Đời ảo - Chương 72 - 73
72
Giám đốc nhà tang lễ cũng là người đã
sắp xếp đám tang của mẹ tôi. Ông tử tế, nồng nhiệt, tóc đen đậm và hàng
ria rậm cứng. Tên ông ta là Frank - “cùng tên với bố cậu”, như lời ông
nói. Ông dẫn tôi vào phòng khách của nhà tang lễ, trông giống như nhà ở
ngoại ô chưa có đồ đạc đầy đủ, với thảm phương Đông và đồ sẫm màu, một
vài phòng trên hành lang chính. Văn phòng ông nhỏ và tối, với tủ hồ sơ
bằng thép lỗi thời và vài bức tranh sao chép đóng khung vẽ hình thuyền
và phong cảnh. Ông không có điểm nào giả tạo; thực sự tỏ ra thông hiểu
tôi. Frank kể chút ít về lúc bố ông mất, sáu năm trước, và bảo chuyện đó
khó khăn như thế nào. Ông đưa tôi một hộp khăn giấy Kleenex nhưng tôi
không cần. Ông ghi chép về cáo phó trên báo - tôi thầm tự hỏi ai sẽ đọc
nó, ai sẽ thực sự quan tâm - và chúng tôi chọn xong lời lẽ. Tôi cố nhớ
tên chị của bố, bà cũng đã mất rồi, cả tên bố mẹ ông, người tôi gặp
không đến mười lần trong đời, và chỉ biết gọi là “bà nội” và “ông nội”.
Quan hệ của bố với ông bà căng thẳng, nên chúng tôi hiếm khi gặp họ. Tôi
hơi lờ mờ về lịch sử công việc dài và phức tạp của bố, nên tôi có thể
đã bỏ qua trường ông từng dạy, nhưng tôi nhớ được những nơi quan trọng.
Frank
hỏi về lý lịch quân sự của bố, và tôi chỉ nhớ rằng ông từng tham gia
huấn luyện cơ bản ở doanh trại nào đó và chưa từng đi đâu đánh trận, và
ông ghét quân đội thậm tệ. Frank hỏi liệu tôi muốn phủ cờ lên quan tài
không, bố tôi có quyền được như thế vì là cựu chiến binh, nhưng tôi bảo
không. Bố hẳn sẽ không muốn có cờ trên quan tài mình. Ông hẳn sẽ xỉ vả
điều đó, hẳn sẽ nói những điều như, “Mày nghĩ tao là ai, John F. Kennedy
nằm trong tang lễ cấp liên bang khốn kiếp à?” Frank hỏi liệu tôi muốn
quân đội chơi điệu “Taps” không, bố cũng có quyền được như thế, và ông
bảo thời nay không có lính kèn, và họ thường bật đĩa thu ở bên mộ. Tôi
bảo không, bố cũng sẽ không muốn “Taps” đâu. Tôi bảo Frank rằng mình
muốn tang lễ và những chuyện khác tổ chức càng sớm càng tốt, ngay khi
ông sắp xếp được. Tôi muốn cố nhanh cho xong.
Frank gọi nhà thờ
Thiên Chúa nơi chúng tôi tổ chức đám tang cho mẹ tôi và lên kế hoạch lễ
tang vào hai ngày tới. Không có họ hàng nào ngoài thành phố, ít nhất như
tôi biết; những người duy nhất còn lại là vài người anh em họ và một bà
cô ông chả gặp bao giờ. Có vài người tôi cho có thể coi là bạn ông, dù
họ chưa nói chuyện với nhau hàng năm trời rồi; họ đều sống quanh đây.
Frank hỏi bố tôi có y phục nào tôi muốn chôn cùng ông không. Tôi bảo có
thể. Tôi sẽ xem lại.
Rồi Frank đưa tôi xuống cầu thang tới một dãy
phòng trưng bày quan tài. Tất cả đều to và sặc sỡ, đúng kiểu bố hẳn sẽ
lấy ra làm trò cười. Tôi còn nhớ hồi mẹ tôi mất, ông từng rủa xả ngành
tang lễ và coi nó là trò gian lận khổng lồ, về cách người ta bơm giá cắt
cổ cho các cỗ quan tài đằng nào cũng bị chôn xuống đất, thế thì để làm
gì chứ, ông còn nghe nói họ thường thay thế quan tài đắt tiền bằng đồ rẻ
tiền bằng gỗ thông khi bạn không để ý. Tôi biết không đúng vậy - tôi đã
thấy quan tài của mẹ hạ xuống, và đất được xúc lên, và tôi không nghĩ
có vụ lừa đảo nào xảy ra nổi trừ phi người ta đến lúc nửa đêm và đào nó
lên, tôi thấy khó tin lắm.
Vì sự ngờ vực này - dù sao cũng là cái
cớ của ông - bố chọn quan tài thuộc loại rẻ nhất cho mẹ, gỗ thông rẻ
tiền nhuộm cho giống gỗ gụ. “Tin tao đi,” ông nói với tôi ở nhà tang lễ
khi mẹ tôi mất, khi tôi còn đang khóc sướt mướt. “Mẹ mày không thích
lãng phí tiền bạc đâu.”
Nhưng tôi sẽ không làm thế với ông, dù ông
đã mất và không biết được sự khác biệt. Tôi lái xe Porsche, tôi sống
trong căn hộ khổng lồ ở Harbor Suites, và tôi có thể mua được một cỗ
quan tài tốt cho bố mình. Với số tiền tôi kiếm được từ công việc ông
không ngừng xỉ vả. Tôi chọn quan tài gỗ gụ trông sang trọng, bên trong
có thứ được gọi là “hộp kỷ niệm”, một ngăn tủ để người ta đặt những đồ
từng thuộc về người đã khuất.
Vài giờ sau, tôi lái về nhà và trèo
lên cái giường chẳng bao giờ được dọn dẹp và lăn ra ngủ. Cuối ngày hôm
đó, tôi lái tới căn hộ của bố và lục lọi trong tủ quần áo, tôi chắc khá
lâu rồi không ai mở nó ra, và thấy một bộ com lê màu xanh trông rẻ tiền
tôi chưa thấy ông mặc bao giờ. Trên mỗi vai đều có dải bụi. Tôi tìm được
áo sơ mi nhưng không có cà vạt - tôi không nghĩ ông từng bao giờ đeo cà
vạt - nên tôi quyết định lấy một cái của mình. Tôi lục khắp căn hộ tìm
những thứ mình nghĩ ông muốn chôn cùng. Một bao thuốc lá, có lẽ vậy.
Tôi
cứ sợ đến căn hộ sẽ khó khăn lắm, rồi tôi sẽ lại bật khóc. Nhưng tôi
chỉ buồn não lòng khi thấy những gì ông để lại ít ỏi như thế nào - mùi
thuốc lá phảng phất, xe lăn, ống thở, ghế bành hiệu Barcalounger. Sau
nửa tiếng khổ sở trong đống đồ của ông, tôi bỏ cuộc và quyết định mình
sẽ không đặt gì vào “hộp kỷ niệm”. Cứ để nó trống rỗng như một biểu
tượng, sao lại không?
Khi về đến nhà, tôi lấy chiếc cà vạt mình ít
yêu thích nhất, cà vạt xanh-và-trắng trông vừa đủ u sầu, và tôi không
tiếc bỏ đi. Tôi không muốn quay lại nhà tang lễ nên mang nó xuống bàn
của người giữ cửa và bảo đem chuyển nó đi.
Ngày hôm sau là ngày
viếng người đã khuất. Tôi tới nhà tang lễ sớm hơn bắt đầu hai mươi phút.
Nơi này bật điều hòa tới mức gần như lạnh buốt, và sực mùi chất làm
thơm phòng. Frank hỏi tôi muốn “kính viếng” bố một mình không, và tôi
đồng ý. Ông chỉ về một căn phòng bên kia hành lang. Khi vào phòng, thấy
quan tài đang mở, tôi như bị giật điện. Bố nằm đó mặc bộ com lê rẻ tiền
màu xanh và đeo cà vạt sọc xanh của tôi, tay vắt chéo trên ngực. Tôi
thấy cổ họng mình sưng lên, nhưng thoáng qua nhanh chóng, và tôi không
bật khóc, thật lạ lùng. Tôi chỉ thấy trống rỗng.
Ông nhìn không
thật chút nào, nhưng người ta chẳng bao giờ, chẳng bao giờ như thế cả.
Frank hay bất cứ ai chịu trách nhiệm đã làm tốt việc mình - không bôi
quá nhiều sáp môi hay gì đó - nhưng trông bố vẫn giống một bức tượng
trưng bày bằng sáp trong viện bảo tàng Madame Tussaud, giữa những hình
nhân giống thật nhất. Sinh khí đã rời khỏi cơ thể và người làm tang lễ
không thể làm gì để đưa nó quay trở lại. Mặt ông “hồng hào” giả tạo.
Dường
như trên môi điểm son nâu nhạt. Ông nhìn ít giận dữ hơn khi ở bệnh
viện, nhưng họ vẫn không thể làm ông trông thanh thản được. Tôi đoán họ
chỉ làm được có hạn để duỗi đôi lông mày khỏi nhăn lại. Da ông giờ đây
lạnh giá, và bợt bạt hơn lúc ở bệnh viện. Tôi do dự một lúc rồi hôn má
ông; cảm giác lạ lùng, không tự nhiên, không sạch sẽ.
Tôi đứng đó
nhìn cái vỏ xác thịt, cái bao bị vứt bỏ này, đó là cái kén từng chứa
đựng linh hồn bí ẩn và đáng sợ của bố mình. Và tôi bắt đầu nói chuyện
với ông, vì tôi đoán hầu hết tất cả những người con đều nói chuyện với
bố khi ông mất. “Bố ạ,” tôi nói. “Cuối cùng bố cũng rời khỏi đây. Nếu
thực sự có cuộc sống sau khi chết, con hy vọng bố sẽ hạnh phúc ở đó hơn
nơi này.”
Tôi thấy thương tiếc cho ông, có lẽ đó là điều tôi không
bao giờ cảm nhận được khi ông còn sống. Tôi nhớ vài lần ông thực sự
hạnh phúc, khi tôi còn nhỏ và ông kiệu tôi đi chơi. Rồi lần đội bóng của
ông đoạt giải vô địch. Vài lúc như vậy. Nhưng ông hiếm khi cười, trừ
khi phá lên điệu cười cay đắng. Có lẽ ông cần dùng thuốc chống suy
nhược, có lẽ đó chính là vấn đề của ông, nhưng tôi ngờ lắm. “Con không
hiểu được bố nhiều,” tôi nói. “Nhưng con thực sự đã cố hiểu.”
Chẳng
mấy ai đến trong ba giờ đồng hồ đó. Có vài người bạn từ thời trung học
của tôi, một số đi với vợ, và hai người bạn đại học. Bà dì Irene tới một
lúc và bảo, “Bố cháu thật may mắn khi có cháu.” Giọng bà hơi mang chất
Ailen và bà dùng loại nước hoa sặc mùi mà các quý bà nhiều tuổi hay
dùng. Seth đến sớm và về muộn, ở bên cạnh tôi. Cậu ta kể chuyện về bố,
cố làm cho tôi cười, những giai thoại từ thời ông còn làm huấn luyện
viên, những chuyện đã thành truyền kỳ giữa bạn bè tôi ở trường
Bartholomew Browning. Có lần ông lấy bút đánh dấu và vẽ một đường thẳng
ngay giữa mặt nạ của một thằng nhóc, một đứa ngốc nghếch tên là Pelly,
rồi xuống đồng phục tới tận giày, và xuống cỏ thành đường dài dọc sân
bóng, thậm chí dù bút đánh dấu không để lại vết trên cỏ được, và ông
nói, “Em chạy hướng này, Pelly, hiểu không? Đây là hướng em chạy.”
Có
lần ông gọi hội ý rồi đi tới một cầu thủ bóng bầu dục tên là Steve, nắm
lấy mặt nạ cậu ta và bảo, “Em có ngu không, Steve?” Rồi không đợi Steve
trả lời, ông giật mặt nạ lên xuống, khiến Steve gật đầu như con búp bê.
“Có, thưa huấn luyện viên,” ông the thé giả giọng Steve. Cả đội thấy
hài hước và phần lớn phá lên cười. “Có, em ngu.”
Có ngày ông gọi
hội ý giữa trận khúc côn cầu và la mắng một thằng nhóc tên là Resnick vì
chơi quá thô bạo. Ông vớ lấy gậy côn cầu của Resnick nói, “Anh Resnick,
nếu tôi còn thấy anh đâm cầu thủ khác bằng chuôi gậy” - và ông thọc
mạnh gậy vào bụng Resnick, ngay lập tức khiến nó bị nôn - “hay đầu gậy” -
và ông lại thúc gậy vào bụng nó - “tôi sẽ tiêu diệt anh.” Và Resnick
nôn ra máu, và rồi nôn khan. Không ai cười cả.
“Ờ,” tôi nói. “Ông thật vui tính nhỉ?” Lúc này tôi muốn cậu ta đừng kể nữa, và may mắn thay, Seth ngừng lời.
Buổi
tang lễ sáng hôm sau, Seth ngồi bên cạnh tôi trên ghế nhà thờ, bên kia
là Antwoine. Vị linh mục tóc bạc và đạo mạo, trông như một vị bộ trưởng
trên ti vi, là Cha Josepth Iannucci. Trước đám tang, Cha gọi tôi sang
bên và hỏi đôi chút về bố - “tín ngưỡng”, ông trông như thế nào, ông
kiếm sống ra sao, ông có sở thích nào không, những câu hỏi như thế. Tôi
bí rì rì.
Có khoảng hai mươi người trong nhà thờ, vài người là
giáo dân đến dự tang lễ và không biết bố. Vài người khác là bạn tôi thời
trung học và đại học, rồi bạn bè trong vùng và bà lão nhà bên cạnh. Một
người “bạn” của bố đến, ông ta từng ở câu lạc bộ Kiwanis cùng bố cách
đây nhiều năm, cho đến khi bố bỏ đi vì tức giận chuyện vặt vãnh nào đó.
Ông thậm chí còn không biết bố bị ốm. Có vài anh em họ lớn tuổi tôi chỉ
lờ mờ nhận ra.
Seth và tôi hộ tang cùng với những người ở nhà thờ
và nhà tang lễ. Trước cửa nhà thờ có một vòng hoa - tôi không biết tại
sao nó lại ở đấy, có người gửi hoa hay do nhà tang lễ mang đến.
Đám
tang là nghi lễ dài không tưởng nổi, đầy đứng lên với ngồi xuống và
quỳ, có lẽ để bạn không ngủ gục. Tôi mệt lử, mờ mịt, vẫn còn sốc nặng.
Cha Iannucci gọi bố là “Francis” và vài lần đọc tên đầy đủ của ông,
“Francis Xavier”, như thể muốn bảo ông là tín đồ Thiên Chúa ngoan đạo
chứ không phải lão vô thần mà mối liên hệ duy nhất với Chúa là gọi tên
Người trong những lời rỗng tuếch. Cha nói, “Chúng ta đều thương tiếc khi
phải chia tay với Francis, chúng ta đau buồn trước sự ra đi của ông,
nhưng chúng ta tin rằng ông đến với Chúa, rằng ông tới một nơi tốt đẹp
hơn, và giờ ông cùng chia sẻ sự hồi sinh của Chúa bằng một cuộc sống
mới.” Cha hỏi, “Tại sao Francis phải chịu đựng nhiều như vậy trong những
tháng cuối cùng của cuộc đời?” rồi trả lời điều gì đó về sự chịu đựng
của Chúa và nói “Chúa không bị đánh bại hay khuất phục trước khổ đau.”
Tôi không rõ ông muốn nói điều gì, nhưng tôi cũng không lắng nghe lắm.
Tôi thần người đi.
Khi kết thúc, Seth ôm tôi, rồi Antwoine ôm và
bắt tay tôi thật chặt, và tôi ngạc nhiên khi thấy một giọt nước mắt rớt
xuống trên mặt anh chàng to con này. Tôi không khóc suốt cả buổi lễ; tôi
không hề khóc cả ngày hôm nay. Tôi thấy mình như bị gây mê. Có lẽ với
tôi chuyện đã qua rồi.
Dì Irene run rẩy ra chỗ tôi và nắm lấy tay
tôi bằng cả hai tay mềm yếu da đã đồi mồi. Son đỏ chót trên môi bà được
tô bằng bàn tay run rẩy.
Mùi nước hoa sặc sụa đến mức tôi phải nín
thở. “Bố cháu rất tốt,” bà nói. Bà dường như đọc được gì đó trên mặt
tôi, sự nghi ngờ tôi không định để lộ, và bảo, “Ta biết ông không phải
là người dễ dàng chấp nhận tình cảm của mình, ông không thoải mái khi
biểu lộ cảm xúc. Nhưng ta biết ông yêu cháu.”
Được rồi, nếu dì
nhất định thế, tôi nghĩ, rồi cười và cảm ơn bà. Ông bạn của bố ở
Kiwanis, một người to lớn trạc tuổi bố nhưng nhìn phải trẻ hơn tới hai
mươi tuổi, nắm lấy tay tôi và bảo: “Xin chia buồn với cháu.” Thậm chí cả
Jonesie, người công nhân ở khu bốc dỡ của hãng Viễn thông Wyatt cũng
đến với vợ, Esther. Cả hai đều nói chia buồn với tôi.
Tôi đang rời
nhà thờ, chuẩn bị vào xe limousine để theo xe tang đến nghĩa trang thì
thấy một người ngồi ở hàng ghế cuối. Người này tới sau khi tang lễ bắt
đầu một lúc, nhưng từ xa, dưới ánh đèn tối bên trong nhà thờ, tôi không
nhìn rõ mặt ông.
Ông quay lại và bắt gặp ánh mắt tôi.
Đó là Goddard.
Tôi
không tin nổi. Ngạc nhiên và cảm động, tôi chầm chậm bước đến chỗ ông.
Tôi mỉm cười, cảm ơn ông đã tới. Ông lắc đầu, xua tay từ chối lời cảm
ơn.
“Tôi tưởng ông ở Tokyo?” tôi nói.
“Ôi dào, đâu phải bộ phận châu Á Thái Bình Dương chưa bắt tôi đợi hết lần này đến lần khác.”
“Tôi không...” Tôi lóng ngóng, hoài nghi. “Ông xếp lại lịch công tác?”
“Một trong những điều ít ỏi tôi học được trên đời là biết xác định thứ tự ưu tiên quan trọng như thế nào.”
Tôi
không nói nổi nên lời trong phút chốc. “Sáng mai tôi sẽ quay lại công
ty,” tôi nói. “Có lẽ hơi muộn, vì chắc tôi phải giải quyết một số
chuyện...”
“Không sao,” ông bảo. “Cứ từ tốn mà làm. Chậm thôi.”
“Tôi ổn rồi, thật đó.”
“Nên tử tế với chính mình, Adam. Chúng ta sẽ xoay xở được khi vắng anh ít lâu.”
“Không
phải - không giống chuyện với con trai ông đâu, Jock. Ý tôi là bố tôi
đã ốm yếu vì bệnh khí thũng khá lâu rồi, và... thế này thực tốt hơn. Ông
ấy cũng muốn ra đi.”
“Tôi biết cảm giác đó,” ông khẽ khàng nói.
“Chúng
tôi thực tình cũng không thân thiết đến thế.” Tôi nhìn quanh bên trong
nhà thờ tối lờ mờ, những hàng ghế gỗ, các bức tranh vàng và đỏ trên
tường. Vài người bạn đang đứng ở cửa đợi nói chuyện với tôi. “Tôi có lẽ
không nên nói như vậy, đặc biệt là ở đây, đúng không?” Tôi cười buồn bã.
“Nhưng ông ấy không phải là người dễ gần, ông già khắc nghiệt, như thế
chuyện ông mất với tôi cũng dễ dàng hơn. Tôi cũng không suy sụp hoàn
toàn hay gì cả.”
“Ồ, không, như thế càng khó khăn hơn, Adam. Rồi anh sẽ thấy. Khi mà tình cảm của anh lại phức tạp đến thế.”
Tôi thở dài. “Tôi không nghĩ tình cảm của mình với ông ấy là - từng là - phức tạp.”
“Rồi
sau nó sẽ ập tới. Những cơ hội bỏ lỡ. Những điều có thể đã xảy ra.
Nhưng tôi muốn anh nhớ như thế này: Bố anh thật may mắn mới có anh.”
“Tôi không cho là ông ấy nghĩ mình...”
“Đúng vậy. Bố anh, ông ấy là người may mắn.”
“Tôi
chẳng nghĩ thế đâu,” tôi nói, và đột nhiên, không hề báo trước, cái van
bị khóa trong tôi trượt đi, con đập vỡ tan, nước mắt tôi trào lên. Mặt
đỏ bừng xấu hổ vì nước mắt cứ chảy xuống mặt, tôi thốt lên, “Xin lỗi,
Jock.”
Ông đưa cả hai tay lên đặt trên vai tôi. “Nếu anh không khóc được, anh không còn sống nữa,” Goddard nói. Mắt ông ươn ướt.
Giờ
tôi khóc như đứa bé, và tôi vừa xấu hổ vừa có chút gì nhẹ nhõm. Goddard
vòng tay ôm chặt lấy tôi, và tôi thổn thức như thằng ngốc.
“Tôi muốn anh biết điều này, con trai,” ông nói, rất khẽ khàng. “Anh không đơn độc đâu.”
73
Ngay
sau ngày tang lễ tôi quay lại làm việc. Tôi làm được gì chứ, quanh quẩn
ủ rũ ở nhà ư? Tôi không suy sụp đến thế, dù tôi thấy trầy trật, như đã
bị tước đi một lớp da. Tôi cần ở xung quanh mọi người. Và có lẽ, giờ sau
khi bố mất, ở cạnh Goddard sẽ khiến tôi được an ủi, ông bắt đầu trở
thành điều gần với người bố nhất mà tôi từng có. Không phải tôi bị mụ mị
đi như đang ngồi trước mặt bác sĩ tâm lý, nhưng có chuyện đã thay đổi,
với tôi, sau khi ông tới lễ tang. Tôi không còn tự mâu thuẫn hay có thái
độ hai chiều về cái gọi là nhiệm vụ thực của mình ở Trion, “lý do thật
sự” mình ở đây - bởi nó không còn là lý do thật sự nữa.
Ít nhất
theo tính toán của tôi, tôi đã làm phần mình, trả xong nợ, và tôi xứng
đáng được có một quá khứ sạch sẽ. Tôi không còn làm việc cho Nick Wyatt
nữa. Tôi ngừng trả lời điện thoại hay thư điện tử của Meacham. Một lần
tôi thậm chí còn nhận được thư thoại trên điện thoại di động từ Judith
Bolton. Ả không để lại tên, nhưng tôi nhận được giọng ngay lập tức.
“Adam,” ả bảo. “Tôi biết anh đang trải qua một gian đoạn khó khăn. Tất
cả chúng tôi đều rất buồn vì bố anh qua đời, và chúng tôi xin chia buồn
sâu sắc với anh.”
Tôi có thể mường tượng cuộc họp chiến lược giữa
Judith, Meacham và Wyatt, đầy tức giận và phẫn nộ vì con diều của chúng
đã bứt khỏi dây. Judith sẽ nói gì đó rằng chúng nên nhẹ tay với hắn, hắn
vừa mất bố, và Wyatt sẽ nói gì đó độc miệng, bảo lão chẳng thèm quan
tâm, đồng hồ đã điểm rồi, và Meacham cố lấy điểm với sếp về chuyện chúng
sẽ nướng tôi trên lửa và đập tôi tơi tả như thế nào; và Judith bảo
không, chúng ta phải tiếp cận hắn khéo léo hơn, để tôi thử nắm bắt
hắn...
Thư thoại tiếp tục, “Nhưng việc anh tiếp tục giữ liên hệ
thường xuyên cực kỳ quan trọng, thậm chí ngay cả trong lúc rối ren này.
Tôi muốn tất cả chúng ta giữ thái độ tích cực và thành thật, Adam, nhưng
tôi cần anh liên lạc ngay hôm nay.”
Tôi xóa tin nhắn của cô ta
cũng như của Meacham. Chúng sẽ hiểu vấn đề. Sẽ tới lúc tôi chính thức
gửi thư điện tử cho Meacham để chấm dứt quan hệ, nhưng vào lúc này, tôi
nghĩ mình cứ nhử chúng trong khi tình thế này thấm vào đầu chúng. Tôi
không còn là con diều của Nick Wyatt nữa.
Tôi đã cho chúng những gì chúng cần. Chúng sẽ nhận ra cứng rắn cũng chẳng để làm gì.
Chúng
có thể đe dọa, nhưng chúng không thể buộc tôi tiếp tục làm cho chúng.
Miễn là tôi còn ghi nhớ chúng thực sự chẳng làm được gì, tôi có thể cứ
thế bỏ đi.
Tôi chỉ cần ghi nhớ thật kỹ. Tôi có thể cứ thế bỏ đi.

