Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh - Chương 02 - Phần 02
CHƯƠNG 2 - PHẦN 2
“Ừ có, có một con
suối ngay phía dưới căn nhà.”
“Tuyệt diệu! Một
trong những giấc mơ của con là được sống cạnh suối. Dù vậy, con chưa bao giờ
nghĩ mình có thể làm được. Mấy khi giấc mơ biến thành sự thật, phải không bác?
Có phải nếu chúng thành hiện thực thì sẽ tuyệt lắm không? Nhưng hiện giờ con
không thể cảm nhận đích xác được hạnh phúc tuyệt đối bởi vì – à, bác gọi đây là
màu gì?”
Con bé kéo ngay một
bên bím tóc dài mượt mà của mình qua đôi vai gầy và đưa lên trước mắt ông Matthew.
Ông Matthew không quen với việc xác định màu sắc của những bím tóc phụ nữ,
nhưng màu này thì chẳng còn nghi ngờ gì.
“Đỏ, đúng không?”
ông hỏi.
Con bé thả bím tóc
lại phía sau và gieo một tiếng thở dài như thoát ra từ tận đáy lòng, xả hết nỗi
buồn khổ chất chứa qua bao năm tháng.
“Vâng, màu đỏ,” con
bé nói với giọng cam chịu. “Bây giờ bác hiểu vì sao con không thể hạnh phúc
tuyệt đối được rồi đó. Đã mang bộ tóc đỏ như thế này thì ai còn có thể chứ. Con
không để tâm nhiều đến mấy thứ khác – tàn nhang, mắt xanh lá và cả cái vẻ gầy
trơ xương của con nữa. Con có thể tưởng tượng chúng khác đi. Con có thể tưởng
tượng mình có nước da trắng hồng đẹp đẽ và đôi mắt tím long lanh đáng yêu.
Nhưng con không thể tưởng tượng gì khác cho mái tóc đỏ này. Con cố hết sức rồi.
Con tự nhủ, ‘Giờ tóc mình có màu đen óng ả, đen nhánh như mun.’ Nhưng lúc nào
con cũng biết rằng nó chỉ tuyền một màu đỏ, và điều đó làm tim con tan nát. Đây
sẽ là nỗi đau khổ cả đời của con. Có lần con đọc trong tiểu thuyết thấy có một
cô gái cũng có nỗi đau khổ cả đời nhưng không phải vì tóc đỏ. Tóc cô ấy óng
vàng, bồng bềnh xõa ra phía sau từ vầng trán thạch cao tuyết hoa. Thế nào là
vầng trán thạch cao tuyết hoa? Con chưa bao giờ hiểu được. Bác nói con nghe
được không?”
“À ừ, bác e là bác
không thể,” ông Matthew trả lời, tự nhiêu thấy hơi hoa mắt. Ông cảm giác mình
như một lần nữa quay lại thời tuổi trẻ nông nỗi, khi bị một thằng bé khác dụ dỗ
chơi trò ngựa gỗ trong cuộc thi picnic.
“Ồ, dù có là gì thì
nó hẳn cũng phải tuyệt lắm vì cô ấy đẹp như tiên mà. Bác có bao giờ tưởng tượng
xem nếu được đẹp như tiên thì mình sẽ có cảm giác gì không?”
“À ừ, không, chưa
từng,” ông Matthew thành thật thú nhận.
“Con thì có rồi,
thường xuyên là đằng khác. Nếu được chọn, bác thích cái nào hơn – đẹp như tiên
hay thông minh sáng chói hay tốt bụng như thiên thần?”
“À ừ, bác… bác không chắc.”
“Con cũng vậy. Con chưa bao giờ quyết định được. Nhưng
cũng chẳng có khác biệt gì lắm vì dường như con chẳng bao giờ rơi vào trường
hợp nào. Rõ là con không thể tốt như thiên thần rồi. Bà Spencer nói… Ôi chao,
bác Cuthbert! Ôi chao, bác Cuthbert!”
Không phải tại bà Spencer nói gì, cũng chẳng phải do
con bé bị rơi ra khỏi xe ngựa hay ông Matthew đã làm gì gây sốc. Chẳng qua vì
vòng qua cua hết đường và hiện giờ đang ở “Đại Lộ”.
“Đại Lộ”, như cách người Newbridge vẫn gọi, là một
đoạn đường dài khoảng bốn năm trăm thước, hai bên rợp bóng những hàng táo trải
dài, thân đồ sộ, do một nông dân lập dị trồng nhiều năm trước. Che phủ trên đầu
là cả một vòm hoa trắng như tuyết, tỏa hương ngào ngạt. Dưới cành cây, không
khí dày đặc ánh chạng vạng đỏ tía và bầu trời xa xa nhuộm màu hoàng hôn tỏa
rạng như một cửa sổ hoa hồng lớn cuối thánh đường.
Vẻ đẹp đó dường như làm đứa trẻ sững sờ. Con bé ngồi
tựa lưng vào xe, hai bàn tay gầy guộc đan chặt trước mặt say mê ngước lên chiêm
ngưỡng sắc trắng huy hoàng trên đầu. Ngay cả khi họ đã ra khỏi con đường và
đánh xe xuống triền dốc dài đến Newbridge, con bé cũng không nhúc nhích hay nói
câu nào. Vẫn giữ vẻ mặt say mê đó, nó đăm đăm hướng về vầng mặt trời xa xa đang
lặn xuống phía Tây, đôi mắt có thể nhìn thấy cả những ảo ảnh huy hoàng đang
hàng hàng lớp lớp lướt qua cái nền lấp lánh ấy. Xuyên qua Newbridge, một ngôi
nhà nhỏ rộn ràng huyên náo, nơi đàn chó sủa váng lên khi thấy họ còn mấy thằng
bé trai hú huýt và những khuôn mặt tò mò lấp ló qua cửa số, họ đánh xe đi, vẫn
chẳng nói chẳng rằng. Rõ ràng nó
có thể giữ im lặng, cũng cương quyết như khi nó nói chuyện vậy.
“Bác chắc là cháu
thấy mệt và đói lắm rồi,” cuối cùng ông Matthew đánh liều lên tiếng, quy chụp
cho tình trang ngơ ngẩn kéo dài của con bé cho cái lý do duy nhất ông có thể
nghĩ ra được. “Nhưng không còn xa đâu… khoảng một dặm nữa thôi.”
Con bé bừng tỉnh
khỏi giấc mơ với một tiếng thở dài não nề quay nhìn ông bằng ánh mắt mơ màng
của một tâm hồn vừa lang thang theo những vì sao đến nơi nào xa lắm.
“Ôi, bác Cuthbert,”
con bé lẩm bẩm, “nơi chúng ta đã đi qua – nơi trắng xóa đó – là gì
vậy ạ?”
“À, chắc hẳn con
muốn nói đến Đại Lộ,” ông Matthew nói sau lúc lâu ngẫm nghĩ. “Nơi đó
trông khá dễ thương.”
“Dễ thương?
Ồ, dễ thương có vẻ không phải là từ đúng rồi. Đẹp
cũng không phải. Những từ này không đủ để diễn tả. Ồ, nơi đó thật
kỳ diệu, kỳ diệu. Lần đầu tiên con thấy một nơi mà trí tưởng tượng
cũng không thể tô vẽ gì thêm. Con thật hài lòng vì được ở đây,” – con
bé đặt một tay lên ngực – “Nó gây ra một cơn đau lạ lùng đến đến
buồn cười, nhưng là một cơn đau dễ chịu. Bác có bao giờ cảm thấy đau
như thế chưa, bác Cuthbert?”
“À ừ, bác không
thể nhớ mình đã bao giờ thế chưa.”
“Con bị vậy nhiều
lần lắm – bất cứ khi nào con thấy cái gì đó đẹp đến huy hoàng.
Nhưng họ không nên gọi một nơi đáng yêu như vậy là Đại Lộ. Cái tên
chả có nghĩa gì cả. Họ nên gọi là – để con nghĩ xem – Đường Trắng
Hân Hoan. Có phải đó là một cái tên dễ thương gợi lên bao điều không?
Khi không thích tên của nơi nào đó hay của người nào đó, bao giờ con
cũng tưởng tượng ra cái tên mới và luôn luôn nghĩ về họ với cái tên
đó. Có một bạn gái ở trại trẻ mồ côi tên là Hepzibah Jenkins, nhưng
con luôn tưởng tượng bạn ấy tên là Rosalia De Vere. Người khác có thể
gọi nơi đó là Đại Lộ, nhưng con sẽ luôn gọi nó là Đường Trắng Hân
Hoan. Có thật là chỉ còn một dặm nữa là chúng ta sẽ tới nhà không
ạ? Con vui lắm nhưng mà tiếc thật. Con thấy tiếc vì cuốc xe này dễ
chịu quá, mà con thì lúc nào cũng thấy tiếc khi những điều dễ chịu
qua đi. Có thể một điều dễ chịu hơn sẽ tới sau đó, nhưng chúng ta
chẳng thể nào chắc chắn được. Và thường thì nó chẳng dễ chịu hơn.
Dù sao đó cũng là kinh nghiệm của con. Nhưng con rất vui khi nghĩ đến
chuyện sắp đến nhà rồi. Bác thấy đó, từ khi biết suy nghĩ cho đến
giờ, con chưa bao giờ có một mái ấm đích thực. Chỉ cần nghĩ tới
việc đang được đưa đến với một mái ấm đích thực là con lại cảm
thấy một cơn đau dễ chịu nữa rồi. Ôi, chẳng phải tuyệt lắm sao!”
Họ đánh xe qua
đỉnh đồi. Phía dưới là một cái hồ, trong chẳng khác nào con sông
trải dài, uốn khúc. Một cây cầu bắc ngang hồ, và từ đây xuống đến
phía bờ hồ thấp hơn, nơi vành đai đồi cát ngả màu hổ phách ngăn
cách nó với vùng vịnh xanh thẫm bên ngoài, làn nước biến thành một
vầng hào quang với vô vàn sắc màu không ngừng biến đổi – những màu
thần thánh nhất như nghệ tây, hồng và xanh lá thanh tao, kết hợp những
ánh màu li ti huyền ảo không tên. Phía bên kia cây cầu, hồ chạy vào
đôi găng tay đính tua bằng những cây linh sam và phong, rồi lờ mờ ẩn
mình trong những bóng cây dập dờn. Đây đó một cây mận dại ló ra khỏi
bờ sông như một cô nàng trắng trẻo đang nhón chân soi bóng. Từ trong
đầm lầy ở đầu hồ vang lên rõ ràng bài đồng ca ngọt đến nao lòng
của những chú ếch. Một căn nhà nhỏ xam xám lấp ló trong vườn táo
trắng xóa trên con dốc xa xa, và mặc dù trời chưa tối lắm, ánh đèn
vẫn hắt ra từ một trong những khung cửa sổ.
“Đó là hồ Barry,”
ông Matthew giới thiệu.
“Ôi, con cũng
chẳng thích cái tên đó. Con sẽ gọi nó – để xem – Hồ Nước Lấp Lánh.
Phải rồi, đó đúng là tên dành cho nó. Con biết vì đã rùng mình. Cứ
khi nào tìm được một cái tên tuyệt đối phù hợp là con lại rùng
mình. Có thứ gì làm cho bác rùng mình chưa?”
Ông Matthew trầm
ngâm suy nghĩ.
“À ừ, có. Lần
nào nhìn thấy lũ giòi trắng xấu xí ngoi đầu khỏi thảm dưa leo bác
cũng đều rùng mình. Bác ghét nhìn chúng.”
“Ồ, con không nghĩ
hai kiểu rùng mình đó giống hệt nhau. Bác nghĩ chúng có giống nhau
không? Dường như chẳng có mấy liên hệ giữa giòi và Hồ Nước Lấp
Lánh, đúng không ạ? Nhưng sao mọi người gọi nó là hồ Barry vậy?”
“Bác đoán là vì
ông Barry sống ở căn nhà trên đó. Dốc Vườn Quả là tên chỗ ông ấy ở.
Nếu đằng sau nó không có bụi cây lớn kia thì ắt con có thể nhìn
thấy Chái Nhà Xanh từ đây rồi. Nhưng chúng ta sẽ phải qua cầu và
vòng đường đó, nên còn hơn nửa dặm nữa.”
“Ông Barry có đứa
con gái nhỏ nào không ạ? À, không nhỏ quá – cỡ con đó.”
“Ông ấy có một
đứa khoảng mười một tuổi. Tên con bé là Diana.”
“Ôi chao!” cùng
với một hơi hít sâu. “Cái tên đáng yêu quá!”
“À ừ, bác không
biết. Cái tên đó có vẻ ngoại đạo một cách kỳ cục, bác thấy thế.
Bác thích tên Jane, Mary hay đại loại mấy cái tên hợp lý kiểu thế
hơn. Nhưng khi Diana chào đời, có một thầy giáo cũng có mặt ở đó,
vậy là họ nhờ ông ấy đặt tên cho con bé và ông ấy bèn đặt là
Diana.”
“Con ước gì cũng
có một thầy giáo như thế ở bên cạnh lúc con ra đời.
Ồ, chúng ta lên cầu rồi. Con phải nhắm mắt lại thôi. Con lúc nào
cũng sợ qua cầu. Con không thể ngăn mình tưởng tượng rằng có lẽ,
đúng lúc chúng ta đang ở giữa cầu, nó sẽ gấp lại như con dao bỏ túi
và kẹp chúng ta luôn. Nên con nhắm mắt lại. Nhưng con luôn mở to mắt
khi nghĩ mình đã đến gần giữa cầu rồi. Bởi vì, bác biết không, nếu
cái cầu thật sự gấp lại thì con muốn được xem nó
gấp. Nó sẽ gây ra một tiếng ầm ầm sôi động! Con luôn thích cái phần
ầm ầm sôi động đó. Có tuyệt không khi có bao nhiêu thứ trên đời này
để thích? Đây, chúng ta qua rồi. Giờ con sẽ quay nhìn lại. Ngủ ngon
nhé, Hồ Nước Lấp Lánh thân mến. Con luôn chúc những thứ mình yêu
thích ngủ ngon, như con thường làm với mọi người. Con nghĩ họ thích
vậy. Nước cứ như đang cười với con.”
Khi họ đã đánh xe
lên ngọn đồi xa hơn và chuẩn bị đến khúc rẽ, ông Matthew nói:
“Chúng ta gần đến
nhà rồi. Chái Nhà Xanh ở quá…”
“Ô, đừng cho con
biết,” con bé hổn hển ngắt lời, chụp lấy cánh tay đang giơ
lên nửa chừng của ông và nhắm tịt mắt lại để không nhìn thấy
hướng ông chỉ. “Để con đoán, con chắc chắn sẽ đoán đúng mà.”
Con bé mở mắt
nhìn xung quanh. Họ đang ở trên đỉnh đồi. Mặt trời đã xuống núi được
một lát nhưng phong cảnh vẫn rõ nét trong ánh hoàng hôn êm dịu. Phía
Tây, một tháp chuông nhà thờ sẫm màu nhô lên nên trời vàng hoa cúc.
Bên dưới là thung lũng nhỏ và xa xa, một con dốc hơi nhô lên, trải dài
với những nông trại xinh xắn rải rác bên đường. Ánh mắt con bé lướt
từ nơi này đến nơi khác đầy khao khát, háo hức và đăm chiêu. Cuối
cùng họ rẽ vào một lối đi bên tay trái cách biệt hẳn con đường cái,
lờ mờ màu trắng của đám cây cối đang nở hoa trong ánh chạng vạng
của mấy vạt rừng xung quanh. Phía trên, giữa nền trời Tây Nam
trong vắt, một ngôi sao lớn trắng màu pha lê nhấp nháy như ánh đèn dẫn
đường đáng tin cậy.
“Nó đó, đúng
không ạ?” con bé chỉ tay hỏi.
Ông Matthew vui vẻ
ghìm cương trên lưng ngựa.
“À ừ, cháu đoán
ra được rồi! Nhưng ta chắc là bà Spencer đã tả cho cháu nên cháu mới
nói đúng được.”
“Không, bà ấy
không miêu tả gì – thật sự là không. Bà ấy gần như chỉ nói những
thứ chung chung ở nơi nào cũng thế. Con không hề có ý tưởng cụ thể
nhà sẽ trông thế nào. Nhưng ngay khi con nhìn thấy con đã có cảm giác
nó chính là nhà mình. Ôi, cứ như con đang mơ vậy. Bác biết không, tay
con từ khuỷu trở lên hẳn thâm tím hết rồi, vì cả ngày nay con đã tự
cấu véo mình không biết bao nhiêu lần. Cứ chốc chốc, cảm giác thất
vọng khủng khiếp lại tràn tới và con lại sợ rằng tất cả chuyện
này chỉ là một giấc mơ. Vậy là con bèn tự nhéo mình xem nó có
thật hay không – cho đến khi con đột nhiên nhớ ra rằng cho dù chỉ là
giấc mơ thì con cũng nên mơ tiếp đến khi nào còn có thể; nên con không
tự nhéo mình nữa. Nhưng chuyện này là thật và chúng
ta đã gần đến nhà rồi.”
Với một tiếng
thở dài sung sướng, con bé lại chìm vào im lặng. Matthew bứt rứt đổi
tư thế. Ông thấy mừng vì chính Marilla chứ không phải ông sẽ là người
phải nói với đứa trẻ bơ vơ này rằng mái ấm mà nó hằng khao khát
rốt cuộc lại không phải là của nó. Họ đánh xe qua thung lũng nhà
Lynde, nơi đây màn đêm đã buông xuống nhưng trời chưa tối đến mức khiến
bà Rachel không thể nhìn thấy họ từ khung cửa thuận tiện của mình,
rồi cả hai lên đồi tiến vào con đường nhỏ tít tắp của Chái Nhà
Xanh. Ngay khi họ đến chỗ ngôi nhà, ông Matthew bỗng rụt người lại khi
một phát hiện ập đến với luồng năng lượng mà ông không tài nào hiểu
được. Không phải vì Marilla hay vì bản thân mà ông phải suy nghĩ về
rắc rối có thể đến do sai lầm này, mà vì sự thất vọng của đứa
trẻ đó. Khi nghĩ tới ánh sáng vui sướng say mê vụt tắt trong mắt con
bé, ông lại có cảm giác bứt rứt không yên là mình đang tiếp tay cho
một vụ mưu sát – đúng cái cảm giác thường trào lên mỗi khi ông phải
giết một con cừu, bê hay bất cứ sinh linh bé nhỏ vô tội nào.
Khi họ rẽ vào
trong, sân đã tối và những lá bạch dương kêu xào xạc xung quanh.
“Lắng nghe cây nói
chuyện trong giấc ngủ kìa,” con bé thầm thì trong lúc ông nhấc bổng
nó đặt xuống đất. “Hẳn chúng đang có một giấc mơ êm đềm lắm!”
Rồi, tay nắm chặt
túi xách, nơi cất giữ “toàn bộ tài sản đáng giá nhất của mình,”
con bé bước theo ông vào nhà.