25. Trái tim kiêu hãnh
Tôi cứ thầm ước mỗi chuyến bay sẽ mang đến cho mình cơ hội
gặp thêm một người bạn trẻ trung ngực thở phập phồng sau áo mỏng. Nhưng lần nào
đi cũng gặp trẻ nít hay những ông bệ vệ chưa lên máy bay đã mệt nhọc thở và ngủ
phì phào mùi bia.
Lần này thì tôi ngồi giữa hai bà già. Bay trong cảm giác
nhột nhạt sợ một cái vung tay, một cái ngoẹo đầu của mình làm người khác bong
gân, đau khớp cả tuần thì thật khó mà... bay được. Những “chim trời” chứ không
phải “gà nhà”, máy bay chứ không phải xe hơi, không thể tùy tiện ngồi chỗ nào
cũng được. Một chiếc ghế trong cái khoang này tính bằng bạc triệu. Nên tôi ngồi
im, nghe đi nghe lại cái bài Thiên đường gọi tên trong Ipod. Nghe muốn
nổ óc. Đang bay đây, nhưng mà không phải thiên đường.
Từ khi ông nội ốm, nằm liệt giường, đêm đêm rên rẩm vì những
vết mẻ của xương, tôi luôn nghĩ người già như một cây bỏng ngô, chỉ cần gió lay
mạnh là có thể mẻ gãy. Bà già bên phải cứ ngó đầu sát cửa kính máy bay, hỏi vô
tư, cho cái kính này lên nó thoáng chút được không chú? Bà già bên trái tay đeo
chiếc nhẫn mặt ngọc, ngực đeo tràng hạt, rõ ràng nhà giàu chăm lễ Phật, nói
thủng thẳng, cái bà này dở hơi quá, bay mấy trăm cây số một giờ mà để gió cho
thoáng có mà tan xác. Bà già bên trái kinh hãi, phải không chú? Tôi biết mình
đang đối diện với vấn đề khó nuốt rồi đây. Sẽ là một ngàn câu hỏi lần đầu tiên
trong đời. Tôi không thích đối diện với những người già và vấn đề của họ. Tôi
sợ khi phải nghĩ đến một ngày nào đó của mình như thế.
Chú đi làm hay đi chơi? Cái giọng nửa Bắc nửa Nam của bà già
bên trái làm tôi buộc phải vứt headphone ra khỏi tai. Nhìn bà cứ vừa xa lạ vừa
thân quen. Tôi luôn cảm giác đã gặp bà ở đâu đó. Cháu đi công tác về. Chú cũng
đi máy bay lần đầu tiên hử? Bà già bên phải lại với qua, bà này lẩn thẩn, thanh
niên người ta bây giờ đi mây về gió, đâu có lẩm cẩm như chị em mình. Bà già bên
trái nhe răng cười, hàm răng rụng gần hết, cái hàm đầy lợi cứ ngọng nghịu như
trẻ nhỏ. Chuyến này là chuyến đầu tiên thím đi máy bay chú ạ. Đêm qua, thằng em
nó gọi điện ở mãi Hưng Yên vào Cần Thơ, nói bà mẹ thím sắp mất, nằm thoi thóp
rồi, chờ thím về thôi. Nên vội vàng đi mua vé máy bay, chứ rảnh rang thì thím
đi xe đò. Đi xe đò cũng hay lắm, gió mát, đi khắp cả đất nước. Rõ ràng bà không
còn sợ cảm giác mình sắp mất mẹ. Có vẻ ở vào cái tuổi đi đứng lập cập, nói cười
run run, cái chết lại được coi là một sự giải thoát thì phải. Tôi nhìn bà, da
đồi mồi, những nốt đen tuổi già lốm đốm làm khuôn mặt xám vì nắng vì gió giống
như một tấm bản đồ cũ nhàu. Thế chú làm công việc gì? Cháu làm nhà báo. Nhà báo
hử? Ngày xưa thằng cu nhà thím...
Bà già nói lưng chừng, rồi mắt hướng tìm ra ngoài cánh bay.
Ngoài ấy, giữa chiều tà, những vực mây khổng lồ như những bông hoa cúc lớn cuốn
lấy chiếc máy bay bé nhỏ. Bà già bé xíu ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế bay, hành
trang chẳng có gì, có mỗi chiếc túi xách xinh xinh như mấy cô mấy bà đi chợ
huyện. Hành trình ngàn cây hóa ra với bà cũng nhẹ. Thật không biết lúc này bà
nghĩ gì, có mơ hồ nghĩ đến mẹ, hay bà nghĩ về thằng con trai. Cái thằng con
trai đó, theo những phim truyền hình VN mà tôi hay xem vào chiều chủ nhật, cứ
khi nhân vật chính ngưng nói, mắt hướng xa xăm, giọng ầng ậng nghèn nghẹn, máy
quay zoom sát vào đôi mắt đục lờ, buồn bã... thì hoặc là cái thằng con đó cực
tốt nhưng chẳng may tai nạn đập gãy ước mơ, hoặc là nó huy hoàng thiếu nhi
nhưng thanh niên tàn tạ vì nghiện ngập. Đại loại là như vậy. Nên tôi rất muốn
biết bà già kia nói gì về thằng con. Thằng cu nhà thím nó làm sao? Bà già nhẫn
mặt ngọc quay qua hỏi. À thì chẳng làm sao. Nó chỉ mê làm nhà báo thế thôi. Bà
già nói qua quít. Rồi lại quay đi. Rõ là một câu chuyện lãng xẹt. Rồi bà già
lại gọi, này chú, nghe nói người ta bay đi nước ngoài toàn là bay qua biển, lỡ
mà nó rơi xuống biển thì mình chẳng chết đuối ư? Bà già nhẫn mặt ngọc lại bĩu
môi, rõ là chập cheng quá cái bà kia, đang đi trên máy bay mà toàn nói chuyện
gở, ghê quá, máy bay nó mà rơi thì xuống đâu bà cũng biến thành một nắm cát,
chả còn tí máu huyết xương cốt gì đâu mà lo. Bà già bé nhỏ quay qua nhìn bà
nhẫn mặt ngọc, vẻ không ưng bụng nhưng thấy rõ sự yếu thế của mình. Không đáp
trả bà già mặt ngọc, bà khẽ bấu vào tay tôi, thế hử chú? Tôi lại rơi vào trạng
thái bối rối. Con trai thím tên Phát đúng không? Trời, sao chú biết? Chú quen
với nó hử? Cái bà già này, tôi bật cười, nội cái miệt đồng Nam bộ thôi cũng có
cả triệu người tên Phát. Phàm ai cũng lo chuyện làm ăn, gửi cả sự tham lam của
mình vào cái tên con là Phát. Tôi nói với bà, cháu có biết một anh tên Phát,
chẳng biết có phải con bác không. Ngày xưa anh ấy học cùng lớp báo chí với
cháu, nổi tiếng cả trường vì có mình anh ấy nói tiếng miền Nam. Vậy á hả? Chắc
không phải con thím rồi. Con thím nó đẹp trai lắm, cao thước bảy thước tám, mặt
nó đẹp hơn Kim Tiểu Long, mà nó ca vọng cổ sáu câu cũng mùi lắm chú. Tôi nói
đùa, cái anh Phát cháu quen cũng đẹp trai cỡ đó đó bác. Nhưng có biết hát vọng
cổ không? Bà già nhìn chăm chăm, giọng như dấn lên. Tôi định nói rằng có. Người
miệt dưới, ai sinh ra lại không biết ca mấy câu vọng cổ, người xứ lạ tới đó ở
vài năm cũng xuống xề mùi mẫn như thường. Bà già nhìn tôi có vẻ tuyệt vọng. Tôi
buông một câu không biết đúng hay sai, anh này chỉ giỏi chơi bóng đá chứ không
biết ca vọng cổ thím ơi.
Nghe rõ tiếng thở phào của bà già qua hai cánh mũi phập
phồng. Bà già nhẫn mặt ngọc đã thiêm thiếp, như chứng minh rằng cuộc chuyện của
cái bà già nhà quê chân dính phèn kia là lảm nhảm và gây buồn ngủ. Bà già ngồi
như lún sâu trong lòng ghế. Thằng Phát nhà thím ngày xưa nó học giỏi lắm. Nó
tính đi học làm nhà báo. Ngày đó nó học giỏi, mấy chị nhà báo về viết bài ca
ngợi, thím cũng được lên báo cùng nó đó. Mà rồi nhà nghèo...
Nói rồi thấy bà lục trong cái túi một tấm giấy nhỏ ép nhựa.
Một bài báo. Hình bà và một thanh niên trẻ, cười rạng rỡ. Bây giờ báo chí thích
viết chuyện cổ tích, những câu chuyện về nghị lực phi thường trong cuộc sống
con người. Bài báo đó là một câu chuyện cổ tích và tôi đang ngồi bên cạnh một
nhân vật của thế giới thần tiên. Chắc bà muốn mang bài báo đó về quê cho bà con
họ hàng đọc. Bao năm biệt xứ, từ đầu này về lại đầu kia của dải chữ S, khi đi
son rỗi, khi về làm mẹ thần đồng, kể như cũng là một thứ chiến công. Tôi nhìn
kỹ khuôn mặt chàng trai. Một cái gì đó quen thuộc. Nói chính xác là một khuôn
mặt rất dễ lẫn, như thể đã gặp ở đâu đó nhưng lại như chưa từng quen. Mỗi ngày
chúng ta nhìn thấy cả trăm khuôn mặt vậy mà lắm khi không thấy nổi một gương
mặt nhang nhác thân quen. Nhưng rồi trí nhớ đã thức giấc. Anh Phát giờ làm gì
hả thím? Ờ thì làm ba cái thứ lặt vặt thôi. Lặt vặt là sao? Thì là ba cái
chuyện nhăng nhít vậy mà. Ủa mà chú hỏi chi vậy? Chú đâu quen nó đâu...
Thì tôi đâu quen Phát đâu. Nhưng tôi biết, thậm chí khi đọc
tập kết luận điều tra bên cảnh sát cho mượn, tôi còn biết Phát đã làm những gì
trong hành trình trốn chạy khỏi sự thật đời mình. Và tôi sợ khi tôi gọi tên bà
già, bà sẽ ngất đi. Vì lúc đó tôi giống một con ma hiện hồn trên máy bay, tự
dưng xa lạ mà biết cả tên mẹ lẫn tên con. Cuộc đời lạ lùng, đôi khi cứ neo quấn
những thứ không liên quan lại, đôi khi làm mọi chuyện rối tung mà chẳng vì mục
đích gì cả... Thím có hay đọc báo không? Thím hử, ngày trước hay đọc báo, thằng
Phát viết bài được đăng báo đó chú, cuối tháng được ra bưu điện lãnh tiền, nó
về mua quá trời quà cho thím. Nó mua cái áo này đó, tốt không, gần chục năm mà
vẫn đẹp vẫn mới. Từ ngày nó đi làm xa, thím cũng chả mua báo. Đọc báo sao bằng
nghe ca vọng cổ. Hồi mấy năm trước, nó có gửi thư về, nó nói nó đã qua Mỹ rồi,
đi máy bay qua biển, đẹp lắm. Thím chả thích nó qua đó, nghe nói qua đó toàn
làm móng chân móng tay cho đàn bà con gái, sơn phết như vẽ mặt tuồng, ớn ớn
ớn... Tôi nhìn lại chiếc áo của bà già. Một chiếc áo tím hoa cà, chẳng độc đáo
gì, nhưng tôi đồ rằng bà cũng giống mẹ tôi, chiếc áo mới trong đáy hòm gỗ mỗi
năm có lễ trọng mới đem ra mặc, nếp áo chưa vuốt thẳng, sực nức mùi băng phiến.
Trong thâm tâm người đàn bà này, hẳn nhiên Phát là một ngọn đuốc sống rực rỡ.
Và tôi thở phào, thật may là chẳng bao giờ bà đọc báo...
Tự dưng tôi cứ liên miên nghĩ về Phát. Chàng trai đầy mộng
đẹp, vậy mà phút chốc chạy vụt qua một cõi ảo vọng. Đời người ta lúc nào cũng
như lên dốc vậy, những con dốc lớn nhỏ, ai cũng muốn leo được những đỉnh dốc
cao mà quên mất rằng khi lên đến đỉnh sẽ là một mặt xuống thăm thẳm chẳng kém
khi trèo lên. Tấm hình lưu trong hồ sơ cảnh sát cũng chính là tấm hình được cắt
ra từ trên báo. Trên đó, Phát vẫn cười rạng rỡ. Tôi nhớ rất rõ rằng khi tôi đọc
hết gần 100 trang hồ sơ về vụ án của Phát, tôi đã bị ám ảnh nặng nề bởi những
lời khai đôi khi trần trụi và thành thật đến mức làm người khác hoảng sợ. Phát
đó, một mối tình cùng dấu, những mưu toan tiền bạc, những mơ ước đến thành phố
không bao giờ tắt ánh sáng ở bên kia đại dương. Phát đó, bóng tối đã phủ lên
đôi mắt tinh anh ấy từ lúc nào nhỉ? Phát đó, phải chi tôi không đọc những chi
tiết về anh, tôi đã chẳng bận tâm thêm đến bà già ngu ngơ không liên quan đầy
những câu chuyện tầm phào như thế...
Cô tiếp viên kéo xe thức ăn qua chỗ chúng tôi, mời chào mua
đồ ăn trên máy bay. Bà già bảo, mình phải cảm ơn cái máy bay này, nó không cho
mình ăn, nó giảm cho mình tới hai trăm ngàn chú ạ. Thím bỏ bữa ăn máy bay, thím
mang tiền về quê, làm được hẳn mâm cỗ mời họ hàng. Tôi bật cười. Nếu bà biết
được sự thật rằng tôi đã săn được chuyến đi này với giá vé chỉ vài trăm ngàn ở
trên mạng, nghĩa là rẻ như đi xe đò từ Hà Nội vào Sài Gòn, chắc bà sẽ lăn đùng
ngã ngửa ra mà đòi tôi dạy cách truy cập mạng Intemet để mua vé online. Tôi bảo
bà già, thím uống nước ngọt không, con mua cho. Bà già lắc đầu, nước ngọt uống
vào bụng réo như cửa biển, gas nổ lọc xọc trong dạ dày thấy ớn. Tôi nhìn đồng
hồ, sẽ còn chừng 40 phút bay. Tôi mua thêm cho bà một chai nước suối. Bà già
cảm động lắm, mắt rưng rưng, rồi bà tu nước như vục mình vào chiếc gáo dừa
trong vại nước trước sân thân thuộc. Vuốt miệng, bà quay qua, trời đất, sao cái
nước suối này nó ngọt như nước mưa vậy chú? Mà sao chú tốt với thím quá vậy
chú? Tôi muốn nói với bà, tôi thực tình không tốt mà chỉ vì một thói quen, khi
ăn mà có kẻ nhìn mình bên cạnh là cảm thấy nhột nhạt, là thấy không yên ổn. Tôi
mua cho bà chai nước là tôi mua cho tôi sự an lòng mà thôi. Chứ tới Hà Nội thì
chú về phố nào? Cháu về đường Trường Chinh. Thím về Nguyễn An Ninh. Nguyễn An
Ninh ở đâu hử chú? Bà già đeo tràng hạt đã thức dậy từ lúc nào, miệng ngáp
ngáp, với sang như một thói quen, cháu đi cùng đường với bà ấy, cho bà ấy đi xe
về cùng, lơ ngơ như nai toi thế kia, biết tìm sao ra đường, lại bị cái lũ xe ôm
nó lừa cho hết sạch tiền rồi bơ vơ đấy. Taxi hết 200.000, chú trả 150.000, bà
ấy 50.000, đằng nào chú chẳng phải thuê một cái xe, có phải không? Tôi quay qua
bà già, bác cứ đi cùng cháu, cháu xuống trước, nhưng sẽ bảo taxi đưa bác về tận
nhà. Nhưng đó là nhà bác hả? Bà già lắc đầu, không, là nhà đứa em, nó chết từ
mồng thất rồi, chỉ còn đám cháu chắt thôi. Thím ở đó qua đêm rồi mai bắt xe đò
về Hưng Yên sớm. Vậy chú cho thím đi về cùng xe có được không? Tôi đồng ý. Bà
già đeo tràng hạt cũng có vẻ an lòng. Người già có vẻ dễ đồng cảm với nhau chỉ
vì một điều be bé. Bà già đeo tràng hạt đã có sẵn một chiếc xe hơi của anh con
rể tổng giám đốc đợi ở sân bay rồi. Tôi tự dưng ngồi giữa hai bà già với hai
thế giới. Tôi không thích nghịch cảnh, ghét nhất những sự tréo ngoe ở đời. Tôi
càng ghét sự so sánh. Thế mà tôi cứ phải liên quan đến những thứ mệt óc này
hoài. Tuổi già như ban chiều, mà sao có chiều mây sáng đẹp mà có chiều vần vũ
mưa dông...
Chuyến bay hạ cánh trễ tại Nội Bài 30 phút. Cô tiếp viên nói
trước khi chào tạm biệt, nhiệt độ bên ngoài là 19 độ C. Ngày tôi đi Sài Gòn
trời đã tan những cơn gió lạnh, bất giác ngày về lại bị gió đón đợi hun hút
giữa phi trường. Tôi dặn bà già, thím cứ đứng đợi con ở cửa, đừng có lên cái
taxi nào, con lấy hành lý xong rồi thím cùng con đi. Mỗi lần bay về đêm, đi
trên chuyến xe về lại thành phố, tôi luôn cảm giác đó là một giấc mơ buồn thảm,
vì đó là một con đường quá dài, vắng vẻ và dường như chẳng còn gì đón đợi ta ở
cái thành phố mười giờ tối đã tàn lụi gần hết những ánh đèn. Đưa bà già về nhà,
có khi tôi lại không mất ngủ vì thói cả nghĩ và hết lo sợ sự bất an. Tôi ôm
bịch trái cây ra cửa, nghĩ bụng, có lẽ chia cho bà già một chút. Trái cây bạn
bè gửi ra cho Bòn Bon, Bòn Bon còn nhỏ xíu, nào đã biết ăn gì, chia cho bà như
một sự thơm thảo. Bà già đang đứng trước cửa, đôi mắt âu lo giống như người ta
đứng giữa một biển người mà không tìm được điều gì thân thuộc. Bác Vĩnh, cháu
sẽ chia cho bác một ít trái cây - tôi nói như đang trong một cơn mộng du. Bất
giác bà già rùng mình, có thể trời quá lạnh mà bà ở xứ nóng lâu ngày. Rồi bà
chạy rất nhanh lên chiếc xe buýt miễn phí của hãng hàng không đã rất đông
người. Bác Vĩnh, sao bác lại...
Tôi vẫn không ngừng được nghĩ suy về Phát - người đàn ông xa
lạ mà tôi chưa từng gặp mặt. Suy nghĩ của những kẻ tạm gọi là viết lách như
tôi, nhiều khi bị lẩn thẩn và đi hoang ngang dọc những con đường không liên
quan đến mình. Cho đến tận lúc này, không hiểu sao tôi cứ nghĩ rằng cả đời mình
đi học chỉ mong biết được nhiều. Nhưng bà già này lại học được cách không biết
gì để lòng mình bình yên, để lòng mình hi vọng, để trái tim người mẹ vẫn kiêu
hãnh hát yêu con... Tôi đã gọi tên bà già ấy. Nhưng chắc bà chẳng nhận ra đâu,
bà chỉ tiếc năm chục ngàn tiền taxi về Hà Nội cùng tôi thôi. Chắc là thế thôi.
Bởi vì bà chỉ là người đàn bà không quen mà tự dưng tôi biết tên. Tôi đi xe về
Hà Nội. Một mình tôi với con đường quá dài...

