Nhím thanh lịch - Phần 12 chương 16 - 17 - 18

SUY NGHĨ SÂU SỐ 7

Xây dựng

Bạn sống

Bạn chết

Đó là

Hệ quả

Càng
ngày tôi càng quyết tâm trốn nơi này. Chưa nói đến chuyện tôi tự tử.
Các bạn cần phải biết rằng: tôi bị bố mắng một trận vì đã chê trách một
trong những khách mời của ông nói sai. Thực ra, đó là bố của anh Tibère.
Anh Tibère là bạn của chị tôi. Anh ấy cùng học ở trường Sư phạm với chị
ấy, nhưng học khoa toán. Khi tôi nghĩ đến chuyện người ta gọi đó là
tầng lớp ưu tú... Sự khác biệt duy nhất mà tôi thấy ở chị Columbe, anh
Tibère, bạn bè của họ và đám thanh niên “bình dân” là chị tôi và bạn bè
của chị ấy ngốc hơn. Họ uống rượu, họ hút thuốc phì phèo, họ nói như
trong các cư xá và họ nói với nhau những câu kiểu như: “Hollande đã bắn
Fabius bằng cuộc trưng cầu dân ý, các cậu thấy đấy, lão ấy đúng là kẻ
sát nhân” (xác thực) hoặc: “Tất cả các giám đốc nghiên cứu mới được bổ
nhiệm trong hai năm gần đây đều là những tên phát xít, cánh hữu kiểm
soát, không nên gây rắc rối với người hướng dẫn luận án của mình” (mới
tinh hôm qua). Dưới một mức, người ta nghe thấy: “Thực ra, con bé tóc
vàng mà J.-B. tán tỉnh nghiên cứu về nước Anh, tóc vàng đấy” (cũng mới
hôm qua) và trên một mức: “Ông Marian giảng quá hay khi ông nói rằng sự
tồn tại không phải là biểu hiện đầu tiên của Thượng đế” (cũng hôm qua,
ngay sau khi khép lại hồ sơ về cô gái tóc vàng nghiên cứu nước Anh). Các
bạn muốn tôi nghĩ gì về những câu nói này? Câu quá quắt nhất (đúng từng
từ) là: “Không phải vì vô thần nên người ta không có khả năng thấy sức
mạnh của bản thể học siêu hình. Đúng, điều quan trọng là sức mạnh của
khái niệm, chứ không phải là sự thật. Còn Marian, lão thầy tu đểu đó,
lão ấy quả quyết, ừ, được lắm”.

Những viên ngọc trai trắng

Trên tay áo tôi buông xuống khi trái tim vẫn còn tràn đầy

Chúng tôi chia tay

Tôi mang theo chúng

Như một kỉ niệm về em.

(Cổ kim tập)

Tôi
nhét vào tai mình hai cái nút tai bằng mút màu vàng của mẹ và tôi đọc
những bài thơ hokku trong cuốn Tuyển tập thơ cổ Nhật Bản của bố để không
thấy câu chuyện của những kẻ suy đồi. Sau đó, chỉ còn lại chị Columbe
và anh Tibère và hai người gây ra những tiếng động bẩn thỉu trong khi
biết rất rõ rằng tôi nghe thấy. Không còn gì tệ hại hơn: anh Tibère ở
lại ăn tối vì mẹ tôi đã mời bố mẹ anh ấy. Bố anh Tibère là một nhà sản
xuất phim, mẹ anh ấy có một phòng tranh trên bờ sông Seine. Chị Columbe
thích bố mẹ anh Tibère đến phát điên, kì nghỉ cuối tuần sau, chị ấy sẽ
đi cùng họ đến Venise, thế là thoát nạn, tôi sẽ được yên tĩnh trong ba
ngày.

Trong khi ăn tối, bố anh Tibère nói: “Thế nào, chẳng lẽ anh
chị không biết gì về cờ vây, một trò chơi tuyệt hay của Nhật Bản, hay
sao? Hiện giờ, tôi đang sản xuất bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết Thiếu
nữ đánh cờ vây của Sơn Táp, một trò chơi quá-hay, đó là trò chơi của
Nhật Bản tương đương với cờ vua. Đây là lại một phát minh của người
Nhật, quá-hay, tôi đảm bảo đấy!” Sau đó ông ta bắt đầu giải thích luật
chơi cờ vây. Nhảm nhí. Thứ nhất, chính người Trung Quốc đã phát minh ra
cờ vây. Tôi biết điều này vì tôi đã đọc bộ truyện tranh nổi tiếng về cờ
vây. Đó là truyện Hikaru No Go. Thứ hai, đó không phải là trò chơi Nhật
Bản tương đương với cờ vua. Ngoài việc cũng là một trò chơi trên bàn cờ
và hai đối thủ đấu với nhau bằng những quân cờ màu đen và trắng, còn lại
hoàn toàn khác nhau như chó khác với mèo. Trong cờ vua, cần phải giết
để thắng. Trong cờ vây, cần phải xây dựng để sống. Thứ ba, một vài luật
mà ông tôi-là-bố-của-một-thằng-ngốc kể ra là không đúng. Mục tiêu của
trò chơi không phải là ăn đối thủ, mà là xây dựng một lãnh địa lớn hơn.
Luật bắt quân quy định rằng người ta có thể “tự tử” nhằm mục đích bắt
quân của đối phương chứ không phải người ta bị cấm đi đến một nơi mà sẽ
tự động bị bắt v.v...

Khi ông tôi-sinh-ra-đời-một-cái-mụn nói: “Hệ
thống xếp hạng người chơi bắt đầu từ một kyu và tiến lên đến ba mươi
kyu, sau đó chuyển sang dan: một dan, hai dan, v.v...” tôi không thể
nhịn được nữa, tôi nói: “Không, phải theo một trật tự ngược lại: bắt đầu
từ ba mươi kyu và tiến lên đến một.”

Nhưng ông
xin-lỗi-tôi-không-biết-mình-đang-làm-gì vẫn ngoan cố với vẻ mặt tức tối:
“Không, cô bé ạ, tôi tin chắc rằng mình có lý.” Tôi lắc đầu, trong khi
đó, bố tôi nhíu mày nhìn tôi. Điều tồi tệ nhất là tôi được anh Tibère
cứu. “Đúng thế, bố ạ, em ấy nói đúng, một kyu là người giỏi nhất.” Anh
Tibère học toán, anh ấy chơi cờ vua và cả cờ vây. Tôi chúa ghét ý nghĩ
này: đồ đẹp phải thuộc về người đẹp. Nhưng bố của anh Tibère vẫn luôn
sai và sau bữa ăn tối, bố tôi đã bực tức nói với tôi: “Nếu con mở mồm ra
chỉ để cười nhạo khách của bố thì đừng có nói gì nữa.” Đúng ra tôi phải
làm gì? Mở miệng như chị Columbe để nói: “Chương trình của nhà hát
Amandiers khiến cháu lung túng quá” trong khi đúng ra chị ấy không thể
đọc được một câu thơ của Racine, chứ chưa nói tới việc cảm nhận được vẻ
đẹp của nó? Mở miệng để nói như mẹ tôi: “Hình như triển lãm nghệ thuật
năm ngoái rất chán” trong khi mẹ tôi có thể tự tử vì đám cây cảnh, nhưng
lại để mặc cho bất cứ bức tranh nào của Vermeer cháy rụi? Mở miệng để
nói như bố tôi: “Ngoại lệ văn hóa Pháp là một nghịch lý kinh tế,” đúng
từng từ mà bố tôi đã nói trong mười sáu bữa ăn tối trước đó? Mở miệng
như mẹ của anh Tibère để nói: “Hiện giờ, ở Paris, người ta không còn tìm
được những hàng làm pho mát ngon nữa,” lần này không hề mâu thuẫn với
bản chất sâu xa của bà ấy vốn là dân buôn bán ở vùng Auvergne?

Khi
tôi nghĩ tới cờ vây... Một trò chơi mà mục tiêu là xây dựng lãnh địa,
đẹp biết bao. Cũng có thể có những pha chiến đấu, nhưng chúng chỉ là
phương tiện để phục vụ mục đích: giữ vững đất đai. Một trong những thành
công vang dội nhất của trò chơi cờ vây, đó là nó đã chứng minh được
rằng để thắng, cần phải sống, nhưng cũng phải để người khác sống. Người
nào tham quá đều thua: đó lào một trò chơi tinh tế về sự cân bằng, trong
đó cần phải phát huy lợi thế mà không đè bẹp đối phương. Cuối cùng,
sống và chết chỉ là hệ quả của quá trình xây dựng tốt hay tồi mà thôi.
Đó là lời nói của một trong những nhân vật của Taniguchi: bạn sống, bạn
chết, đó là những hệ quả. Đó là một câu tục ngữ của cờ vây và một câu
tục ngữ của cuộc đời.

Sống, chết: đó chỉ là hệ quả của cái mà
người ta đã xây dựng. Điều quan trọng là phải xây tốt. Thế là tôi tự đặt
ra cho mình một nhiệm vụ mới. Tôi sẽ ngừng phá hoại, hủy hoại, tôi sẽ
bắt tay vào xây dựng. Ngay cả với chị Columbe, tôi sẽ nhìn ra ở chị cái
gì đó tích cực. Điều quan trọng là việc người ta làm vào lúc chết, và
ngày mười sáu tháng Sáu tới đây, tôi muốn chết trong khi xây dựng.

16

Nỗi khó chịu của Hiến Pháp

Người
gõ cửa là Olympe Saint-Nice xinh đẹp, con gái của nhà ngoại giao ở tầng
ba. Tôi rất quý Olympe Saint-Nice. Tôi thấy rằng cần phải có tính cách
rất mạnh mới chung sống được với cái tên buồn cười như thế, nhất là khi
người ta biết rằng cô gái kém may mắn sẽ là mục tiêu của những kẻ trêu
chọc “Này, Olympe, anh có thể trèo lên núi của em được không?” trong
suốt thời thiếu niên dài tưởng như vô tận. Hơn nữa, Olympe Saint-Nice rõ
ràng không thích trở thành cái mà việc được sinh ra đời tặng cô. Cô gái
này không khao khát một cuộc hôn nhân giàu có, hay đi tới quyền lực,
hay đi theo con đường ngoại giao, chứ nói gì đến nổi danh trong nghệ
thuật. Olympe Saint-Nice muốn trở thành bác sĩ thú y.

- Cháu muốn
làm việc ở tỉnh lẻ, - một hôm cô ấy tâm sự với chúng tôi như vậy khi
chúng tôi nói chuyện về mèo trước cửa phòng tôi. - Ở Paris chỉ có những
con thú nhỏ thôi. Cháu thích cả bò và lợn nữa.

Olympe cũng không
làm hàng nghìn điệu bộ, giống như một số người sống trong tòa nhà này,
để chứng tỏ rằng cô nói chuyện với bà gác cổng vì cô
được-giáo-dục-tốt-về-cánh-tả-không-định-kiến. Olympe nói chuyện với tôi
vì tôi có một con mèo, con vật gắn kết cả hai chúng tôi vào một cộng
đồng cùng sở thích, và tôi đánh giá đúng đắn thái độ này, thái độ khinh
thường những rào cản mà xã hội không ngừng đặt ra trên những con đường
nực cười của chúng tôi.

- Cháu phải kể cho cô nghe chuyện đã xảy ra với Hiến Pháp mới được, - cô nói với tôi khi tôi mở cửa cho cô.

- Cháu vào đi đã, - tôi nói, - cháu có năm phút không?

Olympe
không chỉ có năm phút mà còn quá đỗi sung sướng khi tìm được một người
nói chuyện về mèo và về những chuyện vặt vãnh của chúng đến nỗi cô ấy ở
lại hẳn một tiếng đồng hồ, uống năm chén trà liền.

Vâng, tôi thật sự rất yêu quý Olympe Saint-Nice.

Hiến
Pháp là một con mèo nhỏ xinh xắn của nhà Josse, với bộ lông màu
caramel, chiếc mũi hồng dịu, ria mép trắng và gan bàn chân màu tím nhạt,
và cũng giống như tất cả những con vật có lông trong tòa nhà, chỉ cần
đánh rắm sai lệch thôi, là nó được giao cho Olympe chữa trị. Thế mà con
vật vô tích sự nhưng rất hấp dẫn đã ba tuổi này vừa kêu suốt cả đêm, phá
hỏng giấc ngủ của các chủ nhân.

- Tại sao thế? - tôi hỏi đúng
lúc, bởi vì chúng tôi cùng mải mê với âm mưu tạo một câu chuyện mà mỗi
người muốn đóng vai của mình một cách hoàn hảo.

- Viêm bóng đái! - Olympe nói. - Viêm bóng đái!

Olympe
mới chỉ mười chín tuổi và đang hết sức nóng lòng được vào học ở Trường
thú y. Trong khi chờ đợi, cô làm việc liên tục và vừa buồn vừa vui về
bệnh tật của những con vật nuôi trong toà nhà, những con duy nhất mà cô
có thể đem ra làm thí nghiệm.

Vì thế Olympe thông báo cho tôi kết quả chẩn đoán bệnh viêm bóng đái của Hiến Pháp cứ như nói về một vỉa kim cương.

- Viêm bóng đái! - tôi thốt lên.

-
Vâng, viêm bóng đái, - Olympe thì thào, mắt long lanh. - Tội nghiệp cô
nàng, nó đái ra khắp nơi và - Olympe lấy hơi trước khi nói điều quan
trọng nhất - nước tiểu của nó bị xuất huyết nhẹ!

Trời ơi, sao mà
hay thế. Nếu Olympe nói: có máu trong nước đái của nó, thì thật dễ hiểu.
Nhưng cô gái ấy xúc động khoác lên mình trang phục của một bác sĩ chữa
bệnh cho mèo và cũng đã biết sử dụng thuật ngữ. Tôi luôn vô cùng thích
thú khi được nghe nói như vậy. “Nước tiểu của nó bị xuất huyết nhẹ” là
một câu có ý nghĩa giải trí đối với tôi, một câu nói nghe sướng tai và
gợi nhớ đến một thế giới đặc biệt đã mệt mỏi vì văn học. Cũng chính vì
lý do đó mà tôi thích đọc những tờ hướng dẫn sử dụng thuốc để thư giãn
với sự chính xác trong thuật ngữ vốn đem lại ảo tưởng về sự chặt chẽ,
làm rung động bằng sự đơn giản và gợi đến một chiều không gian-thời gian
trong đó thiếu vắng nỗ lực hướng tới cái đẹp, sự đau khổ sáng tạo và
khát khao vô tận và vô vọng tới được những chân trời cao cả.

- Có
hai nguyên nhân có thể gây ra bệnh viêm bóng đái, - Olympe nói tiếp. -
Hoặc là do một mầm nhiễm khuẩn, hoặc là do rối loạn chức năng thận. Cháu
đã nắn bóng đái của nó rồi, để kiểm tra xem nó có giống quả cầu không.

- Quả cầu ư? - tôi ngạc nhiên.

-
Khi chức năng thận bị rối loạn và con mèo không thể đi tiểu được, thì
bóng đái của nó đầy và tạo nên một dạng “quả cầu bóng đái” mà ta có thể
cảm thấy được khi sờ nắn bụng nó, - Olympe giải thích. - Nhưng không
phải trường hợp này. Con mèo có vẻ không đau khi cháu khám cho nó. Nhưng
nó vẫn tiếp tục tè ra khắp nơi.

Tôi nghĩ đến phòng khách của
Solange Josse bị biến thành một ổ mèo khổng lồ ngả màu sốt cà chua.
Nhưng với Olympe, đó chỉ là những thiệt hại nhỏ.

- Cô Solange đã đem nước tiểu mèo đi phân tích.

Hiến
Pháp chẳng hề gì. Không có sỏi thận, không có mầm bệnh âm ỉ ẩn trong
bóng đái nhỏ bằng hạt lạc của nó, không có vi khuẩn xâm nhập. Tuy nhiên,
mặc dù đã uống các loại thuốc chống viêm, chống co thắt và kháng sinh,
nhưng Hiến Pháp vẫn không đỡ.

- Thế nó bị bệnh gì? - tôi hỏi.

- Cô sẽ không tin cháu đâu, - Olympe nói. - Nó bị viêm khe bóng đái tự phát.

- Trời ơi, nhưng đó là bệnh gì? - tôi hỏi, cảm thấy mình bị cuốn hút.

-
Vâng, cũng có thể Hiến Pháp là một con mèo béo mắc chứng cuồng loạn, -
Olympe cười trả lời. - Khe, tức là viêm thành bóng đái và tự phát là
không có nguyên nhân y học nào. Tóm lại, khi bị stress, nó bị viêm bóng
đái. Giống hệt như ở phụ nữ.

- Nhưng vì sao nó lại bị stress? -
tôi cao giọng hỏi, bởi nếu Hiến Pháp, một con mèo béo lười biếng chỉ có
tác dụng trang trí mà cuộc sống chỉ bị xáo động vì những cuộc thử nghiệm
thú y nhân từ là sờ nắn bóng đái, mà còn có lý do để bị stress, thì tất
cả các động vật còn lại sẽ bị nhấn chìm trong nỗi kinh hoàng.

- Bác sĩ thú y nói: chỉ riêng con mèo biết điều đó.

Olympe bĩu môi phản đối.

- Mới đây, chú Paul (Josse) nói rằng do nó quá béo. Ai mà biết được. Nguyên nhân có thể là bất cứ điều gì.

- Người ta chữa bệnh này thế nào?

- Cũng giống như chữa cho người, - Olympe cười. - Người ta cho nó uống thuốc Prozac.

- Không đùa chứ? - tôi nói.

- Không đùa, - con bé đáp.

Tôi
đã nói với các bạn rồi. Chúng ta là những con vật, chúng ta vẫn sẽ là
những con vật. Việc một con mèo của người giàu cũng mắc những căn bệnh
vốn làm đau khổ người phụ nữ văn minh hẳn ko làm người ta kêu gào về
việc đối xử thậm tệ với loài mèo hay về việc con người lây bệnh cho một
loài gia súc vô tội, mà ngược lại, nó kêu gọi tình đoàn kết sâu sắc giữa
các động vật. Chúng ta cùng có những sở thích giống nhau và cùng mắc
những bệnh tật giống nhau.

- Dù sao, - Olympe nói với tôi, - việc này khiến cháu sẽ phải suy nghĩ khi chăm sóc cho các con vật mà cháu không quen biết.

Cô bé đứng dậy, ngoan ngoãn xin phép ra về.

- Cảm ơn cô Michel, chỉ với cô cháu mới có thể nói về tất cả những điều đó.

- Không có gì, Olympe, - tôi nói với nó, - cô thích những chuyện thế này.

Khi tôi định đóng cửa, cô bé nói:

- Ồ, cô biết không, bà Anna Arthens sắp bán căn hộ của bà ấy. Cháu hy vọng là những người sắp chuyển đến cũng nuôi mèo.

17

Gà gô

Anna Arthens bán nhà!

- Anna Arthens bán nhà! - tôi nói với Léon.

- Ra thế, - nó đáp, hay ít nhất là tôi có cảm tưởng như vậy.

Tôi
sống ở đây đã hai mươi bảy năm và từ đó chưa có một căn hộ nào thay đổi
chủ. Cụ bà Meurisse để lại nhà cho bà Meurisse trẻ và cũng tương tự như
vậy với nhà Badoise, nhà Josse và nhà Rosen. Gia đình Arthens cũng dọn
đến cùng thời với tôi; có thể nói là họ và tôi cùng già đi. Còn nhà de
Broglie đã ở đây từ rất lâu và vẫn luôn ở căn hộ đó. Tôi không biết ông
Cố vấn bao nhiêu tuổi, nhưng từ khi còn trẻ, trông ông ấy đã già, nên
mới xảy ra tình trạng là giờ đây, mặc dù đã rất già, nhưng ông ấy lại
vẫn trẻ.

Như vậy, từ khi tôi làm gác cổng ở đây, Anna Arthens là
người đầu tiên bán tài sản cho người khác. Thật kỳ lạ, viễn cảnh đó làm
tôi lo sợ. Có phải tôi đã quá quen với sự khởi đầu lại vĩnh cửu của cùng
một thứ đến mức viễn cảnh về một thay đổi vẫn đang còn là giả thiết
nhấn chìm tôi vào dòng sông thời gian và đưa tôi trở lại với hành trình
của nó? Chúng tôi sống mỗi ngày hệt như nó sẽ lại được sinh ra vào ngày
mai và tôi cảm thấy nguyên trạng êm ả của toà nhà số 7 phố Grenelle, vốn
mỗi sáng lại tiếp nối nhau tưởng chừng mãi mãi, bỗng chốc giống như một
hòn đảo bị bão tố tràn tới.

Đầu óc chao đảo, tôi vớ lấy chiếc túi
có tay kéo và bước xiêu vẹo về phía chợ, bỏ mặc Léon đang ngáy khe khẽ ở
nhà. Đến góc phố Grenelle và phố Bac, ông Gégène, ông già luôn sống
trong thùng các tông cũ, nhìn tôi đi tới như con nhện khổng lồ nhìn con
mồi của mình.

- Này, mẹ Michel, bà lại bị mất mèo à? - lão nói với tôi và cười.

Thôi
thì ít nhất cũng có một thứ không thay đổi. Gégène là một người vô gia
cư và từ nhiều năm nay thường sống ở đây vào mùa đông, trong đống thùng
các tông rách nát. Ông ta mặc một chiếc áo khoác dài cũ kỹ trông giống
như áo của một nhà buôn Nga cuối thế kỷ và cũng như người mặc, nó nhiều
tuổi đến mức đáng ngạc nhiên.

- Ông nên đến trung tâm bảo trợ đi, - tôi nói với ông ta như thường lệ, - tối nay trời rét lắm đấy.

- Ah ah, - ông ta kêu the thé, - đến trung tâm ư, tôi rất muốn gặp bà ở đó. Nhưng ở đây thích hơn.

Tôi đi tiếp, rồi do cảm thấy hối hận, tôi quay lại chỗ ông ta.

- Tôi định nói là… ông Arthens đã chết đêm qua.

- Nhà phê bình ư? - ông Gégène hỏi, mắt chợt lanh lẹ, mũi nghếch lên như chó săn đánh hơi thấy gà gô.

- Đúng, đúng là nhà phê bình. Tim ông ấy đột ngột ngừng đập.

- Trời ạ, trời ạ, - ông Gégène xúc động ra mặt.

- Ông có biết ông ấy không? - tôi hỏi cho có chuyện.

- Trời ạ, trời ạ, những người tốt nhất lại cứ phải ra đi trước!

- Ông ấy đã sống một cuộc đời đẹp, - tôi mạo hiểm nói và ngạc nhiên vì câu chuyện quay sang hướng đó.

- Mẹ Michel ạ, - ông Gégène đáp lời, - những người như ông ấy không còn nữa đâu. Ôi chao, tôi sẽ rất nhớ ông ấy đấy.

- Ông ấy đã cho ông cái gì bao giờ chưa, một ít tiền nhân dịp Noel chẳng hạn?

-
Không, không một xu nào trong mười năm, bà tưởng gì cơ chứ? Ôi, chẳng
có gì phải nói cả, đó là một tính cách đáng kính. Không có nữa đâu,
không có nữa đâu.

Vài câu ngắn ngủi đó làm đầu óc tôi rối tinh
lên, trên đường đến chợ, ông Gégène choán hết toàn bộ suy nghĩ của tôi.
Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng người nghèo có tâm hồn cao thượng vì cớ họ
nghèo khổ và phải chịu những bất công của cuộc sống. Nhưng ít nhất, tôi
tin là họ cùng có chung nỗi hận thù những ông chủ lớn. Ông Gégène đã
giúp tôi tỉnh ngộ và dạy cho tôi điều này: nếu có một thứ mà người nghèo
căm ghét, thì đó chính là những người nghèo khác.

Suy cho cùng, đó không phải là điều phi lý.

Tôi đi lơ đãng trên đường, tới góc bán pho mát, mua một ít pho mát parmesan cắt lát và một miếng to pho mát soumaintrain.

18

Riabinine

Khi
lo sợ, tôi thường thu mình ẩn náu. Không cần đi đâu xa, chỉ cần đến với
ký ức văn học của bản thân mình là đủ. Còn có cách giải trí nào thanh
cao hơn, bầu bạn nào hấp dẫn hơn, thú vui nào tuyệt vời hơn văn học?

Bỗng
dưng tôi dừng chân trước một quầy bán ôliu và nghĩ đến Riabinine. Sao
lại là Riabinine? Bởi vì ông Gégène mặc một chiếc áo khoắc đuôi tôm dài
cũ kỹ, với hai vạt dài được đính khuy ở rất thấp phía sau, làm tôi nghĩ
đến chiếc áo của Riabinine. Trong Anna Karénine, Riabinine, gã lái buôn
mặc áo khoắc đuôi tôm dài, đến nhà Lévine, một nhà quý tộc nông thôn, để
ký kết việc mua rừng với nhà quý tộc Matxcơva Stépane Oblonski. Gã lái
buôn thề với trời đất rằng Oblonski có lãi trong vụ mua bán này, còn
Lévine lại buộc tội hắn ta đã lấy mất của bạn mình khu rừng đáng giá gấp
ba lần. Trước cảnh đó là đoạn đối thoại khi Lévine hỏi Oblonski xem đã
đếm số cây trong rừng của mình chưa.

- Sao lại thế, đếm số cây ư? - nhà quý tộc thốt lên, - khác nào đếm cát ở biển!

- Cậu phải biết rằng Riabinine đã đếm hết rồi, - Lévine đập lại.

Tôi
đặc biệt thích đoạn này, trước tiên vì nó diễn ra ở Pokrovskoie, một
vùng nông thôn Nga. Ôi, nông thôn nước Nga… Nơi đó có nét duyên dáng đặc
biệt của những vùng đất hoang dại nhưng lại gắn với con người bằng mối
liên kết với trái đất nơi tất cả chúng ta được sinh ra… Đoạn hay nhất
trong Anna Karénine diễn ra ở Pokrovskoie. Lévine rầu rĩ và u sầu cố
quên Kitty. Khi đó là mùa xuân, anh ra đồng cắt cỏ với nông dân của
mình. Lúc đầu, công việc đó quả là nặng nhọc đối với anh. Một lúc sau,
anh reo lên vui mừng khi bác nông dân già trưởng nhóm cho phép nghỉ giải
lao. Rồi công việc lại tiếp tục. Lévine một lần nữa kiệt sức, nhưng bác
nông dân lại giơ liềm lên lần thứ hai. Giải lao. Rồi nông dân lại tiếp
tục làm việc, bốn mươi người cắt các luống cỏ và tiến dần về phía sông,
mặt trời đã lên cao. Trời mỗi lúc một nóng, hai cánh tay và vai của
Lévine ướt đẫm mồ hôi, nhưng nhờ những lúc nghỉ và làm việc xen kẽ nên
các động tác của anh lúc đầu còn vụng về và rã rời, sau dần dần trở nên
thành thạo hơn. Bỗng nhiên, một làn nước mát rượi sung sướng tràn xuống
lưng anh. Mưa mùa hạ. Dần dà, anh bỏ bớt các vận động xiềng xích của ý
chí để bước vào trạng thái nhẹ nhõm, khiến động tác trở nên hoàn hảo như
các hoạt động máy móc và có ý thức, không nghĩ ngợi, không tính toán,
và chiếc liềm dường như tự điều khiển bản thân nó, còn Lévine thích thú
với sự lãng quên này trong vận động, sự lãng quên khiến cho ham muốn làm
trở nên hoàn toàn xa lạ với các nỗ lực của ý chí.

Như vậy, cuộc
sống của chúng ta có nhiều lúc hạnh phúc. Trút bỏ gánh nặng của quyết
định và mục tiêu, lướt trên mặt biển nội tâm của chính mình, chúng ta
nhìn những vận động khác nhau của mình như hành động của một người khác
và vẫn khâm phục sự tuyệt vời không chủ tâm của chúng. Còn lý do gì khác
để tôi có thể viết ra đây cuốn nhật ký nực cười của một bà gác cổng
đang già đi, nếu bản thân công việc viết lách không phải là nghệ thuật
cắt cỏ? Khi các dòng chữ trở thành kết quả sáng tạo của chính chúng, khi
tôi thấy không biết do sự kỳ diệu nào mà trên giấy hiện ra những câu
chữ nằm ngoài ý muốn của tôi, chúng tự ghi lại trên giấy mặc dù tôi
không chủ định, chúng cho tôi biết cái mà tôi không biết và cũng không
nghĩ là muốn biết, tôi thích thú với ca đẻ không đau đó, với sự hiển
nhiên không hề tính toán trước, và một cách không vất vả và cũng không
tin chắc, thêm vào đó là niềm hạnh phúc vì những bất ngờ chân thật, tôi
vui sướng đi theo ngòi bút dẫn dắt tôi và mang tôi đi.

Thế là hoàn
toàn tự nhiên và bằng tố chất của chính bản thân, tôi bắt đầu quên mình
và bước vào trạng thái xuất thần, tôi thưởng thức sự thư thái sung
sướng của một ý thức chứng kiến.

Cuối cùng, khi bước lên xe ngựa,
Riabinine kêu ca không giấu giếm với người chào hàng của mình về cung
cách của những nhà quý tộc.

- Còn chuyện mua bán thế nào, thưa ông Mikhail Ignatitch? - anh chàng vui tính hỏi.

- Ổn rồi, ổn rồi!... - nhà buôn đáp.

Chúng
ta kết luận thật vội vã từ bề ngoài, địa vị đến trí tuệ của con người…
Riabinine, kẻ đếm cát biển, diễn viên khéo léo và tên xảo trá cao thủ,
không hề bận tâm đến những định kiến của người khác về mình. Vốn là một
kẻ thông mình và nghèo khổ, hắn không màng tới vinh quang; hắn chỉ lên
đường vì những hứa hẹn về lợi nhuận và viễn cảnh đi cướp đoạt một cách
lễ độ các lãnh chúa của cái hệ thống trì trệ khinh bỉ hắn nhưng không
biết ngăn hắn lại. Như vậy, tôi, người gác cổng nghèo khổ không bao giờ
có cuộc sống xa hoa - nhưng là một dị thường đối với một hệ thống coi đó
là nực cười, hệ thống mà tôi vẫn thường chế giễu mỗi ngày trong thâm
tâm của tôi, nơi không ai có thể xâm nhập được.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.