Venise và những cuộc tình Gondola - Phần 07 chương 1 - 2
Ý
Venise và những cuộc tình gondola
Tôi
đến với thành phố trên mặt nước Venise vào một ngày mùa đông lạnh tê
tái, sau khi trải qua 15 tiếng đồng hồ ngồi xe đò từ Pháp sang. Như để
đền bù cho chuyến đi dài mệt nhọc, Venise hiện ra lãng mạn, ngộ nghĩnh
và thân thiện. Từ bến xe tôi đi bộ chừng mười phút thì đến khách sạn nằm
nép mình trong một con hẻm nhỏ. Mang tiếng là khách sạn hai sao nhưng
phòng tôi bé tẹo, với chiếc giường con và chiếc ti-vi xinh xắn. Người
đàn ông trung niên làm công việc tiếp tân vui vẻ chỉ đường cho tôi ra
quảng trường Saint Marco, khu trung tâm Venise. Ông kết luận đơn giản:
“Không lạc được đâu, vì khắp nơi là các mũi tên chỉ đường ghi rõ ‘Saint
Marco’. Từ đó trở về lại khách sạn mới là vấn đề, nhưng cô chỉ cần hỏi,
dân Venise chúng tôi hiếu khách lắm”.
Thủy tinh và mặt nạ Venise
Háo
hức, tôi bước vội ra đường, ngay trước mặt tôi là cửa hàng bán đồ lưu
niệm bằng thủy tinh Venise. Có thể thủy tinh của Áo là số một thế giới
về chất lượng, nhưng thủy tinh ở Venise hút hồn tôi ở tính sáng tạo
tuyệt vời của các nghệ nhân Ý. Những món nữ trang lấp lánh, những tấm
tranh sắc sảo, những đồ trang trí độc đáo. Tôi quyết định mua cho mẹ một
đôi bông tai thủy tinh cực đẹp có kiểu dáng khá trẻ trung với ý đồ “đen
tối”, nếu mẹ chê không hợp tuổi, tôi sẽ thừa hưởng nó. Sát bên tiệm
thủy tinh là vô số các shop bán những món quà đặc biệt chỉ có ở Venise
như mặt nạ Carnival, các bộ quần áo hóa trang dành cho lễ hội, các loại
trang phục lụa tơ tằm, các mô hình thu nhỏ của ghe gondola… Mặt nạ
Carnival được làm bằng thạch cao hoặc sứ, trang trí độc đáo bằng các họa
tiết cầu kỳ, bên phần trán của mặt nạ thường dát vàng rực rỡ. Mỗi một
mặt nạ là một kiểu trang trí khác nhau vô cùng đa dạng nhưng có cùng một
đặc điểm là lộng lẫy, choáng ngợp và vương giả. Tôi mua vài mặt nạ bé
bỏng, cao chỉ 10cm. Những chiếc mặt nạ này chỉ để làm quà, dùng trang
trí trong những căn phòng nhỏ. Giá trung bình là 10 euros. Mặt nạ kích
thước càng lớn, giá càng cao nhưng cũng đẹp hơn và mang hồn Venise hơn.
Kênh lớn
Không
muốn sa đà vào chuyện shopping, tôi quyết tâm thẳng tiến ra quảng
trường Saint Marco. Băng qua các con hẻm lớn nhỏ và những chiếc cầu xinh
xinh, tôi đến Kênh Lớn (Grand Canal) lúc mặt trời đỏ ối đang trườn dần
xuống biển. Đứng trên chiếc cầu lớn bắc ngan kênh, nhìn sang hai bên bờ,
những mái nhà ngói hồng, tường bằng gạch nung đỏ dường như cũng đang
chìm dần xuống sóng nước dập dìu.
Venise được xây trên hàng nghìn
hòn đảo lớn nhỏ, được chống đỡ bởi hàng triệu cây cọc đóng sâu xuống
lòng đất. Đã xem phóng sự về Venise trên ti-vi, nhưng có tận mắt nhìn
thành phố hoàn toàn được nước bao phủ khắp nơi, cảm thấy chân mình dường
như cũng bồng bềnh, tôi mới thấm thía cho phong cách kiến trúc độc nhất
vô nhị của thành phố này. Hai bên kênh đào là vô số các cung điện cổ từ
thế kỷ thứ 13 với các mái vòm vương giả, lộng lẫy, huy hoàng. Con Kênh
Lớn là đường huyết mạch, hình chữ S uốn cong, chảy vắt ngang Venise thơ
mộng. Vào buổi hoàng hôn, mặt nước phản chiếu ánh đỏ của ráng chiều, hắt
lên những dinh thự bằng đá cẩm thạch theo kiến trúc Gothic, sóng vỗ nhẹ
vào bờ làm chao liệng những chiếc ghe gondola đang neo cột trên bến.
Những cuộc tình gondola
Và
rồi sau một hồi đi loanh quanh theo những mũi tên chỉ đường, tôi cũng
đến được quảng trường Saint Marco khi trời vừa tắt hẳn những sợi nắng
cuối cùng. Mặc dù vậy, quảng trường vẫn hiện ra trong ánh đèn đêm lung
linh và huyền ảo. Saint Marco được xây dựng trải dài qua nhiểu thế kỷ
nên các phong cách kiến trúc không đồng bộ dù vẫn có nét hài hòa chung.
Từng chi tiết nhỏ, từng họa tiết, từng viên gạch, từng phiến đá…, tất cả
đều được các nghệ sĩ thực hiện chăm chút, công phu, tỉ mỉ và đầy chất
sáng tạo. Mùi cà phê cappuccino, mùi phô-mai nóng chảy trên các bánh
pizza, mùi kem vani… từ các nhà hàng bay ra thơm lừng. Tôi chợt nhớ mình
còn chưa ăn buổi trưa nên chọn đại một nhà hàng be bé chui vào. Còn sớm
nên khách chỉ có tôi và một bàn khác. Người phục vụ lịch sự hỏi tôi có
muốn ngồi ở ngoài trời, sát bên mé sông cho lãng mạn không. Đang là mùa
Đông nên cái giá cho sự lãng mạn không bị tính thêm tiền. Nếu mùa Hè thì
khác. Khách du lịch nào cũng muốn ngồi ngoài trời ngắm những chiếc ghe
gondola bồng bềnh lướt qua, giá đắt hơn là phải. Tôi quyết định chọn
ngồi ngoài trời. Dù sao đến Venise vào mùa Đông đã là dại dột, nhưng tôi
không có lựa chọn nào khác. Người khách ngồi bàn bên kia cũng đơn độc
nên nói với sang sẽ mời tôi một món tráng miệng. Ông ta dân địa phương,
người Venise đích thị. Tôi ôm túi sang bàn ông ngồi cùng cho vui. Dù
biết cũng nên cẩn thận với người mới gặp tình cơ, nhưng e dè quá sẽ làm
mình mất dịp trò chuyện thú vị. Ông hỏi tôi đã thuê ghe gondola dạo
quanh Venise chưa. Giá của một lần thuê ghe bao nhiêu tôi chưa rõ, chắc
chắn rất xa xỉ với một người đi du lịch bụi, đến Venise bằng xe đò đêm
và xài tiền theo kiểu Việt Nam như tôi. Quê ngoại toi vùng sông Mê-kông,
tôi ngồi xuồng ba lá lướt qua những tán dừa nước cũng lãng mạn chán chê
rồi. Gondola không cần thiết nữa, vả lại tôi chỉ đi có một mình, Venise
dù lãng mạn lắm cũng “chỉ thế mà thôi!”. Cười phá lên trước tường trình
dài dòng của tôi, ông ta cho biết hàng năm có cả ngàn phụ nữ cô đơn
trên khắp thế giới đến Venise mộng mơ với ước nguyện tìm được một mối
tình. Họ thuê ghe gondola có những anh chèo ghe vạm vỡ, đẹp trai và
duyên dáng. Thế là một mối tình gondola giữa những nữ du khách tỉ phú cô
đơn và các chàng chèo ghe người Venise nghèo nàn ra đời. Vấn đề là mối
tình bồng bềnh ấy kéo dài bao lâu? Tôi hỏi, thắc mắc thật sự. Ông bạn
mới quen lại cười phá lên, bảo không thấy có tài liệu nào thống kê, thôi
thì cứ mong một kết thúc có hậu. Trò chuyện vui vẻ với ông nhưng tôi
vẫn cảnh giác chẳng dám nhận những món tráng miệng ông mời, sợ… có thuốc
mê! Và rồi chúng tôi chia tay, chẳng ai biết tên ai. Tôi lại lang thang
tìm đường quay lại khách sạn trong đêm đông giá lạnh. Đúng là quá dại
dột khi đến Venise một mình, lại vào mùa Đông. Suốt dọc đường tôi toàn
gặp các cặp tình nhân ôm nhau thắm thiết, trông họ ấm cúng và hạnh phúc
quá đỗi. Chẳng biết trong số họ có cặp nào xuất xứ từ mối tình gondola?
Bình minh ở Saint Marco
Sáng
hôm sau tôi lại đến quảng trường Saint Marco lúc trời còn tờ mờ, trên
sông dày đặc sương bay bảng lảng, những chiếc ghe gondola neo đậu bập
bềnh, cảnh trí thật huyền ảo, thực thực hư hư. Quảng trường có đại sảnh
vương giả với hàng cột dài chạy dọc theo hành lang. Bên trong hành lang
ấy là các shop thời trang, quà lưu niệm, nhà hàng, tiệm cà phê… Quảng
trường còn có tháp đồng hồ cao ngạo nghễ, hai bên là tượng người Moaris
luôn gõ chuông báo hiệu mỗi giờ. Saint Marco được các dãy nhà vây quanh
thành hình chữ nhật với kiến trúc sinh động và đẹp mắt. Ngoài ra, đàn bồ
câu mấy ngàn con đang đậu đen nghịt chờ du khách cho ăn là điểm nhấn
tuyệt vời cho quảng trường của thành phố Venise. Tôi mua một ít hạt đậu,
rải ra và tức thì những chú chim hòa bình sà đến ríu rít tìm mồi.
Tôi
biết chỉ với hai đêm ngắn ngủi lưu lại Venise sẽ chẳng đủ cho tôi chiêm
ngưỡng thành phố độc đáo này. Vì phải mất trọn 365 ngày mới mong tham
quan đủ mọi ngóc ngách, mới đến được các đảo nhỏ là xưởng thổi thủy tinh
xem các nghệ nhân trổ tài, mới vào được các dinh thự có vườn hoa rực
rỡ… Các thiên phóng sự truyền hình về Venise năm nào cũng được làm, vậy
mà năm nào cũng có những điều mới lạ. Rất nhiều khách du lịch thú nhận
dù đã đến đây trên dưới mười lần nhưng lần nào cũng phát hiện ra những
điều thú vị mới. Thôi thì tôi chỉ biết tận dụng tối đa thời gian ít ỏi
để tận hưởng Venise theo cách riêng của mình. Này là cung điện Catola có
kiến trúc Gothic tuyệt mỹ từ thế kỷ thứ 16, nay cung điện được dùng làm
nhà trưng bày mỹ thuật. Cung điện dường như được dát vàng nguyên chất
và nạm các loại đá quý vào các cây cột bằng cẩm thạch vững bền. Cung
Catola được xem là một công trình mẫu mực thời kỳ đầu của phong trào
Phục Hưng. Này là các công trình kiến trúc đa dạng nằm dọc theo con Kênh
Lớn: cung điện, nhà thờ, biệt thự… Này là cầu Than Thở, này là những
hẻm nhỏ rêu phong, này là những chiếc cầu hình vòng cung oằn lên điệu
đàng, này là nước, này là ghe, này là những đôi tình nhân, này là những
nụ hôn đắm đuối…
Có đến Venise tôi mới tin rằng cảnh trí làm nên
tình yêu. Vẻ lãng mạn, huyền ảo, mơ màng của Venise làm tê liệt những
tính toán thiệt hơn và đẩy người ta chỉ sống với cảm xúc, vốn luôn bất
biến và chẳng bền vững. Sau chuyến đi tôi đã viết truyện ngắn Đổ thừa
Venise (tập Bồ câu chung mái vòm) với triết lý này. Vậy bạn hãy đến
Venise với hy vọng tìm cho mình một tình yêu lãng mạn, nhưng dù kết thúc
có hậu hay không cũng đừng đổ-thừa-Venise nhé!
Milan và cuộc sống tươi đẹp?
Lần
đầu đến Ý, đất nước mang hình đôi ủng hứa hẹn nhiều thú vị, tôi chọn
ngay Venise thơ mộng. Rời Venise với sóng nước dập dìu, tôi rơi ngay vào
một thái cực khác của nước Ý để thấy rằng nơi đây là một cuộc sống vô
cùng đối lập giữa giàu sang tột độ và nghèo khổ tột cùng. Thành phố nào
lại gây cho tôi cảm giác hụt hẫng nhưng cần thiết đó? Milan! Milan!
Thực dụng Milan
Nhà
ga Milan rộng lớn và hoạt động rầm rộ với những chuyến tàu ngược xuôi
châu Âu. Đây là thành phố lớn thứ hai của Ý và là nơi giàu có nhất đất
nước này. Rời khỏi nhà ga tôi đi bộ vài bước là rơi vào một khu phố
khách sạn dày đặc.Tôi ngụ tại một khách sạn ba sao trong khu này. Vì
không chuẩn bị đặt chỗ trước, giá phòng đắt gấp đôi bên Pháp. Nhân viên
lễ tân đòi khách đưa passport nhưng vứt hờ hững trên quầy rồi quay lưng
làm chuyện khác. Khi tôi lên tiếng có ý lo ngại sẽ bị mất passport, anh
chàng cả cười nói một câu đụng chạm tự ái dân tộc dễ sợ: “Passport
Việt Nam ai thèm lấy!”. Và để minh chứng cho điều này, những người khách
Nhật vừa bước vào đã được mọi người trong khách sạn rạp mình đón tiếp!
Thấy vẻ khó chịu trên mặt tôi, một cô khách Thụy Sĩ cười an ủi: “Dân Ý
thực dụng lắm, ở Milan này họ còn cà chớn hơn mấy nơi khác, thành phố
công nghiệp mà!”. “Biết thân biết phận”, tôi chỉ có thể lầm bầm vài câu
rồi cầm bản đồ chuẩn bị ra phố.
Giáo đường con nhím
Giáo
đường Duomo bằng cẩm thạch nổi lên sừng sững giữa trời Milan. Đây là
ngôi giáo đường lớn thứ ba ở châu Âu. Vì thế, nơi đây thu hút một lượng
lớn khách du lịch quốc tế. Giáo đường được mệnh danh là “con nhím” vì
lối kiến trúc như những vách đá được điêu khác dày đặc các tượng thánh
lớn nhỏ, những hoa văn lớm chởm và họa tiết theo kiến trúc Gothic chỉa
ra rối rắm. Thế nhưng, cái vẻ vô tổ chức như những sợi lông nhím tua tủa
đó lại có một cách kết hợp hài hòa kỳ lạ, không uổng công hàng chục thế
hệ nghệ nhân vắt mình trên không để hoàn thiện ngôi giáo đường này
trong suốt gần 500 năm (khởi công năm 1386 và hoàn thành năm
1813). Những người bán hàng rong lam lũ cầm trên tay những chiếc khăn
choàng, mời gọi hãy mua để khoác vào vai, tỏ lòng tôn kính trước khi
bước chân vào ngôi nhà của Chúa. Trẻ em cũng tham gia vào đội ngũ bán
hàng, gương mặt các em đen nhẻm, giọng nói nặng của người miền Nam. Ở
các vùng này, cuộc sống vẫn còn rất khó khăn, người dân sống chủ yếu nhờ
nông nghiệp nhưng là một nền nông nghiệp lạc hậu, không đủ sức cạnh
tranh với những nước phát triển phương bắc. Hằng năm những người dân Ý ở
các vùng nông thôn hẻo lánh này vẫn tìm cách đổ bộ vào các nước Pháp,
Đức, Thụy Sĩ… để tìm một cuộc sống khả dĩ hơn, dù họ cũng chỉ có thể
được thuê mướn để làm hầu phòng, lao công, làm vườn…
Tôi bước chân
vào giáo đường Duomo với một tâm trạng buồn bã, càng buồn hơn khi thấy
bên trong thánh đường thật bao la, sang trọng, vương giả với những dãy
cột đá khổng lồ, những tấm kính màu lộng lẫy, những viên gạch cẩm thạch
trơn bóng. Sức chứa của ngôi giáo đường thật đáng kinh ngạc, lên đến 40
ngàn người. Nếu may mắn vào đây lúc nhạc thánh ca vang lên, sự cộng
hưởng âm thanh được tính toán chi li sẽ làm ngôi giáo đường biến thành
một nhà hát Opera chuyên nghiệp nhất. Một bà người Pháp vốn không tin
Chúa lại cho toi một niềm tin rằng khi đến bất kỳ một thành phố xa lạ
nào, hãy bước chân vào một nhà thờ, những ước nguyện thành tâm nhất sẽ
thành hiện thực. Tôi làm thử vài lần, ước những gì thực tế nhất và khả
thi nhất. Quả tôi đã toại nguyện. Lần này, đứng nhỏ nhoi trong ngôi giáo
đường Duomo vĩ đại, tôi “cả gan” ước một điều cũng vĩ đại không kém:
Hòa bình cho muôn nhà, công bằng cho mọi trẻ em, bình đẳng cho mọi giới
tính!
Tổng hành dinh của hàng hiệu
Thế nhưng vừa bước chân
ra khỏi thánh địa uy nghi Duomo, tôi lại rơi ngay vào thực tế ở một
thành phố thời trang cực kỳ xa xỉ Milan. Sát bên ngôi thánh đường này là
Galleria Vittorio Emanuele II, “tổng hành dinh” của mọi hàng hiệu cao
cấp nhất trên đời này. Tòa nhà shopping center cao ngút mắt và rộng mỏi
chân. Những mái vòm trên đầu thật ngạo nghễ, những phiến gạch dưới chân
sáng chói lòa. Này là Versace, Prada, Armani, Breil, Gucci, Dolce e
Gabbana, Ferragamo, Furla… của những nhà tạo mẫu người Ý, này là Louis
Vuitton, Chrstian Dior, Chanel, Yves Saint Laurent.. của Pháp, và còn
hằng hà sa số những nhãn hiệu khác đủ mọi quốc tịch.
Những bộ
trang phục hàng hiệu này có một đặc điểm chung: đường cắt cup rất khéo,
đường kim mũi chỉ rất sắc sảo, màu sắc hài hòa và kiểu dáng cực kỳ đơn
giản. Những đôi giày da giá trên một ngàn euros có chất liệu mềm mại
nhưng kiểu dáng vô cùng giản dị. Đến kinh thành thời trang này tôi mới
thấm thía cho câu cửa miệng của người Pháp “La simplicité fait la
beauté” (Sự đơn giản làm nên vẻ đẹp). Những quí bà thời trang nhất là
người biết cách phục sức giản dị, ít họa tiết, chẳng thèm hoa hòe hoa
sói gì. Bởi chính sự tự tin đủ khiến họ toát ra một vẻ đẹp từ bên trong.
Hàng
năm vào tháng mười, hàng trăm nhà báo, dân kinh doanh về thời trang và
giới nghệ sĩ đổ về Milan xem các bộ sưu tập được giới thiệu và bày bán
tại Galleria này. Công bằng mà nói, khiếu thẩm mỹ và có sáng tạo của
người Ý thật tuyệt vời. Hình như mỗi người Ý sinh ra đã có gien nghệ sĩ
trong mình, họ có một sự nhạy cảm đặc biệt đối với màu sắc, kiểu dáng và
vải vóc.
Cuộc sống tươi đẹp
Ở gian hàng Versace, một chiếc
quần đùi thật bình thường giá tám trăm euros. Một cậu thiếu niên người
Mỹ há hốc miệng nhìn rồi lẩm bẩm rõ to: “Mặc quần này vào chắc… cháy
cu!”. Tôi tự bịt miệng mình khỏi bật cười phá lên. Xung quanh tôi khách
du lịch phần nhiều cũng đều window-shopping (chỉ đi để nhìn ngắm). Thế
nhưng ở quầy trang sức, một thiếu phụ bán hàng nói tiếng Pháp đã trò
chuyện với tôi nhiều điều. Bà người Pháp lấy chồng Ý, làm việc ở đây
được hai năm. Bà cho biết phần lớn khách mua hàng là người Nhật, người
Bắc Âu; người Trung Quốc và Hàn Quốc cũng đã bắt đầu bỏ tiền ra chi xài
rất đậm tay. Đặc biệt, người Ý, vốn có thu nhập bình quân đầu người còn
thua các nước láng giềng như Pháp, Đức, Bỉ… lại dám vào đây mua sắm rất
“bạo liệt”. Bà cho biết có đến 40% người Ý tự nhận mình tài giỏi và giàu
có, họ yêu bản thân và cuộc sống hiện tại nên chẳng đắn đo mấy khi chi
hơn 50% thu nhập cho những thứ không mấy bức thiết như quần áo, giày dép
thời trang, du lịch nước ngoài, nhà cửa (nhà thứ hai ở ngoại ô chỉ để
nghỉ hè). Phụ nữ ở Milan ăn diện hơn hẳn các bà chị láng giềng xứ phồn
hoa Paris. Trong khi các Parisienne chỉ dám tiêu xài tính toán vào các
khoản thời trang, quí cô Milan “chịu chơi” hết biết với khẩu hiệu muôn
đời của dân Ý “La dolce vita” (cuộc sống tươi đẹp). Tại sao phải tằn
tiện cho tương lai khi hiện tại cuộc sống quá đẹp cần được ta hưởng thụ
một cách trọn vẹn nhất?
Thế nhưng cuộc sống không hề tươi đẹp với
rất nhiều người Ý còn sống trong mức nghèo khổ. Ở những vùng
miền Nam nước Ý hoặc chính tại thành phố xa hoa Milan, vẫn còn đó rất
nhiều người làm việc quần quật 10-12 tiếng một ngày. Những cậu bé đánh
giày ngoài phố, những người mẹ lao công kiếm tiền gởi về quê nuôi con ăn
học, những người anh lái taxi phụ giúp gia đình mưu sinh vất vả. Giá
trị gia đình vẫn còn rất cao trong những gia đình Ý, tính đùm bọc, tính
thương yêu rất đong đầy.
Chia tay Milan phồn hoa đô hội cũng những
mảnh đời trái ngược hoàn toàn, tôi vẫn tiếc cho nước Ý tài hoa mà không
phát triển bằng các nước phương Bắc. Có thể vì họ quá nghệ sĩ, họ không
thèm hơn thua với đời, họ quá tự kiêu, họ còn tư tưởng ăn xổi ở thì,
hoặc có thể vì… Mafia thao túng? Dù sao, ấn tượng về một nước Ý thời
trang với những nghệ sĩ tài hoa luôn luôn sâu đậm.Milan! Milan!