Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh - Chương 11 - 12

CHƯƠNG 11

Ấn tượng của Anne về trường học Chủ Nhật

“Sao, con có thích chúng không?” bà Marilla hỏi.

Anne đang đứng trong căn phòng ở chái nhà, nghiêm trang nhìn
ba bộ váy mới trải trên giường. Một cái bằng vải kẻ sọc xỉn màu khói thuốc mà
bà Marilla bị một người bán rong dụ mua hồi hè năm trước vì trông có vẻ bền;
một cái bằng xa tanh kẻ ô trắng đen mua từ một quầy hàng giảm giá từ hồi mùa
đông; cái còn lại in thô một hình thù xấu xí màu xanh mà bà mua ở Carmody trong
tuần đó.

Bà đã tự tay may chúng, thảy đều trông giống nhau – cùng là
loại váy đơn giản thắt chặt ở cái eo đơn giản, ống tay áo đơn giản giống hệt cả
váy lẫn eo, và được thắt chặt hết mức.

“Con sẽ tưởng tượng là mình thích chúng” Anne điềm tĩnh nói.

“Ta không muốn con tưởng tượng thế,” bà Marilla nói giọng tự
ái. “Ái chà, ta có thể thấy con không thích mấy cái váy này! Chúng làm sao à?
Chúng không gọn gàng, sạch sẽ và mới sao?”

“Có chứ ạ.”

“Vậy sao con không thích chúng?”

“Chúng… chúng không… đẹp ạ,” Anne nói miễn cưỡng.

“Đẹp à!” bà
Marilla khịt mũi. “Ta không bận tâm về việc may váy đẹp cho con. Ta nói thẳng
cho con biết là ta không thích mấy chuyện nuông chiều phù phiếm đâu Anne. Mấy
cái váy này đều tốt, mặc khá dễ chịu, không có diềm đăng ten hay xếp nếp gì, và
hè này con sẽ chỉ có chừng ấy thôi. Cái sọc nâu và cái in xanh con sẽ mặc tới
trường khi bắt đầu đi học. Cái xa tanh mặc khi đi nhà thờ và đến trường học Chủ
nhật. Ta hy vọng con sẽ giữ chúng gọn gàng sạch sẽ và lành lặn. Ta cứ tưởng là
sau những cái váy thiếu vải mà con đang mặc đó thì có mặc gì con cũng sẽ thấy
biết ơn chứ.”

“Ồ, con biết
ơn
mà,” Anne phản đối. “Nhưng con sẽ biết ơn hơn rất nhiều nếu… nếu
chỉ cần bác may một cái có tay phồng thôi.Tay áo phồng đang rất
thời trang. Chỉ cần mặc một chiếc váy tay phồng thôi là con sẽ thấy hưng phấn
ngay, bác Marilla ạ.”

“Thế đấy, con sẽ
phải mặc chúng mà không cần cái hưng phấn đó. Ta không có vải để phung phí cho
mấy cái tay phồng. Dù sao thì ta cũng nghĩ chúng trông thật lố bịch. Ta thích
những thứ đơn giản, đứng đắn hơn.”

“Thà con có vẻ lố
bịch nhưng trông giống tất cả mọi người còn hơn là đơn giản và đứng đắn mà lại
lạc lõng một mình.” Anne rầu rĩ nài.

“Chắc là con nghĩ
thế rồi! Nào, treo váy cẩn thận vào tủ rồi ngồi học các bài học của trường Chủ
nhật đi. Ta đã lấy sách học kỳ này từ chỗ ông Bell và mai con sẽ đến trường Chủ
nhật,” bà Marilla vừa nói vừa giận dữ bước xuống lầu.

Anne nắm chặt tay
nhìn mấy cái váy.

“Mình đã hy vọng
sẽ có một cái váy màu trắng tay phồng,” con bé chán nản thì thầm. “Mình đã cầu
nguyện có một cái, nhưng mình cũng không quá hy vọng vào chuyện đó. Mình không
nghĩ là Chúa có thời gian để quan tâm đến cái váy của một con bé mồ côi bé nhỏ.
Mình biết là về chuyện này sẽ phải tùy vào bác Marilla thôi. Ôi, may là mình có
thể tưởng tượng rằng một trong số chúng được làm bằng vải muslin trắng như
tuyết với đăng ten và tay áo phồng ba lớp.”

Sáng hôm sau một
cơn đau đầu nhẹ đã khiến bà Marilla không đến trường học Chủ nhật với Anne
được.

“Con sẽ phải
xuống nhờ bà Lynde thôi Anne,” bà nói. “Bà ấy sẽ trông chừng cho con vào đúng
lớp. Nào, liệu mà cư xử cho đúng nhé. Học xong thì ở lại nghe giảng đạo và nhờ
bà Lynde chỉ cho chỗ của chúng ta. Đây là một đồng để quyên góp. Đừng nhìn chằm
chằm vào người khác cũng đừng ngọ nguậy không yên. Ta mong là khi về con sẽ
nhắc lại cho ta nghe đoạn trích Kinh thánh trong bài giảng.”

Anne khởi hành
một cách không chê vào đâu được, diện bộ váy xa tanh trắng đen thẳng nếp mà
trong khi khá thoải mái về chiều dài và chắc chắn không thể bị coi là thiếu vải
thì cũng được tính tóan sao cho tôn lên mọi đường cong trên thân hình gầy gò
của con bé. Nó đội một cái mũ thủy thủ nhỏ chóp bằng mới tinh và trơn bóng, sự
đơn giản tột cùng của cái mũ khá đáng thất vọng đối với con bé Anne vốn đã tự
cho phép mình bí mật tưởng tượng ra một cái có ruy băng và hoa. Tuy nhiên hoa
đã được bổ sung trước cả lúc Anne đặt chân đến đường chính, vì khi bước trên
con đường mòn ngập tràn hoa mao lương vàng óng lay động trong gió và rực rỡ hoa
hồng dại, con bé nhanh chóng hào phóng trang trí cho cái mũ của mình một vòng
hoa thật bự. Cho dù mọi người nghĩ gì về sản phẩm đó thì Anne vẫn cảm thấy rất
thỏa mãn, và con bé vui vẻ thả bước trên đường, tự hào ngẩng cao mái đầu đỏ hoe
đầy những trang trí màu hồng và vàng.

Khi tới nhà bà
Lynde, con bé nhận ra người phụ nữ đã đi rồi. Không nản lòng, Anne tiếp tục một
mình cất bước tới nhà thờ. Tại cổng nó thấy một nhóm bé gái, ăn mặc ít nhiều
đều có phần rạng rỡ với màu trắng, xanh và hồng, đứa nào cũng dồn ánh mắt tò mò
vào kẻ lạ mặt với món đồ trang trí lạ thường trên đầu. Những bé gái Avonlea đã
nghe nhiều câu chuyện lạ lùng về Anne. Bà Lynde nói tính khí nó tệ hại khủng
khiếp; Jerry Buote, thằng bé giúp việc ở Chái Nhà Xanh, kể rằng con bé lúc nào
cũng nói chuyện một mình hay với cây cối cỏ hoa như đứa khùng. Bọn trẻ nhìn con
bé và thì thầm với nhau phía sau những cuốn sách. Không ai bắt chuyện một cách
thân thiện kể từ lúc đó cho đến khi nghi thức đầu lễ kết thúc và Anne thấy mình
đang ở trong lớp của cô Rogerson.

Cô Rogerson là
phụ nữ ở trung niên đã dạy ở trường Chủ nhật hai mươi năm rồi. Phương pháp
giảng dạy của cô là đưa ra những câu hỏi in sẵn trong sách và nghiêm khắc nhìn
qua mép sách để gọi một cô bé mà cô chắc mẩm trả lời được. Cô rất hay để mắt
tới Anne, và Anne, nhờ sự rèn giũa của Marilla, trả lời không chút đắn đo;
nhưng con bé có thật sự hiểu được câu hỏi hoặc câu trả lời hay không thì vẫn
còn là một nghi vấn.

Con bé không nghĩ
mình thích cô Rogerson, và nó cảm thấy mình rất đáng thương; tất cả những bé
gái khác trong lớp đều có tay áo phồng. Anne cảm thấy như đời chẳng còn đáng
sống nếu không có những tay áo phồng.

“Sao, con thấy
trường Chủ nhật thế nào?” bà Marilla muốn biết khi Anne trở về nhà. Vành hoa
của con bé đã héo, Anne bỏ lại hoa trên đường nên bà Marilla sẽ không biết về
nó.

“Con không thích
chút nào. Thật khủng khiếp.”

“Anne Shirley!”
bà Marilla nói với giọng quở trách.

Anne thở dài ngồi
xuống xích đu, hôn một chiếc lá của Bonny và vẫy tay với đóa vân anh đang nở.

“Chúng có thể
thấy cô đơn khi vắng con,” con bé giải thích. “Còn giờ nói về trường học Chủ
nhật. Con đã cư xử tốt, y như bác dặn. Bà Lynde đã đi trước, nhưng con tự đi
đến nơi được. Con vào nhà thờ với rất nhiều bạn gái khác và ngồi ở góc ghế dài
bên cửa sổ trong thời gian tiến hành nghi thức đầu lễ. Ông Bell đọc một
lời nguyện dài khủng khiếp. Nếu không ngồi bên cái cửa sổ đó thì chắc con mệt
mỏi đến chết mất trước khi ông ấy kết thúc nghi lễ. Nhưng nó nhìn thẳng ra Hồ
Nước Lấp Lánh nên con cứ dõi ra đó và tưởng tượng ra đủ thứ rực rỡ.”

“Con không nên làm thế. Lẽ ra con phải lắng nghe ông Bell”.

“Nhưng ông ấy có nói với con đâu,” Anne phản ứng. “Ông ấy
nói với Chúa đấy chứ, mà ông ấy có vẻ cũng chẳng tha thiết gì lắm. Con nghĩ ông
ấy cho rằng Chúa ở quá xa nên chẳng bõ công để cầu nguyện. Tuy nhiên, con đã tự
cầu nguyện một điều nhỏ. Có một hàng bạch dương trải dài bên bờ hồ và ánh nắng
đổ xuống xuyên qua chúng, rơi mãi rơi mãi xuống hồ nước sâu thăm thẳm. Ôi, bác
Marilla, nó giống như một giấc mơ thật đẹp! Nó làm con rùng mình và con chỉ
biết nói “Tạ ơn Người” hai, ba lần.”

“Không nói lớn, ta hy vọng thế,” bà Marilla nói giọng lo
lắng.

“Ồ không, chỉ thì thầm thôi. Vậy là cuối cùng ông Bell cũng làm lễ xong
và họ bảo con vào lớp của cô Rogerson. Trong đó có chín bạn gái
khác. Các bạn ấy đều mặc váy tay phồng. Con cố tưởng tượng mình cũng có tay áo
phồng nhưng không thể. Tại sao chứ? Nếu con đang ở một mình trong chái Đông thì
thật dễ để tưởng tượng ra váy của con có tay phồng, nhưng khi ở giữa những
người thật sự có tay áo phồng thì quá khó tưởng tượng.”

“Con không nên nghĩ về tay áo khi đang ở trường học Chủ
nhật. Con phải lắng nghe bài giảng. Ta hy vọng con biết thế chứ.”

“Ồ, có chứ ạ; và con còn trả lời rất nhiều câu hỏi nữa. Cô Rogerson hỏi nhiều quá. Con nghĩ cô ấy
thật không công bằng khi cứ hỏi hết như thế. Có quá nhiều thứ con muốn hỏi cô
ấy nhưng lại không thích hỏi vì con không nghĩ cô ấy có tâm hồn đồng điệu. Sau
đó, các bạn gái khác đọc thuộc lòng một bài diễn giải. Cô ấy hỏi con có biết
bài nào không. Con nói không, nhưng nếu cô ấy thích thì con có thể đọc thuộc
lòng bài “Chú chó bên mộ chủ”. Nó nằm trong quyển văn tuyển Hoàng gia tập ba.
Nó không phải một bài thơ tôn giáo đích thực nhưng cũng buồn bã u sầu chẳng
khác gì thơ loại đó. Cô ấy bảo bài đó không được và nói con phải học bài diễn
giải thứ mười chín cho Chủ nhật tới. Sau đó con đã đọc nó trong nhà thờ và nó
thật tuyệt. Đặc biệt có hai câu làm con rùng mình.

“Nhanh
như khi những kỵ binh bị thương ngã xuống

Trong
những ngày đen tối của Midian”

Con không biết “kỵ binh” hay “Midian” nghĩa là gì, nhưng
nghe quá bi kịch. Con không thể đợi nổi đến Chủ nhật tuần sau
để được ngâm nó. Con sẽ tập cả tuần. Sau lớp học Chủ nhật, con đã nhờ cô
Rogerson – vì bà Lynde ở xa quá – chỉ cho con hàng ghế của bác. Con ngồi yên
hết mức và đọc bài giảng đạo được trích từ Sách Khải Huyền, chương ba, đoạn hai
và ba. Bài giảng đó rất dài. Nếu là linh mục thì con sẽ chọn những bài ngắn và
nhanh. Con nghĩ ông ấy không thấy hứng thú chút nào. Có vẻ như vấn đề của ông
ấy là ông ấy không có đủ trí tưởng tượng. Con không chú tâm lắng nghe ông ấy. Con
chỉ thả cho tâm trí mình bay bổng và nghĩ tới những điều bất ngờ nhất.”

Bà Marilla bất lực cảm thấy lẽ ra phải nghiêm khắc quở trách
con bé về toàn bộ chuyện này thì bà lại bị cản trở bởi một sự thật không thể
chối cãi rằng một số điều Anne nói, đặc biệt là về bài thuyết giáo của mục sư
và buổi cầu nguyện của ông Bell, cũng là những điều mà thật ra suốt bao năm nay
chính bà đã ấp ủ trong lòng nhưng chưa bao giờ biểu hiện. Bà cảm thấy dường như
những suy nghĩ chỉ trích bí mật và thầm kín đó đã bất thình lình lấy được hình
dạng rõ nét và biểu hiện trong con người nhỏ bé ba hoa lôi thôi lếch thếch này.

CHƯƠNG 12

Một lời thề và lời hứa trang trọng

Phải tới thứ sáu tuần sau bà Marilla mới nghe kể về cái mũ
vành hoa. Bà từ nhà bà Lynde trở về và gọi Anne ra hỏi.

“Anne, bà Rachel nói chủ nhật vừa rồi con đã tới nhà thờ với
cái mũ lố bịch cài hoa hồng và mao lương. Cái quái quỷ gì đã khiến con hành
động ký quái vậy hả? Hẳn là con trông phải xinh đẹp lắm!”

“Chao ôi. Con biết màu hồng và vàng không hợp với mình mà,”
Anne bắt đầu.

“Vớ vẩn! Nội cái việc cài hoa lên mũ thôi, chẳng cần biết
hoa màu gì, cũng đã thật lố bịch rồi. Con đúng là đứa trẻ khó chịu nhất trần
đời!”

“Con không hiểu cài hoa lên mũ so với cài hoa lên váy có gì
lố bịch hơn,” Anne phản đối. “Ở đó rất nhiều bạn gái cài hoa lên váy. Khác biệt
chỗ nào chứ?”

Bà Marilla không để mình bị lôi từ cái bệ an toàn vào con
đường trừu tượng mơ hồ.

“Đừng có trả lời ta như vậy, Anne. Con làm vậy là rất ngốc
nghếch. Đừng để ta bắt gặp con làm mấy trò đó lần nữa. Bà Rachel nói bà ấy
tưởng phải chui xuống đất khi thấy con tới với cái mớ trang trí đó. Bà ấy không
thể đến gần đủ để bảo con bỏ chúng xuống cho đến khi quá trễ. Bà ấy bảo mọi
người cứ nói về nó như cái gì khủng khiếp lắm. Dĩ nhiên họ sẽ nghĩ là ta cũng
chẳng tỉnh táo gì hơn khi để con ra đường trong bộ dạng như thế.”

“Ôi, con rất xin lỗi,” Anne nói, nước mắt ứa ra. “Con chưa
bao giờ nghĩ bác sẽ cảm thấy phiền lòng. Hoa hồng và mao lương trông ngọt ngào
và dễ thương quá, con nghĩ chúng nằm trên mũ con trông sẽ rất đáng yêu. Nhiều
bé gái cũng có hoa giả trên mũ mà. Con e rằng con sẽ thành một gánh nặng khủng
khiếp với bác. Có lẽ bác nên gửi trả con quay lại trại mồ côi thì hơn. Chuyện
đó thật kinh khủng, con không nghĩ con có thể chịu được; không chừng con sẽ mắc
bệnh lao phổi, con gầy thế cơ mà. Nhưng thà thế còn hơn là trở thành gánh nặng
của bác.”

“Nhảm nhí,” bà Marilla nói, nổi giận với chính mình vì đã
làm đứa trẻ khóc. “Chắc chắn ta không muốn gửi trả con lại trại mồ côi. Ta chỉ
muốn con cư xử như những bé gái khác và đừng tự biến mình thành lố bịch nữa.
Nín đi nào. Ta có vài tin cho con đây. Chiều nay Diana Barry sẽ về nhà. Ta sẽ
đi xem có thể mượn mẫu áo của bà Barry không, nếu thích con có thể đi cùng và
làm quen với Diana.”

Anne đứng dậy, tay đan chặt, nước mắt vẫn long lanh trên má,
cái khăn lau đĩa con bé đang gấp vô ý rơi xuống sàn.

“Ôi, bác Marilla, con sợ quá – giờ thì con sợ thật sự rồi.
Nếu bạn ấy không thích con thì sao! Đó sẽ là nỗi thất vọng bi đát nhất đời
con.”

“Này, đừng kích động thế. Mà ta hy vọng con sẽ không dùng
mấy từ đao to búa lớn như thế. Từ miệng một bé gái nói ra nghe thật buồn cười.
Ta chắc Diana sẽ rất thích con đấy. Mẹ con bé mới là người con phải lo. Nếu bà
ấy không thích con thì Diana có thích con bao nhiêu cũng thế thôi. Bà ấy mà
nghe được vụ con nổi giận với bà Lynde và đi đến nhà thờ với hoa mao lương quấn
quanh mũ thì ta không biết bà ấy sẽ nghĩ gì về con. Con phải lịch sự và ngoan
ngoãn, đừng có trình bày bất kỳ bài diễn văn đáng hoảng hốt nào của con. Tạ ơn
Chúa, nếu con bé không run quá!”

Anne đang run. Khuôn mặt nó tái nhợt và
căng thẳng.

“Ôi, bác Marilla, bác cũng sẽ kích động nếu sắp gặp một cô
bé mà bác hy vọng sẽ trở thành bạn tâm giao của mình trong khi mẹ bạn ấy có thể
không ưa bác,” con bé nói trong khi chạy vội đi lấy mũ. Họ vừa đến dốc Vườn Quả
bằng đường tắt cắt qua suối rồi leo lên khu rừng linh sam nhỏ trên đồi. Bà
Barry bước ra cửa bếp khi bà Marilla gõ cửa. Bà có dáng người cao, tóc đen mắt
đen, cái miệng cả quyết. Bà nổi tiếng nghiêm khắc với con cái.

“Cô thế nào rồi, Marilla?” bà nói thân tình. “Vào đi. Đây
chắc là bé gái mà cô nhận nuôi?”

“Vâng, đây là
Anne Shirley,” bà Marilla đáp.

“Đánh vần có e
ạ,” Anne hổn hển nói, run run kích động, kiên quyết không để có nhầm lẫn nào ở
điểm quan trọng đó.

Bà Barry, hoặc
không nghe thấy hoặc không hiểu, chỉ bắt tay bình thường và nói một cách thân
mật: “Con sao rồi?”

“Con khỏe mạnh về
mặt thể xác mặc dù hơi bối rối về mặt tinh thần, cám ơn bà ạ,” Anne nghiêm
trang đáp. Và quay sang thầm thì thành tiếng với bà Marilla. “Câu đó đâu có gì
gây sốc phải không bác Marilla?”

Diana đang ngồi
trên ghế bành và buông cuốn sách đọc dở xuống khi khách vào. Đó là một cô bé
rất xinh, má hồng hây hây, thừa hưởng cả đôi mắt lẫn mái tóc đen của mẹ và nét
vui vẻ của cha.

“Đây là con gái
bác, Diana,” bà Barry nói, “Diana, con có thể dẫn Anne ra vườn và chỉ cho bạn
xem hoa của con. Sẽ tốt hơn nếu con chịu dời mắt ra khỏi sách một chút. Con bé
đọc nhiều quá…” Những lời này được nói với bà Marilla khi hai bé đã ra vườn,
“Mà tôi thì không ngăn được vì cha nó cứ bênh vực và tiếp tay cho nó. Lúc nào
nó cũng chúi mũi vào sách. Tôi mừng vì viễn cảnh nó có một người bạn chơi chung
– có lẽ như vậy nó sẽ ra ngoài chơi nhiều hơn.”

Bên ngoài, trong
khu vườn ngập tràn những luồng ánh sáng xế chiều êm dịu chảy về phía Tây xuyên
qua những cây linh sam già sẫm màu, Anne và Diana đứng nhìn nhau rụt rè qua một
cây loa kèn hổ tuyệt đẹp.

Vườn nhà Barry là
một vùng đất hoang ngập tràn hoa thắp sáng niềm vui trong trái tim Anne. Khu
vườn được bao quanh bởi những cây liễu cổ thụ và linh sam cao vút, dưới gốc cây
nở rộ những đóa hoa ưa bóng râm. Những con đường vuông góc viền vỏ sò gọn gàng
chạy ngang dọc khắp khu vườn như những sợi ruy băng đỏ ẩm ướt và trong tấm thảm
vườn, những bông hoa lạc mốt mọc um tùm. Vườn có hoa trái tim nhỏ máu màu hồng
phớt và mẫu đơn đỏ rực; thủy tiên trắng thơm ngát và hoa hồng gai Scotland ngọt
ngào; hoa columbines màu hồng, xanh trắng và cỏ kiềm tím hoa cà, những cụm ngải
bụi, cỏ dây và bạc hà; lan Adam-và-Eva tím, thủy tiên vàng, và vô số cỏ ba lá
thơm với những cánh hoa trắng mảnh mai mượt mà thơm hương; cây nữ lang đỏ chĩa
những mũi giáo rực lửa trên những bông hoa khỉ trắng muốt; một khu vườn nơi ánh
nắng lưu luyến và ong vo ve, gió chậm bước tha thẩn rì rào, xào xạc.

“Ôi, Diana,” cuối
cùng Anne nói, nắm chặt tay và giọng gần như thầm thì, “cậu có nghĩ – ôi, nghĩ
cậu có thể thích mình một chút – đủ để làm bạn tâm giao của mình không?”

Diana bật cười.
Cô bé luôn mỉm cười trước khi nói.

“Ừ, mình nghĩ
vậy,” cô bé nói thẳng thắn. “Mình rất mừng khi cậu đến sống ở Chái Nhà Xanh.
Thật vui khi có người chơi chung. Không có bạn gái nào sống gần đây để chơi
chung, mà mình lại chẳng có đứa em gái nào đủ lớn cả.”

“Cậu có thề sẽ là
bạn mình mãi mãi, mãi mãi không?” Anne hỏi, giọng háo hức.

Diana có vẻ
sững sờ.

“Sao, thề thốt thì có vẻ giống với phạm lỗi quá,” cô bé
trách móc.

“Ôi không, không phải kiểu thề của mình. Có hai kiểu cơ, cậu
biết đó.”

“Hồi đó đến giờ mình chỉ biết một kiểu thôi,” Diana nghi
ngờ.

“Có kiểu khác nữa thật mà. Ôi, không giống với phạm lỗi chút
xíu nào đâu. Chỉ là thề và hứa trang trọng thôi.”

“Vậy thì được, mình không phiền chuyện đó,” Diana thở phào
đồng ý. “Cậu làm chuyện đó thế nào?”

“Chúng ta phải nắm tay lại – thế này,” Anne nói trang
nghiêm. “Phải có nước chảy nữa. Được rồi, chúng ta sẽ tưởng tượng con đường này
là dòng nước. Mình sẽ đọc lời thề trước. Con trang trọng thề sẽ trung thành với
người bạn tâm giao của mình, Diana Barry, chừng nào mặt trời và mặt trăng còn
tồn tại. Bây giờ cậu lặp lại và thay bằng tên mình thôi.”

Diana lặp lại “lời thề” với một tràng cười lớn. Sau đó con
bé nói: “Cậu thật kỳ lạ Anne ạ. Mình từng nghe nói là cậu khá kỳ lạ. Nhưng mình
tin rằng mình sẽ thích cậu lắm.”

Khi bà Marilla và Anne ra về, Diana tiễn tới tận cây cầu gỗ.
Hai cô bé khoác tay nhau cùng bước. Chúng chia tay bên bờ suối và những lời hứa
hẹn sẽ gặp lại nhau chiều hôm sau.

“Thế nào, con thấy Diana là một tâm hồn đồng điệu không?” bà
Marilla hỏi khi hai bác cháu băng qua khu vườn Chái Nhà Xanh.

“Ồ có ạ,” Anne thở dài sung sướng, không nhận ra chút mỉa
mai nào trong câu nói của Marilla. “Ôi, bác Marilla, con là cô gái hạnh phúc
nhất đảo Hoàng tử Edward lúc này. Con bảo đảm với bác tối nay con sẽ cầu
kinh một cách hoàn toàn tự nguyện. Ngày mai, Diana và con sẽ xây một ngôi nhà
đồ chơi trong rừng cây bạch dương của ông William Bell. Con có thể lấy mấy mảnh
sứ vỡ trong kệ gỗ được không ạ? Sinh nhật của Diana là tháng Hai và của con là
tháng Ba. Bác có nghĩ đó là một sự trùng hợp rất kỳ lạ không? Diana sẽ cho con
mượn một cuốn sách để đọc. Bạn ấy nói nó hay vô cùng và cực kỳ cuốn hút. Bạn ấy
cũng sẽ chỉ cho con một chỗ ở sau rừng có loa kèn gạo mọc. Bác có nghĩ Diana có
một đôi mắt hút hồn không? Con ước gì con cũng có đôi mắt hút hồn. Diana sẽ dạy
con hát một bài tên là “Nelly ở Thung Lũng Cây Phỉ”. Bạn ấy nói sẽ tặng con một
bức tranh để treo trong phòng; bạn ấy nói đó là một bức tranh đẹp không chê vào
đâu được – một phụ nữ đáng yêu mặc váy lụa xanh lơ. Một người ở cửa hàng đại lý
máy khâu đã cho bạn ấy bức tranh đó. Con ước gì mình có thứ gì đó để tặng
Diana. Con cao hơn Diana một phân nhưng bạn ấy mập hơn con nhiều; bạn ấy nói
bạn ấy thích dáng người mảnh mai vì như vậy nhìn sẽ duyên dáng hơn nhiều, nhưng
con e là bạn ấy nói thế chỉ để an ủi con thôi. Bữa nào đó chúng con sẽ đi biển
nhặt vỏ sò. Chúng con đã đồng ý gọi con suối bên dưới cây cầu gỗ là Bong Bóng
Của Nữ Thần Rừng. Đó chẳng phải một cái tên thật thanh nhã sao? Con từng đọc
một câu chuyện về con suối có cái tên đó. Nữ thần rừng là một kiểu tiên trưởng
thành, con nghĩ vậy.”

“Ồ, ta chỉ mong con đừng huyên thuyên quá đáng với Diana, bà
Marilla nói. “Nhưng muốn kế hoạch kế hiếc gì thì cũng phải nhớ điều này nhé,
Anne. Con không được dành toàn bộ hoặc gần như toàn bộ thời gian để chơi bời
đâu. Con sẽ có nhiều việc để làm và phải làm xong rồi mới được chơi đấy.”

Chiếc ly hạnh phúc của Anne đã đầy và ông Matthew lại làm
cho nó tràn ra. Ông vừa từ cửa hàng bách hóa ở Carmody về, rụt rè rút một gói
nhỏ trong túi ra đưa cho Anne và nhìn bà Marilla với vẻ khẩn khoản.

“Ta nghe nói con thích kẹo sô cô la nên đã mua cho con một
ít,” ông nói.

“Hừm,” bà Marilla khịt mũi. “Nó sẽ làm hỏng cả răng và bao
tử của con bé thôi. Này này, bé con, đừng có tỏ ra buồn thảm như thế. Con có
thể ăn chúng vì bác Matthew đã cất công mua về rồi. Lẽ ra bác ấy phải mua kẹo
bạc hà mới đúng. Chúng lành hơn nhiều. Đừng có ăn hết một lúc rồi ốm đấy.”

“Ồ không, thật sự con không định thế đâu,” Anne nói háo hức.
“Con sẽ chỉ ăn một cái tối nay thôi, bác Marilla ạ. Con chia cho Diana một nửa
được không bác? Con sẽ cảm thấy nửa còn lại ngọt ngào gấp đôi nấu con có thể
chia cho bạn ấy một ít. Thật vui khi nghĩ rằng con có gì đó để tặng bạn ấy.”

“Em sẽ nói thế này về đứa nhỏ,” bà Marilla nói khi Anne đã
về phòng, “con bé không keo kiệt. Em mừng đấy, vì trong mọi tính xấu của bọn
nhóc thì em ghét nhất tính keo kiệt. Thật tình, con bé chỉ mới đến nơi này ba
tuần mà cứ như có đã ở đây từ xưa rồi. Em không thể hình dung nổi nơi này mà
không có nó thì sẽ ra sao. Nào, đừng có làm cái vẻ mặt anh-đã-bảo-mà thế nữa,
Matthew. Thấy vẻ mặt đó ở đàn bà đã khó chịu rồi, đừng nói là đàn ông. Em hoàn
toàn sẵn lòng thừa nhận em rất vui vì đã đồng ý giữ con bé lại và càng ngày
càng thích nó, nhưng anh đừng có mà nói đi nói lại mãi chuyện đó, Matthew
Cuthbert.”

Báo cáo nội dung xấu