với vẻ mặt vô hồn đúng như vẻ mặt của nó hôm lễ
tang.

Chính khi đó, đứng trong phòng khách nhà Amanda, Adrienne
biết rằng đã đến lúc nàng kể cho con gái nghe về quá khứ.

Mười bốn năm. Chừng ấy thời gian.

Trong suốt bằng ấy năm, Adrienne chỉ kể chuyện đã xảy ra cho
một người duy nhất, nhưng cha nàng đã mất đem theo bí mật đó, không thể kể cho
ai nữa dù ông có muốn.

Mẹ nàng qua đời khi Adrienne ba mươi lăm tuổi, và dù tình
cảm mẹ con tốt đẹp, nàng vẫn luôn gần gũi với cha hơn. Đến giờ nàng vẫn nghĩ
ông là một trong hai người đàn ông trên đời thực sự hiểu nàng, và giờ khi ông
không còn nữa, nàng nhớ ông vô cùng. Cuộc đời của ông là điển hình cho nhiều
con người ở cùng thế hệ. Học nghề thay vì học đại học, ông đã làm việc bốn mươi
năm trong một nhà máy sản xuất đồ nội thất với mức lương theo giờ cứ đến tháng
Một hằng năm lại tăng thêm vài đồng. Ông đội mũ mềm ngay cả vào những tháng mùa
hè nóng bức, mang theo bữa trưa trong một chiếc hộp có bản lề kêu cọt kẹt, và
rời nhà vào đúng sáu giờ bốn mươi lăm phút mỗi sáng để đi bộ một dặm rưỡi tới
nơi làm việc.

Hằng tối sau khi dùng xong bữa, ông thường mặc một chiếc áo
khoác len mỏng ngoài áo sơ mi dài tay. Chiếc quần nhàu nhĩ tạo cho bề ngoài của
ông cái vẻ tuềnh toàng mà năm tháng trôi qua lại càng rõ nét, nhất là sau khi
vợ qua đời. Ông thích ngồi trên chiếc ghế tựa giản dị với ngọn đèn vàng bên
cạnh, đọc sách báo viết về Thế Chiến II. Trong mấy năm cuối trước khi ông bị
đột quỵ, cặp kính mắt lỗi thời, cặp lông mày rậm cùng khuôn mặt hằn sâu những
nếp nhăn của ông khiến ông trông giống một giáo sư đại học đã về hưu hơn là một
công nhân cổ xanh.

Ở cha nàng có cái vẻ bình yên mà nàng luôn ước ao có được.
Nàng thường nghĩ ông sẽ trở thành một cha xứ hay linh mục tốt, và những người
gặp ông lần đầu thường mang theo ấn tượng khi rời khi rằng ông rất bình thản
với bản thân mình và với cuộc đời. Ông là một người có tài lắng nghe thiên bẩm,
với cằm tựa trên tay, ông không bao giờ rời mắt khỏi khuôn mặt người nói, vẻ
mặt ông thể hiện sự thấu hiểu, lòng kiên nhẫn, vẻ hài hước và cả nỗi buồn.
Adrienne ước gì có ông ở đây cho Amanda ngay lúc này; ông cũng đã từng mất
người bạn đời, và nàng nghĩ Amanda sẽ nghe lời ông nói, vì ông biết việc đó khó
khăn như thế nào.

Một tháng trước, khi Adrienne thử nhẹ nhàng nói chuyện với
Amanda về những gì nó đang phải trải qua, Amanda đã giận dữ lắc đầu rồi đứng
dậy khỏi bàn.

“Chuyện này không giống như bố và mẹ,” con bé nói. “Bố mẹ
không giải quyết được mâu thuẫn nên hai người ly dị. Nhưng con yêu Brent. Con
sẽ luôn yêu Brent, và con đã mất anh ấy rồi. Mẹ không hiểu được phải trải qua
chuyện này là như thế nào đâu.”

Adrienne không nói gì, nhưng khi Amanda rời khỏi phòng,
Adrienne cúi đầu và thầm thì một từ duy nhất.

Rodanthe.

Dù thông cảm với con gái nàng, nàng vẫn rất lo lắng cho các
con của Amanda. Max mới sáu tuổi, còn Greg lên bốn, và trong tám tháng qua,
Adrienne đã nhận thấy những thay đổi rõ rệt trong tính cách của chúng. Cả hai
trở nên lặng lẽ và thiếu hòa đồng một cách khác thường. Không đứa nào chơi bóng
đá suốt mùa thu vừa rồi, và dù Max vẫn ngoan khi ở nhà trẻ nhưng sáng nào trước
khi đi nó cũng khóc. Greg lại bắt đầu đái dầm trở lại và sẵn sàng nổi cơn tam
bành vì những điều không vừa lòng nhỏ nhất. Một phần những thay đổi này là vì
mất cha, Adrienne biết, nhưng chúng cũng phản ánh con người Amanda đã biến
thành kể từ mùa xuân trước đến nay.

Nhờ có khoản bảo hiểm, Amanda không phải đi làm. Dù vậy,
trong mấy tháng đầu sau khi Brent mất, hầu như ngày nào Adrienne cũng ở nhà con
gái để thu xếp các hóa đơn và nấu ăn cho lũ trẻ, trong khi Amanda ngủ và khóc
trong phòng. Nàng ôm con gái mỗi khi Amanda cần, lắng nghe khi Amanda muốn nói
chuyện, và bắt con gái ra ngoài đi dạo ít nhất hai tiếng mỗi ngày, tin rằng
không khí trong lành sẽ nhắc con bé rằng nó có thể bắt đầu sống trở lại.

Adrienne đã tưởng rằng con gái nàng đang khá dần lên. Đến
đầu mùa hè, Amanda bắt đầu cười trở lại, ban đầu chỉ thỉnh thoảng, rồi thường
xuyên hơn. Nó vào thành phố chỉ vài lần, đưa bọn trẻ đi trượt pa-tanh, và
Adrienne bắt đầu rút dần khỏi những nhiệm vụ nàng đang gánh vác. Nàng biết rằng
quan trọng là phải để Amanda tiếp tục chịu trách nhiệm với cuộc đời mình.
Adrienne đã học được rằng niềm an ủi có thể đến từ vòng quay thường nhật của
cuộc sống; nàng hy vọng Amanda cũng sẽ phải nhận ra điều đó khi nàng bớt dần sự
hiện diện của mình trong cuộc sống của con.

Nhưng đến tháng tám, vào ngày đáng lẽ sẽ là kỷ niệm bảy năm
ngày cưới, Amanda đã mở tủ quần áo trong phòng ngủ, nhìn thấy bụi bám trên vai
áo của Brent, và đột nhiên thôi khá lên. Không hẳn là nó suy sụp đi, vẫn có
những lúc nó trở lại là chính mình, nhưng phần lớn thời gian nó dường như đóng
băng giữa hai trạng thái. Nó không trầm uất cũng không vui vẻ, không sôi nổi
cũng không uể oải, không hứng thú cũng không buồn chán với bất cứ điều gì xung
quanh. Theo cảm nhận của Adrienne, dường như Amanda tin rằng việc sống tiếp sẽ
xóa mờ ký ức về Brent, và nó đã quyết định không cho phép điều đó xảy ra.

Nhưng thế là không công bằng với bọn trẻ. Chúng cần sự chỉ
dẫn và tình yêu của mẹ, cần sự quan tâm của mẹ. Chúng cần con bé nói với chúng
rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn cả. Chúng đã mất cha và chỉ riêng điều đó đã rất khó
khăn. Nhưng gần đây, Adrienne thấy dường như chúng đã mất luôn cả mẹ.

Trong không gian được thắp sáng dịu dàng của căn bếp,
Adrienne liếc nhìn đồng hồ. Theo đề nghị của nàng, Dan đã đưa Max và Greg đi
xem phim để nàng có riêng buổi tối với Amanda. Cũng như Adrienne, cả hai con
trai nàng đều lo lắng cho các con của Amanda. Chúng không chỉ cố gắng chơi đùa
với bọn trẻ nhiều hơn, mà gần như trong mọi cuộc nói chuyện gần đây với
Adrienne chúng luôn bắt đầu hoặc kết thúc với cùng một câu hỏi: Chúng
ta phải làm gì đây?

Hôm nay, khi Dan hỏi lại câu hỏi đó, Adrienne đã trấn an nó
rằng nàng sẽ nói chuyện với Amanda. Dù Dan có vẻ hoài nghi – chẳng phải họ đã
cố gắng làm việc đó suốt đấy ư? – nhưng nàng biết, tối nay sẽ khác.

Adrienne không ảo tưởng gì về suy nghĩ bọn trẻ dành cho
nàng. Đúng là chúng yêu nàng và kính trọng nàng như một người mẹ, nhưng nàng
biết chúng sẽ không bao giờ thực sự hiểu nàng. Trong mắt các
con, nàng tốt tính nhưng dễ đoán, hiền dịu và ổn định, một tâm hồn thân thiện
từ một thời đại khác, suốt cuộc đời sống với cái nhìn ngây thơ về một thế giới
toàn vẹn. Bề ngoài của nàng phần nào đúng như vậy, tất nhiên – những đường gân
xanh bắt đầu nổi lên trên mu bàn tay, thân hình đã nghiêng về hình vuông chứ
không còn dáng thon thả đồng hồ cát, và kính mắt mỗi năm dày thêm lên – nhưng
khi nàng thấy các con nhìn mình với vẻ mặt như đang muốn trêu chọc, đã có lúc
nàng phải cố nén phá lên cười.

Nàng biết, một phần của sự nhầm lẫn ấy bắt nguồn từ việc
chúng mong muốn được nhìn nàng theo một khuôn mẫu nào đó, một hình ảnh chúng
thấy dễ chấp nhận ở một người phụ nữ ở tuổi nàng. Sẽ dễ dàng hơn, và thành thật
mà nói, sẽ thoải mái hơn cho chúng, khi nghĩ rằng mẹ chúng là một người điềm
đạm chứ không liều lĩnh, một con người cần mẫn chăm chỉ chứ không phải con
người với những trải nghiệm có thể làm chúng ngạc nhiên. Và trong khi đóng vai
trò người mẹ tốt bụng, dễ đoán, hiền dịu và ổn định của mình, nàng không hề
muốn làm chúng thay đổi ý nghĩ.

Biết rằng Amanda sẽ đến bất kỳ lúc nào, Adrienne ra tủ lạnh
lấy một chai pinot grigio đặt lên bàn. Từ lúc chiều xuống nhà bắt đầu lạnh dần,
nên trên đường đến phòng ngủ nàng bật máy sưởi lên.

Căn phòng ngủ từng là của nàng và Jack, giờ đây là của một
mình nàng, đã được trang trí lại hai lần kể từ vụ ly dị. Adrienne bước đến
chiếc giường khung nàng vẫn luôn muốn có từ khi còn trẻ. Đặt sát chân tường
dưới gầm giường là một hộp đựng thư nhỏ, và Adrienne đặt nó lên chiếc gối bên
cạnh.

Trong hộp là những thứ nàng đã lưu giữ: lời nhắn anh để lại
Nhà Nghỉ, tấm ảnh của anh chụp ở phòng khám, và lá thư nàng nhận được một vài
tuần trước Giáng sinh. Nằm dưới những thứ đó là hai chồng thư bó gọn, kẹp giữa
là một vỏ ốc xà cừ họ nhặt được trên bờ biển.

Adrienne đặt tờ giấy ghi lời nhắn qua một bên và rút ra một
chiếc phong bì từ một chồng thư, nhớ lại cảm giác khi nàng đọc nó lần đầu
tiên, rồi nàng rút lá thư ra. Nó đã nóng và giòn đi, và dù màu mực đã phai sau
nhiều năm kể từ khi anh viết, lời của anh vẫn còn rõ ràng.

Adrienne yêu dấu,

Anh vốn không giỏi viết thư, nên anh hy vọng em sẽ thứ
lỗi cho anh nếu anh không diễn đạt được rõ ý mình.

Sáng nay đến nơi trên lưng một con lừa, tin hay không tùy
em, và tìm ra nơi mình sẽ ở trong một thời gian. Anh ước gì có thể nói với em
rằng nơi này tốt hơn anh tưởng tượng, nhưng thành thật mà nói, anh không thể.
Phòng khám thiếu thốn gần như mọi thứ - thuốc thang, thiết bị và giường bệnh –
nhưng anh đã nói chuyện với giám đốc và anh nghĩ mình sẽ có thể ít nhiều khắc
phục được vấn đề. Họ có một cái máy phát điện, nhưng không có cái điện thoại
nào, nên anh sẽ không thể gọi điện được cho đến khi anh tới Esmeraldas. Nơi đó
cách đây tới vài ngày đi xe, và chuyến xe cấp nhu yếu phẩm tiếp theo phải mấy
tuần sau mới mới. Anh xin lỗi vì điều đó, nhưng anh nghĩ chúng ta đều đã lường
trước được sự tình.

Anh vẫn chưa gặp Mark. Nó đang ở một phòng khám ngoại vi
trên núi và phải tối muộn hôm nay mới về. Anh sẽ cho em biết chuyện ra thế nào,
nhưng ngay từ đầu anh cũng không trông đợi gì nhiều lắm. Như em đã nói, anh
nghĩ bố con anh cần thời gian để hiểu nhau trước khi giải quyết vấn đề giữa cả
hai.

Anh thậm chí không đếm xuể số bệnh nhân mình gặp hôm nay
nữa. Anh đoán phải trên một trăm. Lâu lắm rồi anh không gặp những bệnh nhân như
thế này và với những kiểu bệnh này, nhưng cô y tá rất nhiệt tình, ngay cả khi
anh có vẻ lúng túng. Anh nghĩ việc anh chịu đến nơi này đã khiến cô ấy rất biết
ơn rồi.

Kể từ khi anh đi anh cứ nghĩ về em suốt, tự hỏi vì sao
hành trình anh đang đi dường như đã dẫn tới em. Anh biết hành trình của mình
vẫn chưa kết thúc, và rằng đời là một con đường khúc khuỷu quanh co, nhưng anh
chỉ có thể hy vọng bằng cách nào đó sẽ vòng lại nơi anh thuộc về.

Đó chính là điều anh nghĩ lúc này. Anh thuộc về bên em.
Trong khi ngồi trên xe, và cả khi nhìn thấy một chiếc máy bay trên trời, anh
tưởng tượng rằng khi đến Quito, anh thấy em đang chờ anh trong đám đông. Anh
biết rằng điều đó là không thể, nhưng vì lý do nào đó, nó khiến việc rời xa em
dễ dàng hơn chút ít. Như thế một phần của em đã đi cùng anh.

Anh muốn tin điều đó là sự thật. Không, anh biết rằng nó
là sự thật. Trước khi chúng ta gặp nhau, anh là một kẻ đã hoàn toàn lạc lối,
vậy mà em đã nhìn thấy anh trong điều gì đó khiến anh tìm lại được phương
hướng. Chúng ta đều biết lý do anh đến Rodanthe, nhưng anh không thể thôi nghĩ
rằng có những động lực lớn lao hơn can dự vào. Anh đến đó để khép lại một
chương trong đời mình, hy vọng việc đó sẽ giúp anh tìm được con đường của mình.
Nhưng anh nghĩ chính em là điều anh tìm kiếm bấy lâu. Và chính em là người ở
bên anh lúc này.

Chúng ta đều biết anh sẽ phải ở đây một thời gian. Anh
không chắc bao giờ sẽ quay lại, và dù chia tay chưa lâu, anh nhận ra anh nhớ em
hơn bất kỳ ai mình từng nhớ trong đời. Một phần trong anh ao ước được nhảy lên
máy bay đến gặp em ngay bây giờ, nhưng nếu tình cảm giữa hai ta là thật như anh
nghĩ, anh chắc chắn rằng chúng ta có thể vượt qua. Và anh hứa với em anh sẽ trở
lại. Trong thời gian ngắn ngủi bên nhau, chúng ta đã có được những điều phần
lớn mọi người chỉ có thể mơ ước, và anh sẽ đếm từng ngày cho đến khi được gặp
lại em. Đừng bao giờ quên anh yêu em nhiều biết bao nhiêu.

Paul

Đọc xong, Adrienne đặt lá thư sang một bên và cầm lấy chiếc
vỏ ốc xà cừ mà họ từng tình cờ nhặt được vào một buổi chiều Chủ nhật rất lâu về
trước. Ngay cả lúc này nó vẫn mang hương vị của muối biển, của vô tận, của sự
sống nguyên sơ. Nó chỉ to vừa phải, hình dạng hoàn hảo không một vết rạn, một
thứ gần như không thể tìm thấy trong đợt sóng dữ dằn của Outer Banks sau một
trận bão. Khi đó nàng đã nghĩ đây là điềm báo, nàng nhớ mình đã bưng nó lên tai
và nói rằng mình có thể nghe thấy tiếng biển. Thấy thế, Paul vừa bật cười vừa
giải thích rằng đó chính là tiếng biển. Anh vòng tay quanh
nàng thầm thì, “Thủy triều đang lên đấy, em không thấy sao?”

Adrienne lục qua một lượt những vật khác trong hộp, lấy ra
những thứ nàng cần cho cuộc nói chuyện với Amanda, thầm ước mình có thêm thời
gian cho phần còn lại. Có lẽ để sau, nàng nghĩ. Nàng đặt những vật còn lại vào
ngăn kéo tủ dưới cùng, biết rằng Amanda không cần xem những thứ đó. Cầm lấy
chiếc hộp, Adrienne đứng dậy khỏi giường và vuốt phẳng váy.

Con gái nàng sắp đến.

2

Adrienne đang ở trong bếp thì nghe thấy tiếng cửa trước mở
ra rồi đóng lại. Lát sau, Amanda bước qua phòng khách.

“Mẹ ơi?”

Adrienne đặt chiếc hộp lên quầy bếp. “Mẹ trong này,” nàng
gọi.

Khi Amanda bước qua cánh cửa bếp, cô thấy mẹ mình đang ngồi
bên bàn, một chai rượu chưa mở đặt trước mặt.

“Chuyện gì vậy mẹ?” Amanda hỏi.

Adrienne mỉm cười, thầm nghĩ con gái mình mới xinh đẹp làm
sao. Với mái tóc nâu nhạt và cặp mắt màu hạt dẻ trên đôi gò má cao, con bé lúc
nào cũng đáng yêu. Dù thấp hơn Adrienne vài phân, con bé có dáng đi của một vũ
công và có vẻ cao hơn. Nó cũng gầy nữa, có phần hơi quá gầy theo ý Adrienne,
nhưng nàng đã học được cách không bình luận gì về điều đó.

“Mẹ muốn nói chuyện với con,” Adrienne nói.

“Về chuyện gì ạ?”

Thay vì trả lời, Adrienne chỉ chiếc bàn. “Mẹ nghĩ con nên
ngồi xuống đã.”

Amanda ngồi xuống với mẹ bên bàn bếp. Nhìn gần Amanda trông
có vẻ hốc hác, và Adrienne nắm lấy tay con bé. Nàng nắm thật chặt, không nói
gì, rồi ngập ngừng thả tay con và quay ra phía cửa sổ. Một lúc lâu, không một
âm thanh nào vang lên trong căn bếp.

“Mẹ à?” cuối cùng Amanda hỏi. “Mẹ ổn đấy chứ?”

Adrienne nhắm mắt gật đầu. “Mẹ ổn. Mẹ chỉ đang nghĩ không
biết nên bắt đầu từ đâu.”

Amanda bất giác hơi gồng người lên. “Lại là về con hả mẹ?
Nếu thế thì...”

Adrienne ngắt lời con bằng một cái lắc đầu. “Không, là vì
mẹ,” nàng nói. “Mẹ sẽ kể cho con nghe một chuyện đã xảy ra cách đây mười bốn
năm.”

Amanda nghiêng đầu, và trong căn bếp quen thuộc, Adrienne
bắt đầu kể câu chuyện của mình.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.