Đời ảo - Chương 24 - 25
24
Nhà của Nick Wyatt nằm ở khu ngoại ô
khá giả nhất, nơi mà ai cũng từng nghe đến, giàu có tới mức người ta
biến nó thành chuyện cười. Nó thực là khu cao cấp thái quá nhất, hào
nhoáng nhất và to nhất trong cái thành phố vốn đã nổi tiếng vì những
dinh thự cao cấp thái quá, hào nhoáng và to tướng. Rõ là Wyatt coi trọng
việc sống trong ngôi nhà mà ai cũng nhắc, ngôi nhà lên bìa tờ Tập san Kiến trúc,
ngôi nhà mà cánh phóng viên địa phương lúc nào cũng cố tìm cớ để vào
được đặng viết bài. Họ ưa há hốc miệng kinh ngạc trước mô hình San Simen
bằng Silicon. Họ thích mấy thứ Nhật Bản, cảnh Thiền thanh bình giản dị
một cách giả tạo, đối lập đến kệch cỡm với cả đoàn ô tô Bentley mui trần
và giọng the thé hoàn toàn chẳng Thiền tí nào của lão.
Trong
phòng Quan hệ Công chúng của hãng Viễn thông Wyatt có một người chuyên
lo quảng bá hình ảnh cá nhân cho Nick Wyatt, đặt tin trên tờ Nhân dân và Nước Mỹ Ngày nay hay
bất cứ tờ nào khác. Thỉnh thoảng hắn lại tung ra các câu chuyện về dinh
thự của Wyatt, nhờ thế mà tôi biết rằng nó đáng giá năm mươi triệu đô,
rằng nó to và phong lưu còn hơn cả căn nhà bên hồ ở gần Seattle của Bill
Gates, rằng nó là bản sao của một cung điện Nhật từ thế kỷ mười bốn mà
Wyatt đã cho xây ở Osaka rồi chuyển từng phần về Mỹ. Bao quanh nó là bốn
mươi mẫu vườn Nhật đầy các loại hoa cỏ quý hiếm, vườn đá, thác nước
nhân tạo, hồ nhân tạo, cầu gỗ cổ đưa về từ Nhật. Thậm chí cả những viên
đá to nhỏ khác nhau lát trên đường lái xe vào cũng được chuyển về từ
Nhật. Dĩ nhiên tôi không thấy được điều đó khi đang lái xe lên lối vào
dài bất tận. Tôi thấy chòi gác bằng đá và cửa sắt cao ngất tự động mở
ra, rồi dường như hàng dặm tre, một bãi đỗ xe với sáu xe Bentley mui
trần đủ màu sắc xếp như một thỏi kẹo Lifesavers sáu mầu (lão không dùng
xe cơ bắp Mỹ đâu), và một ngôi nhà gỗ nền thấp có tường đá cao bao
quanh.
Tôi đã nhận được lệnh tới đây do Meacham gửi tới qua thư
điện tử bảo mật - thông báo của “Arthur” tới tài khoản Hushmail, gửi
bằng chương trình “vô danh” của Phần Lan, hệ tái gửi thư không thể lần
ra. Có cả đống ngôn từ mã hóa khiến bức thư giống như lời xác nhận đơn
đặt hàng của tôi với người bán hàng nào đó trên mạng, nhưng thực ra nó
cho tôi biết thời gian và địa điểm.
Meacham đã cho tôi hướng dẫn
chính xác phải đến đâu và bằng cách nào. Tôi phải đến bãi đỗ xe của một
nhà hàng Denny’s rồi đợi chiếc Lincoln xanh thẫm và theo nó tới nhà của
Wyatt. Tôi nghĩ chuyện này nhằm xác định chắc chắn tôi không bị theo đến
đây. Họ có hơi hoang tưởng một chút, tôi nghĩ, nhưng tôi là ai mà dám
tranh cãi chứ? Rốt cuộc thì tôi mới là gã trên ghế nóng.
Ngay khi
tôi ra khỏi xe, chiếc Lincoln phóng đi. Một người Philippin ra mở cửa,
bảo tôi cởi giày. Hắn dẫn tôi vào một phòng đợi bày biện những tấm bình
phong Nhật, chiếu tatami và bàn sơn mài thấp, rồi một cái đi văng thấp
vuông vắn màu trắng, trông như dùng nệm futon. Không thoải mái cho lắm.
Tôi giở qua các tạp chí sắp hàng đầy nghệ thuật trên bàn cà phê màu đen
- The Robb Report, Tạp chí Kiến trúc (hiển nhiên cả số có hình dinh thự của Wyatt ở trên bìa), và danh mục của nhà đấu giá Sotheby.
Cuối
cùng thì người trông nhà, gọi hắn thế nào cũng được, lại xuất hiện và
gật đầu với tôi. Tôi theo hắn đi xuống một hành lang dài về phía căn
phòng khác cũng gần như trống huơ trống hoác, tôi có thể thấy bên trong
Wyatt ngồi ở đầu một cái bàn ăn màu đen dài và thấp.
Khi chúng tôi
tiến đến cửa vào phòng ăn, tôi đột nhiên nghe thấy tiếng chuông báo
động chói tai, to kinh khủng. Tôi hoang mang nhìn quanh, nhưng trước khi
kịp hiểu chuyện gì thì tôi đã bị gã người Philippin và một tên khác
bỗng dưng xuất hiện tóm lấy và cả hai vật tôi xuống sàn. Tôi kêu lên,
“Cái mẹ gì vậy?” và chống cự chút ít, nhưng hai tên này khỏe như lực sĩ
sumo vậy. Rồi tên thứ hai giữ tôi trong khi gã người Philippin rà tôi từ
trên xuống dưới. Chúng tìm gì chứ, vũ khí à? Gã người Philippin tìm
thấy máy nghe nhạc iPod MP3 liền giật ra khỏi cặp đi làm của tôi.
Hắn
nhìn nó, nói gì đó bằng bất cứ cái ngôn ngữ nào mà người ta nói ở
Philippin, rồi đưa nó cho tên còn lại, gã này soi mói, lật qua lật lại
rồi lảm nhảm cộc cằn không thể hiểu nổi.
Tôi ngồi dậy. “Các anh
lúc nào cũng đón chào khách của ông Wyatt như thế này à?” tôi nói. Người
quản gia cầm lấy chiếc iPod, vào phòng ăn trao cho Wyatt, lão vẫn theo
dõi sự vụ từ nãy giờ. Wyatt trả nó lại cho gã người Philipin mà thậm chí
không để mắt nhìn qua.
Tôi đứng lên. “Trước giờ các anh chưa bao giờ thấy thứ gì như thế à? Hay là nhạc từ bên ngoài không được mang vào chỗ này sao?”
“Họ
chỉ đề phòng thôi,” Wyatt nói. Lão mặc áo sơ mi bó dài tay màu đen,
chắc bằng vải lanh và có lẽ là giá còn cao hơn số tiền tôi kiếm được
trong một tháng, thậm chí ngay cả bây giờ khi làm ở Trion. Dường như lão
rám nắng hơn mọi khi. Tôi nghĩ chắc lão phải ngủ trên giường tắm nắng.
“Sợ tôi giấu đồ gì đó sao?” tôi lên tiếng.
“Tao
chẳng ‘sợ’ cái gì cả, Cassidy. Tao thích ai cũng phải chơi đúng luật.
Nếu mày khôn và không định tỏ ra ranh mãnh thì mọi thứ vẫn tốt đẹp. Đừng
có nghĩ đến việc thử làm một cái ‘hợp đồng bảo hiểm’, bởi bọn tao đi
trước mày nhiều rồi.” Khôi hài thay, ý nghĩ đó chưa bao giờ xuất hiện
trong đầu tôi cho tới khi lão nhắc đến.
“Tôi không hiểu.”
“Tao
muốn nói là nếu mày định làm gì đó ngu xuẩn kiểu như thu băng cuộc gặp
của chúng ta hay bất cứ cuộc gọi nào từ tao hay bất cứ ai liên quan đến
tao, chuyện sẽ không hay cho mày đâu. Mày không cần bảo hiểm, Adam. Tao chính là bảo hiểm của mày.”
Một
phụ nữ Nhật xinh đẹp mặc kimono xuất hiện bê một cái khay và trao cho
lão cuộn khăn nóng với kẹp bằng bạc. Lão lau tay rồi đưa nó lại cho cô
ta. Nhìn gần thì chắc chắn lão từng đi căng da mặt. Da quá căng, khiến
mắt lão trông gần như mắt người Eskimo.
“Điện thoại ở nhà mày
không an toàn,” lão tiếp tục. “Thư thoại ở nhà, trên máy tính hay điện
thoại di động cũng vậy. Mày chỉ được chủ động liên lạc với bọn tao trong
trường hợp khẩn cấp, ngoại trừ để phản hồi yêu cầu của bọn tao. Trong
các trường hợp khác, bọn tao sẽ liên hệ với mày bằng thư bảo đảm được mã
hóa. Giờ thì mày cho tao thấy cái gì đây?”
Tôi đưa lão đĩa CD về
tất cả nhân sự được tuyển vào Trion gần đây mà tôi đã tải về từ website
cùng với vài tờ giấy đầy chữ đánh máy. Trong khi lão đọc những ghi chép
của tôi, người phụ nữ Nhật mang một cái khay khác quay lại và bắt đầu
xếp trước mặt Wyatt một loạt những miếng sushi và sashimi nhỏ, hoàn hảo
trông như được chạm trổ, bày trong hộp sơn mài màu gụ, với những ụ cơm
trắng nhỏ, wasabi xanh nhạt và các lát gừng ngâm ửng hồng. Wyatt không
nhìn lên; hắn quá nhập tâm vào những ghi chép tôi mang tới. Sau vài
phút, hắn nhấc cái điện thoại đen nhỏ trên bàn lên, nãy giờ tôi không để
ý thấy nó, và hạ giọng nói gì đó. Tôi nghĩ là mình đã nghe thấy từ
“fax”.
Cuối cùng lão nhìn tôi. “Khá lắm,” lão nói. “Rất thú vị.”
Một
người phụ nữ khác xuất hiện, trung tuổi, nghiêm nghị, mặt nhăn nheo,
tóc bạc, kính đeo trên dây quanh cổ. Bà ta cười, nhận từ lão thếp giấy
rồi đi mà không nói gì. Lão có thư ký thường trực cả đêm ư?
Wyatt
cầm đũa và gắp một miếng cá sống bỏ vào miệng, vừa trầm ngâm nhai vừa
nhìn tôi. “Mày hiểu sự ưu việt của chế độ ăn Nhật Bản chứ?” lão hỏi.
Tôi nhún vai. “Tôi cũng thích mấy thứ như món Tempura.”
Hắn
cười khẩy và lắc đầu. “Tao không nói về món Tempura. Mày nghĩ tại sao
Nhật lại dẫn đầu thế giới về tuổi thọ bình quân chứ? Một chế độ ăn ít
chất béo, giàu protein, nhiều đồ ăn từ thực vật, nhiều chất chống ôxy
hóa. Họ ăn đậu tương nhiều gấp bốn mươi lần chúng ta. Hàng thế kỷ nay họ
không ăn cái gì có bốn chân.”
“Vâng,” tôi nói, rồi nghĩ: Và ý lão là...?
Lão lại làm một mồm đầy cá. “Mày thực sự nên nghiêm chỉnh nâng cao chất lượng cuộc sống đi. Mày bao nhiêu nhỉ, hai nhăm?”
“Hai sáu.”
“Mày
còn vài chục năm phía trước. Hãy chăm sóc cơ thể mình. Hút thuốc, uống
rượu, hăm bơ gơ Bic Macs và những thứ tạp nham đó - mày phải bỏ đi. Tao
ngủ ba giờ mỗi đêm. Không cần nhiều hơn. Mày vui vẻ chứ, Adam?”
“Không.”
“Tốt. Mày không đến đó để vui vẻ. Mày thoải mái ở Trion trong vai trò mới không?”
“Tôi vẫn đang nghiên cứu đường đi nước bước, sếp tôi là hạng chó cái nghiêm chỉnh...”
“Tao không nói về vỏ bọc của mày. Tao đang nói về công việc thật sự của mày - vụ xâm nhập.”
“Thoải mái? Không, chưa đâu.”
“Nó khá rủi ro. Tao hiểu sự khổ cực của mày. Mày vẫn gặp bạn bè cũ chứ?”
“Vẫn gặp.”
“Tao
không mong mày vứt bỏ chúng. Như thế có thể sẽ gây nghi ngờ. Nhưng tốt
hơn hết mày nên chắc chắn là câm cái miệng mắc dịch lại, nếu không thì
sẽ ngập trong phân đó.”
“Tôi hiểu.”
“Tao cho là tao không phải nhắc nhở mày về hậu quả nếu như thất bại nữa.”
“Tôi không cần nhắc nhở.”
“Tốt. Việc của mày khó đấy, nhưng thất bại sẽ còn tệ hơn nhiều.”
“Thực ra là tôi cũng thinh thích làm ở Trion.” Tôi chỉ nói thật lòng, nhưng tôi biết với lão đó sẽ là một cú quất.
Lão ngước lên, vừa cười tự mãn vừa nhai. “Nghe thế tao rất mừng.”
“Đội của tôi đang chuẩn bị thuyết trình cho Augustine Goddard, cũng sắp rồi.”
“Anh
bạn già Jock Goddard hả. Ờ, mày sẽ sớm nhận ra lão là thằng khùng lảm
nhảm lên mặt đạo đức và giả tạo. Tao nghĩ lão thực sự tin vào mấy mẩu
tin nịnh bợ đó, món rác rưởi ‘lương tâm công nghệ cao’ thường thấy trong
tờ Fortune. Tin sái cổ là phân mình không thối.”
Tôi gật
đầu; tôi biết nói gì chứ? Tôi không biết Goddard, nên chẳng thể đồng ý
hay không, nhưng sự ghen tị của Wyatt thì rõ lù lù ra.
“Khi nào mày thuyết trình cho lão thối tha đó?”
“Trong vài tuần tới.”
“Có lẽ tao sẽ giúp được cái gì đó.”
“Sự trợ giúp nào tôi cũng cần hết.”
Điện
thoại đổ chuông và lão nhấc nó lên ngay. “Đây?” Lão nghe vài phút.
“Được rồi,” lão nói và dập máy. “Mày đã đánh trúng cái gì đó. Trong một
hai tuần tới, mày sẽ nhận được lai lịch đầy đủ về cô nàng Alana Jennings
này.”
“Chắc chắn rồi, như những gì tôi có về Lundgren và Sommers.”
“Không, đây là mức độ chi tiết khác hẳn.”
“Tại sao?”
“Vì
mày sẽ muốn nối bước ả. Ả là đường vào cho mày. Và giờ mày đã có một
cái mã, tao muốn có tên của tất cả những ai có liên hệ với AURORA về bất
cứ mặt nào. Tất cả, từ giám đốc dự án xuống đến cả lao công.”
“Làm thế nào?” Tôi hối hận ngay khi vừa cất lời.
“Tự đoán đi. Đó là việc của mày, trời ạ. Và tao muốn ngay ngày mai.”
“Ngày mai?”
“Đúng.”
“Được
rồi,” tôi nói, chỉ có chút xíu phản kháng len vào giọng. “Và rồi sếp sẽ
có cái mình cần, đúng không? Và thế là chúng ta xong chuyện.”
“Ồ
không,” hắn nói. Hắn nhăn nhở những cái răng to trắng bóc. “Đây chỉ là
bắt đầu, anh bạn. Chúng ta chỉ mới hơi chạm tới bề mặt mà thôi.”
25
Tới
giờ thì tôi làm việc như điên, và lúc nào cũng mệt nhoài. Ngoài giờ
hành chính làm ở Trion, tôi bỏ ra nhiều giờ làm muộn tới đêm, hàng đêm,
nghiên cứu bằng Internet hoặc đọc các tài liệu tình báo cạnh tranh do
Meacham và Wyatt gửi tới, những tài liệu khiến tôi có vẻ rất thông minh.
Đôi lần tôi suýt ngủ gục trên vô lăng khi đang lái xe trên quãng đường
tắc nghẽn dài dằng dặc để về nhà. Rồi tôi sẽ mở choàng mắt, bừng tỉnh và
ngừng lại trong giây cuối để kịp tránh nguy cơ chệch sang làn đường
ngược chiều hay đâm vào xe phía trước. Sau bữa trưa tôi thường bắt đầu
lả đi, và phải dùng một lượng lớn cafein để giữ mình không khoanh tay
lại và mê đi luôn trong khoang làm việc. Tôi sẽ mơ tưởng tới chuyện về
nhà sớm và chui vào chăn trong cái lỗ tối tăm của mình rồi đánh một giấc
say sưa ngay giữa chiều. Tôi sống bằng cà phê, Diet Pepsi và Red Bull.
Bạn có thể thấy mắt tôi thâm quầng, ít nhất thì bọn mê công việc còn tìm
được cảm giác phấn chấn bệnh hoạn; còn tôi chỉ thấy đuối, như con ngựa
thồ hàng trong cuốn tiểu thuyết Nga nào đó.
Nhưng thậm chí làm
bằng niềm tin vẫn không phải chuyện tệ nhất của tôi. Vấn đề là tôi đang
dần quên mất công việc “thực sự” của tôi là gì và công việc “vỏ bọc” của
tôi là gì. Tôi bận bù đầu chỉ để qua được hết buổi họp này đến buổi họp
khác, cố gắng kiểm soát mọi việc đủ để Nora không ngửi thấy mùi máu
trong nước và bám theo tôi, tôi chỉ xoay xở được chút xíu thời gian để
lén lút mò quanh và thu thập thông tin về AURORA.
Thỉnh thoảng tôi
lại gặp Mordden, trong các buổi họp hay ở phòng ăn cho nhân viên, và gã
vẫn dừng lại nói chuyện. Nhưng gã không bao giờ nhắc lại cái đêm gã
hoặc có hoặc không thấy tôi bước ra khỏi văn phòng của Nora. Có lẽ gã
không thấy tôi trong văn phòng mụ. Hoặc có lẽ gã đã thấy và có lý do để
không mở miệng nói ra.
Và cứ cách vài đêm tôi lại nhận được thư từ
“Arthur”, hỏi tôi đã tìm hiểu tới đâu, chuyện diễn biến thế nào, làm
cái quái gì mà tôi lại lâu đến vậy.
Hầu như đêm nào tôi cũng về
muộn, và hiếm khi có mặt ở nhà. Seth để lại cả đống tin nhắn trên điện
thoại, và sau khoảng một tuần gì đấy thì bỏ cuộc. Phần lớn bạn bè tôi
cũng đã chịu thua rồi. Tôi cố gắng xoay được nửa tiếng đồng hồ đây đó
tới căn hộ của bố để thăm ông, nhưng bất cứ lúc nào tôi xuất hiện, ông
đều giận tôi vì tránh mặt ông đến nỗi chẳng thèm nhìn tôi nữa. Giữa bố
tôi và Antwoine đã lắng xuống thành một loại thỏa hiệp tạm đình chiến,
kiểu như chiến tranh lạnh vậy. Chí ít thì Antwoine không dọa sẽ nghỉ
việc. Chưa dọa.
Một đêm nọ tôi quay lại văn phòng của Nora và tháo
thiết bị nhỏ bé ghi phím gõ, nhanh chóng và vô sự. Anh bạn
bảo-vệ-yêu-xe-Mustang của tôi thường đi tuần vào khoảng từ mười giờ tới
mười giờ hai mươi, vì vậy tôi làm trước khi anh ta xuất hiện. Chỉ tốn
chưa đến một phút, và chẳng thấy Noah Mordden đâu.
Đoạn cáp nhỏ
xíu này giờ chứa hàng trăm ngàn phím gõ của Nora, bao gồm tất cả các mật
mã. Chỉ còn là việc cắm thiết bị vào máy tính và tải khối chữ về. Nhưng
tôi không dám làm thế ngay ở lô của mình. Ai mà biết được hệ thống mạng
của Trion có cài chương trình quét nào chứ? Rủi ro không đáng nhận.
Thay
vì thế, tôi đăng nhập vào Website của tập đoàn. Trong hộp tìm kiếm, tôi
gõ vào AURORA, nhưng không thấy kết quả gì. Ngạc nhiên chưa, ngạc nhiên
chưa. Nhưng tôi còn ý tưởng khác, tôi gõ tên của Alana Jennings và lấy
được trang về cô ta. Không có ảnh - phần lớn mọi người đều có ảnh đưa
lên, dù vài người thì không - nhưng có thông tin cơ bản như số điện
thoại nội bộ, chức danh (Giám đốc Tiếp thị, Bộ phận Nghiên cứu Công nghệ
Thay thế), số bộ phận, cũng chính là số hòm thư của cô ta.
Tôi
biết con số nhỏ bé này là thông tin cực kỳ hữu dụng. Ở Trion cũng giống
như ở Wyatt, bạn có số bộ phận trùng với tất cả mọi người làm việc cùng
chỗ với mình. Tất cả những gì tôi phải làm là đánh số đó vào cơ sở dữ
liệu của tập đoàn và tôi đã có danh sách của tất cả mọi người trực tiếp
làm cùng Alana Jennings - cũng có nghĩa là tất cả bọn họ đều làm trong
Dự án AURORA.
Điều đó không có nghĩa là tôi đã có danh sách nhân viên đầy đủ của
AURORA, có thể còn có người cùng tầng đó nhưng làm ở những bộ phận
khác, nhưng ít nhất thì tôi đã có một phần tương đối: bốn mươi bảy cái
tên. Tôi in trang web của từng người ra và cho chúng vào cặp giấy trong
túi đi làm. Tôi đoán là chúng sẽ làm bọn người của Wyatt hài lòng được
ít lâu.
Tôi về nhà khoảng mười giờ tối hôm đó, và khi đang định
ngồi xuống máy tính để tải về tất cả các phím gõ từ máy của Nora, tôi để
ý thấy có gì đó khác. Ngay ở giữa bàn “bếp” của tôi - một thứ đồ dán
formica tôi mua mất bốn mươi lăm đô tại chỗ bán đồ đạc đã qua sử dụng -
là một chiếc phong bì màu nâu dày cộp, mới cứng và được dán kín.
Nó
không có ở đó vào buổi sáng. Lại một lần nữa ai đó từ bên Wyatt đã lẻn
vào căn hộ của tôi, cứ như thể họ đang định chứng minh rằng mình muốn
vào đâu cũng được. Rồi, biết rồi. Có lẽ họ đoán rằng đây là cách an toàn
nhất để đưa đồ cho tôi mà không bị trông thấy. Nhưng với tôi thì nó gần
như là lời đe dọa vậy.
Phong bì chứa một hồ sơ dày về Alana
Jennings, đúng như Nick Wyatt đã hứa. Tôi mở nó ra và thấy cả đống ảnh
của cô ta, và đột nhiên mất hứng thú với các phím mà Nora Sommers đã gõ.
Cô nàng Alana Jennings này, nói trắng ra thì đúng là nóng bỏng.
Tôi ngồi xuống ghế đọc sách và nghiền ngẫm hồ sơ.
Rõ
là đã có khối thời gian, công sức và tiền bạc được bỏ ra cho nó. Thám
tử tư đã bám sát cô ta, ghi chép cẩn thận nhất cử nhất động, thói quen
và những việc lặt vặt cô ta làm. Có ảnh cô ta đang đi vào tòa nhà Trion,
ở hàng ăn với vài người bạn gái, ở câu lạc bộ quần vợt nào đó, tập thể
dục ở một trong những câu lạc bộ sức khỏe dành cho nữ giới, bước ra khỏi
chiếc xe Mazda Miata màu xanh của mình. Cô ta có tóc đen bóng và mắt
xanh, thân hình mảnh mai (nhìn rõ nhờ bộ đồ tập hiệu Lycra). Đôi khi cô
ta đeo kính gọng đen dày, loại mà phụ nữ đẹp vẫn đeo để tỏ ra là họ
thông minh và nghiêm túc mà vẫn đẹp đến mức có thể đeo kính xấu xí.
Chúng thực ra còn làm cô ta trông quyến rũ hơn. Có lẽ đấy mới là mục
đích.
Sau một giờ đọc hồ sơ, tôi biết về cô ta nhiều hơn về bất cứ
bạn gái nào của mình. Cô ta không chỉ xinh đẹp mà còn giàu có - mối đe
dọa kép. Cô ta lớn lên ở Darien, bang Connecticut, đi học ở trường Miss
Porter ở Farmington, rồi tới Yale theo ngành tiếng Anh, chuyên về văn
học Mỹ. Cô ta cũng từng theo vài khóa công nghệ máy tính và kỹ thuật
điện. Theo bản sao học bạ, cô ta hầu như toàn đạt điểm A và A trừ, và
được chọn tới Phi Beta Kappa[10]trong những năm đầu đại học. Được rồi, vậy cô ta cũng thông minh nữa; thế là mối đe dọa gấp ba.
[10] Cộng đồng học thuật danh giá, chuyên để vinh danh những thành công trong lĩnh vực nghệ thuật và khoa học tự do.
Người
của Meacham đã moi ra được đủ loại thông tin tài chính về cô ta và gia
đình. Cô ta có quỹ ủy thác vài triệu đô, nhưng bố cô ta, Giám đốc Điều
hành một công ty sản xuất nhỏ ở Stamford còn có danh mục đầu tư đáng giá
hơn thế nhiều. Cô ta có hai em gái, một người vẫn đang học ở Wesleyan,
người còn lại làm cho Sotheby ở Manhattan.
Vì cô ta gần như ngày
nào cũng gọi cho bố mẹ, có thể dễ đoán là cô ta thân thiết với họ. (Hồ
sơ có đính kèm bản hóa đơn điện thoại của một năm, và thật may là có
người đã làm nó dễ hiểu cho tôi, tóm tắt xem cô ta thường gọi cho ai
nhất). Cô ta độc thân và dường như không hẹn hò ai đều đặn, và đứng tên
sở hữu một căn hộ cao cấp ở một khu rất khá giả không xa trụ sở Trion
lắm.
Cô ta đi mua đồ vào mỗi Chủ nhật ở siêu thị bán thức ăn chưa
chế biến, và có vẻ là người ăn chay, vì cô ta không bao giờ mua thịt,
thậm chí là thịt gà hay cá. Cô ta ăn như một con chim, một con chim của
rừng mưa nhiệt đới - rất nhiều hoa quả, dâu, quả hạch. Cô ta không tới
quán bar hay đi bù khú, nhưng thỉnh thoảng cũng gọi cửa hàng rượu gần
nhà mang đồ tới. Vodka hay uống ở nhà chắc là Grey Goose; rượu gin là
Tanqueray Malacca. Cứ một hai lần một tuần cô ta lại đi ăn nhà hàng, và
không phải mấy quán như Denny’s hay Applebee’s hay Hooters đâu; dường
như cô ta thích chỗ hạng sang với những cái tên như Chakra, Alto, Buzz
và Om. Cô ta cũng hay tới các nhà hàng của Thái.
Cô ta đi xem phim
ít nhất một lần một tuần và thường mua vé trước ở Fandago; đôi khi cũng
xem những phim cho phái nữ thường thấy, nhưng hầu như là phim nước
ngoài. Rõ ràng đây là một người phụ nữ ưa xem phim kinh điển Cây guốc gỗ hơn là xem phim hài Porky.
Ôi dà. Cô ta mua nhiều sách trên mạng, từ trang Amazon, Barnes và
Noble, thường là các tiểu thuyết nghiêm túc thời thượng, một ít là Mỹ
Latin và kha khá cuốn về phim ảnh. Gần đây cũng mua vài cuốn về đạo Phật
và sự thông thái phương Tây, và những thứ vớ vẩn kiểu đó. Alana cũng
mua vài DVD phim, gồm cả bộ Bố già cũng như các phim đen thập kỷ bốn mươi như Bồi thường gấp đôi. Thật ra thì cô ta đã mua Bồi thường gấp đôi hai
lần, một lần là băng video vài năm trước, lần sau là đĩa DVD mua gần
đây. Dễ thấy cô ta chỉ mới mua đầu DVD trong vòng hai năm qua; và rõ là
cô ta thích nhất phim Fred MacMurray/Barbara Stanwyck cũ kỹ. Cô ta mua
hầu như mọi đĩa nhạc của Ani DiFranco và Alanis Morissette.
Tôi ghi nhớ những thông tin đó. Tôi bắt đầu có hình dung về Alana Jennings. Và tôi bắt đầu vạch ra một kế hoạch.

