Nhím thanh lịch - Phần 24 chương 04
SUY NGHĨ SÂU SỐ 14
Hãy đến tiệm Angelina
Để biết
Tại sao ôtô bị đốt cháy
Hôm
nay, một chuyện rất thú vị đã xảy ra! Tôi đến nhà bà Michel để nhờ bà
ấy mang lên nhà một túi giấy tờ cho chị Colombe ngay khi người đưa thư
mang nó tới chỗ bà ấy. Thực ra, đó là luận văn thạc sĩ của chị ấy về
Guillaume d'Ockham, đây là bản viết đầu tiên mà thầy giáo hướng dẫn đọc
và gửi lại cho chị ấy kèm theo lời phê. Có một điều rất buồn cười là chị
Colombe bị bà Michel tống cổ vì đã bấm chuông vào lúc bảy giờ sáng để
yêu cầu mang túi đồ lên. Bà Michel hẳn đã mắng chị ấy ghê lắm (phòng
thường trực mở cửa lúc tám giờ) vì chị Colombe quay lên nhà với thái độ
tức giận điên cuồng, miệng gào lên rằng bà gác cổng là một con chó đẻ
già mà lại tưởng mình là ai cơ chứ? Bỗng dưng mẹ tôi có vẻ nhớ ra rằng,
vâng, trên thực tế, ở một nước phát triển và văn minh, không phải vào
bất kỳ giờ nào trong ngày người ta cũng được phép làm phiền người gác
cổng, nhất là ban đêm (lẽ ra mẹ tôi phải nhắc đến điều này trước khi chị
Colombe đi xuống), nhưng chị tôi vẫn không bình tĩnh lại được mà tiếp
tục la hét om sòm rằng không phải vì chị ấy nhầm giờ mà con mụ chẳng là
cái gì ấy có quyền đóng sập cửa ngay trước mặt chị. Mẹ tôi mặc kệ. Nếu
chị Colombe là con tôi (Darwin tránh cho tôi điều đó), tôi sẽ cho chị ấy
hai cái tát.
Mười phút sau, chị Colombe đi vào phòng tôi với nụ
cười vô cùng ngọt ngào. Nhưng tôi không thể chịu đựng được. Tôi thích
chị ấy mắng tôi hơn. “Paloma, rận con của chị, em có muốn giúp chị một
việc quan trọng không?” chị ấy tỉ tê. “Không,” tôi đáp. Chị Colombe hít
một hơi thật sâu và nói rằng rất tiếc tôi không phải là nô lệ riêng của
chị - nếu như thế, chị ấy sẽ quật cho tôi vài roi - sẽ cảm thấy thoải
mái hơn nhiều - con ranh này làm ta bực mình quá. “Em muốn thoả thuận,”
tôi nói thêm. “Em vẫn chưa biết chị muốn gì cơ mà,” chị Colombe phản ứng
lại với vẻ mặt hơi giễu cợt. “Chị muốn em đến gặp bà Michel,” tôi nói.
Chị Colombe há hốc mồm kinh ngạc. Chị ấy nghĩ là tôi đần độn, và cuối
cùng đã tin điều đó là thật. “O.K. nếu chị không bật nhạc to ở phòng chị
trong một tháng.” “Một tuần,” chị Colombe nói. “Thế thì em sẽ không đi
đâu,” tôi đáp. “O.K.” chị Colombe nói, “em hãy đi gặp mụ già cặn bã đó
và bảo mụ ấy mang cho chị cái túi của thầy Marian ngay khi người ta mang
tới.” Rồi chị đi ra và đóng sầm cửa lại.
Thế là tôi đến gặp bà Michel và bà ấy mời tôi uống trà.
Đầu
tiên, tôi thử bà ấy. Tôi không nói gì nhiều. Bà ấy nhìn tôi rất kỳ lạ,
cứ như lần đầu tiên nhìn tháy tôi. Bà ấy không nói gì về chị Colombe.
Nếu là một người gác cổng thực sự, lẽ ra bà ấy phải nói câu gì đó kiểu
như: “Ừ, chị của cháu ấy, dù sao nó cũng không được nghĩ là nó muốn gì
cũng được.” Thay vì câu đó, bà ấy mời tôi một chén trà và nói chuyện với
tôi rất lịch sự, cứ như tôi là một con người thực sự.
Trong phòng
thường trực, tivi đang mở. Nhưng bà ấy không xem tivi. Người ta đang
chiếu phóng sự về những thanh niên đốt xe ôtô ở ngoại ô. Nhìn những hình
ảnh đó, tôi tự hỏi: cái gì có thể xô đẩy một thanh niên đến chỗ đốt xe
ôtô? Trong đầu anh ta nghĩ gì? Rồi tôi nghĩ thế này: còn tôi? Tại sao
tôi muốn đốt căn hộ của nhà mình? Các nhà báo nói về nạn thất nghiệp và
nghèo đói, còn tôi nói về tính ích kỷ và kiểu cách giả dối của gia đình
tôi. Nhưng đó là những điều chẳng hay ho gì. Luôn luôn tồn tại nạn thất
nghiệp, nghèo đói và những gia đình khốn khó. Thế nhưng không phải sáng
nào người ta cũng đốt xe ôtô hay căn hộ. Tôi tự nhủ rằng, cuối cùng, tất
cả những điều đó chỉ là lý do giả tạo. Tại sao người ta đốt ôtô? Tại
sao tôi lại muốn đốt căn hộ?
Tôi không tìm được câu trả lời cho
đến khi tôi đi mua sắm cùng dì Hélène, em của mẹ tôi, và cô em họ
Sophie. Thực ra, chúng tôi đi mua quà tặng mẹ tôi nhân dịp sinh nhật sẽ
được tổ chức vào Chủ nhật tới đây. Chúng tôi lấy cớ cùng đi đến bảo tàng
Dapper, nhưng thực ra chúng tôi đến các cửa hiệu bán đồ trang trí nội
thất ở quận 2 và quận 8. Mục đích là tìm một cái giá treo ô và mua món
quà của riêng tôi.
Về chiếc giá treo ô, cuộc tìm kiếm tưởng như vô
tận. Mất đến ba tiếng đông hồ, trong khi tôi thấy tất cả những cái gia
mà chúng tôi đã xem đều giống hệt nhau, hoặc là hình trụ xấu xí, hoặc là
những thứ hoa sát giá cổ. Tất cả đều có giá trên trời. Bạn có thấy
phiền lòng tí nào không khi một cái giá treo ô có thể có giá 299 euro?
Thế mà đó lại là số tiền mà dì Hélène đã trả cho một thứ kiêu kỳ làm
bằng “da cũ” (theo con mắt của tôi: bị chà đạp bằng bàn chải sắt, đúng
thế) với những mũi mày kiểu như trên yên ngựa, cứ như sống trong một
trại ngựa giống. Còn tôi, tôi mua cho mẹ một chiếc hộp nhỏ để đựng thuốc
ngủ bằng sơn mài màu đen trong một cửa hiệu châu Á. Ba mươi euro. Tôi
đã thấy đắt lắm rồi, nhưng dì Hélène vẫn hỏi liệu tôi có muốn mua thêm
cái gì khác không, vì cái hộp chưa đáng kể gì. Chồng của dì Hélène là
bác sĩ tiêu hóa và tôi đảm bảo với các bạn rằng trong ngành y, bác sĩ
tiêu hóa không nằm trong số những người nghèo nhất... Nhưng dù sao tôi
vẫn yêu quý dì Hélène và chú Claude vì họ... vâng, tôi không biết nói
thế nào... kiên định. Tôi thấy họ hài lòng với cuộc sống của mình, dù
sao họ cũng không cố diễn để làm ra vẻ gì khác với thực chất của mình.
Tôi không phải loại người ngây ngất sững sờ trước những người bị bệnh
Down như mọi người trong gia đình tôi thường làm (ngay cả chị Colombe
cũng vậy). Câu nói đã được thoả thuận là họ tàn tật, nhưng họ dễ mến
lắm, dễ thương lắm, tình cảm lắm! Cá nhân tôi, tôi thấy khó chịu khi có
mặt Sophie, nó chảy dãi, la hét, hờn dỗi, tính tình thất thường và chẳng
hiểu gì cả. Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi không đánh giá cao dì
Hélène và chú Claude. Chính họ nói rằng nuôi dạy con bé rất khó khăn,
thật là kiếp đoạ đày khi có một đứa con gái bị bệnh Down, nhưng tôi thấy
họ yêu nó và chăm sóc nó rất chu đáo. Điều này, cộng thêm tính kiên
định của họ khiến tôi rất yêu quý họ. Khi nhìn mẹ tôi diễn vai một phụ
nữ hiện đại sung sướng hay bà Jacinthe Rosen diễn vai một phụ nữ
tư-sản-từ-trong-nôi, tôi thấy thật có thiện cảm với dì Hélène vì dì
không diễn gì cả và hài lòng với những gì mình có.
Tóm lại, sau
khi ngược xuôi tìm mua cái giá treo ô, chúng tôi đi ăn bánh ngọt và uống
sôcôla ở tiệm trà Angelina trên phố Rivoli. Chắc các bạn sẽ nói rằng
tôi đã đi quá xa chủ đề thanh niên ngoại ô đốt xe ôtô. Nhưng không hề!
Điều mà tôi thấy ở tiệm Angelina đã giúp tôi hiểu được một số thứ khác. Ở
ngay bàn bên cạnh chúng tôi có một đôi vợ chồng và một đứa bé. Đôi vợ
chồng da trắng và một đứa trẻ châu Á, cậu bé ấy tên là Théo. Dì Hélène
và họ có cảm tình với nhau và cùng nói chuyện một lát. Họ có cảm tình
với nhau vì họ cùng có con không giống những đứa trẻ khác, dĩ nhiên rồi,
chính vì thế họ nhận ra nhau và bắt chuyện với nhau. Chúng tôi được
biết rằng Théo là con nuôi, cậu bé mới mười lăm tháng tuổi khi cặp vợ
chồng này mang cậu về từ Thái Lan, bố mẹ và các anh chị của cậu đều đã
chết trong trận sóng thần. Tôi nhìn xung quanh và tự nhủ: Théo sẽ làm
thế nào đây? Chúng tôi đang ở tiệm Angelina: tất cả mọi người đều ăn mặc
đẹp, cắn rất kiểu cách những chiếc bánh ngọt đắt khủng khiếp, và họ ở
đây chỉ vì.. vâng chỉ vì ý nghĩa của địa điểm, chứng tỏ mình thuộc về
một thế giới nào đó, với những tín ngưỡng, luật lệ, dự định, lịch sử,
v.v... Những thứ đó chỉ mang tính tượng trưng thôi. Khi người ta uống
trà ở tiệm Angelina, tức là người ta đang ở nước Pháp, trong một thế
giới giàu sang, có thứ bậc, duy lý, theo tư tưởng của Descartes, văn
minh. Thằng bé Théo sẽ làm thế nào đây? Nó đã trải qua những tháng đầu
tiên của cuộc đời trong một làng chái ở Thái Lan, trong một thế giới
phương Đông với những giá trị và cảm xúc riêng, nơi việc con người thuộc
về đâu một cách tượng trưng có lẽ diễn ra trong hội làng, khi người dân
làm lễ cúng thần Mưa, nơi lũ trẻ đắm mình trong những tín ngưỡng phép
thuật, v.v... Và bây giờ nó đang ở nước Pháp, ở Paris, trong tiệm
Angelina, không có thời gian chuyển tiếp mà ngập chìm ngay lập tức vào
một nền văn hóa khác hẳn và ở một địa vị khác hoàn toàn: từ châu Á đến
châu Âu, từ thế giới nghèo đến thế giới giàu.
Thế là bỗng nhiên,
tôi tự nhủ: sau này, có lẽ Théo cũng có ý định đốt xe ôtô. Bởi vì đó là
một hành động do tức giận và do tâm trạng không thoả mãn, và có lẽ nỗi
tức giận lớn nhất và tâm trạng không thỏa mãn nhất, đó không phải là nạn
thất nghiệp, đó không phải là nghèo đói, đó không phải là không có
tương lại: đó là cảm giác không có văn hóa vì bị giằng co giữa các nền
văn hóa, giữa những biểu trưng không tương thích với nhau. Sống như thế
nào đây nếu không biết mình đang ở đâu? Nếu cần phải đồng thời tiếp nhận
văn hóa của dân chài Thái Lan và của giới đại tư sản Paris? Của con cái
những người nhập cư và của người dân của một dân tộc lâu đới bảo thủ?
Thế là người ta đốt xe ôtô bởi vì khi không có văn hóa, người ta không
còn là một động vật văn minh, mà là một con thú hoàng. Và một con thú
hoàng sẽ đốt phá, giết người, cướp bóc.
Tôi biết là không sâu sắc
lắm nhưng dù sao tôi cũng đã có một suy nghĩ sâu sau việc này khi tự
hỏi: thế còn tôi? Vấn đề văn hóa của tôi là gì? Tôi bị giằng co giữa
những tín ngưỡng không tương thích ở điểm nào? Tôi là một con thú hoang ở
điểm nào?
Vậy là tôi được giác ngộ: tôi nhớ lại cách chăm sóc phù
phép mà mẹ tôi dành cho đám cây xanh của mình, những cơn sợ hãi kỳ quặc
của chị Colombe, nỗi buồn chán của bố vì bà nội ở nhà dưỡng lão và hàng
loạt những sự việc khác tương tự như thế. Mẹ tôi cho rằng có thể tống
khứ số phận bằng một nhát xịt, chị Colombe cho rằng có thể gạt nỗi sợ
hãi sang một bên bằng cách rửa tay, còn bố tôi cho rằng mình là một
người con tồi và sẽ bị trừng phạt vì đã bỏ rơi mẹ: tóm lại, họ có những
tín ngưỡng phép thuật, những tín ngưỡng nguyên thuỷ nhưng ngược lại với
dân chài Thái Lan, họ không thể chấp nhận chúng vì họ là những người
Pháp-có-học-giàu-có-tư-duy-lôgic.
Còn tôi, có lẽ tôi là nạn nhân
chính của mâu thuẫn này, bởi vì, vì một lý do chưa rõ, tôi cực kỳ nhạy
cảm với tất cả những gì chói tai, cứ như tôi có một kiểu tai tuyệt đối
kỵ những tiếng nhạc sai, những mâu thuẫn. Mâu thuẫn đó và tất cả những
mâu thuẫn khác... Bỗng nhiên, tôi không nhận ra mình trong bất cứ tín
ngưỡng nào, trong bất cứ nền văn hóa nào trong số những nền văn hóa gia
đình rời rạc đó.
Có lẽ tôi là triệu chứng của mâu thuẫn gia đình và mâu thuẫn phải biến mất thì gia đình mới tốt đẹp.
4
Câu châm ngôn cơ bản
Khi Manuela quay lại lúc hai giờ từ nhà de Broglie, tôi đã kịp nhét tập luận văn vào phong bì và mang nó lên nhà Josse.
Vì thế tôi có dịp chuyện trò thú vị với Solange Josse.
Người
ta sẽ nhớ ra rằng, đối với cư dân của tòa nhà, tôi là một bà gác cổng
có đầu óc hạn chế, nằm ở ngoài rìa tầm nhìn cao sang của họ. Về mặt này,
Solange Josse cũng không phải là ngoại lệ, nhưng vì là vợ của một nghị
sĩ đảng Xã hội nên bà ấy phải cố gắng.
- Chào bà, - Solange nói với tôi sau khi mở cửa và cầm lấy chiếc phong bì mà tôi đưa cho.
Lại thêm cố gắng.
- Bà biết đấy, - bà ta nói tiếp, - Paloma là một đứa trẻ rất kỳ quặc.
Bà
ta nhìn tôi để kiểm tra xem tôi có biết từ đó không. Vẻ mặt của tôi
không biểu lộ gì, đó là một trong những vẻ mặt ưa thích của tôi, làm cho
người đối diện tha hồ phỏng đoán.
Solange Josse thuộc đảng Xã hội, nhưng lại không tin vào con người.
- Tôi muốn nói là nó hơi lạ, - bà ta giải thích tiếp như thể đang nói chuyện với một kẻ nghễnh ngãng.
- Con bé rất hiền lành, - tôi nói với ý muốn nhận về mình công việc tiêm vào câu chuyện một chút lòng nhân ái.
-
Vâng, vâng, - Solange Josse nói bằng giọng điệu của người rất muốn đi
thẳng vào vấn đề nhưng trước tiên phải vượt qua những chướng ngại vật do
phông văn hóa thấp của người kia. - Nó là một con bé hiền lành, nhưng
đôi khi cư xử rất lạ lùng. Chẳng hạn như nó rất thích lẩn trốn, nó biến
mất cả mấy tiếng đồng hồ liền.
- Vâng, - tôi nói, - cháu có kể với tôi.
Đây
là một rủi ro nhỏ so với chiến lược không nói gì, không làm gì và không
hiểu gì. Nhưng tôi cho rằng có thể giữ vững vai diễn mà không để lộ bản
chất của mình.
- À, nó có kể với bà rồi à?
Giọng nói của
Solange Josse bỗng nhiên trở nên ngập ngừng. Làm thế nào biết được điều
mà bà gác cổng đã hiểu từ những gì Paloma nói? Đó là câu hỏi huy động
hết các khả năng nhận thức của Solange Josse, làm bà ta mất tập trung,
vẻ mặt như đãng trí.
- Vâng, cháu có kể với tôi, - tôi đáp, phải nói là tôi có chút tài nói ngắn gọn.
Phía sau Solange Josse, tôi nhận ra Hiến Pháp chậm rãi đi qua, cái mũi chán chường.
- Ôi, cẩn thận, con mèo, - bà ta nói.
Rồi
bà ta đi ra ngoài thềm và đóng cánh cửa sau lưng lại. Không cho con mèo
ra ngoài và không cho người gác cổng vào nhà là câu châm ngôn cơ bả của
các quý bà thuộc đảng Xã hội.
- Tóm lại, - bà ta nói tiếp, -
Paloma nói với tôi rằng nó muốn thỉnh thoảng đến phòng bà. Nó là một đứa
trẻ mơ mộng, nó thích ngồi ở đâu đó và không làm gì. Tôi muốn nói với
bà rằng tôi thích nó làm việc ấy ở nhà.
- Ồ, - tôi nói.
-
Nhưng thỉnh thoảng, nếu bà không phiền... Như thế, ít nhất tôi cũng
biết nó ở đâu. Chúng tôi phát điên lên vì phải tìm nó ở khắp nơi.
Colombe lúc nào cũng bận ngập đầu, nó không thích phải mất hàng giờ sục
sạo trên trời dưới đất để tìm em gái.
Bà ta hé cửa và thấy Hiến Pháp đã đi ra chỗ khác.
- Có phiền bà lắm không? - bà ta hỏi, đầu óc đã nghĩ đến chuyện khác.
- Không, - tôi đáp, - con bé không hề làm phiền gì tôi.
-
Ôi, tốt quá, tốt quá, - Solange Josse nói, chắc chắn đầu óc đang chú ý
đến một việc khác cấp bách và quan trọng hơn nhiều. - Cảm ơn, cám ơn, bà
thật tốt quá.
Rồi bà ta đóng cửa lại.

