Ba tách trà - Chương 20 phần 2
“Đây là một thị thực hạng hai.” tên lính xé một trang ra khỏi sổ
hộ chiếu của Mortenson và lập tức trả lại quyển hộ chiếu không còn giá
trị. “Ông phải đến Islamabad để có được thị thực hạng nhất. Thị thực của
Taliban.” hắn nói, đong đưa khẩu súng vẫy Mortenson tránh đường.
Sứ
quán Mỹ ở Islamabad từ chối không cấp hộ chiếu khác cho Mortenson vì hộ
chiếu cũ của anh “bị cắt xé một cách đáng ngờ”. Nhân viên lãnh sự phụ
trách nói với Mortenson rằng họ sẽ cấp cho anh một giấy tờ tạm mười ngày
để cho phép anh trở về Mỹ, ở đó anh có thể xin hộ chiếu mới. Nhưng
Mortenson còn đến một tháng đã lên kế hoạch làm việc cho CAI trước khi
về nhà nên anh đã từ chối. Thay vào đó, anh bay sang Katmandu, Nepal,
nơi mà lãnh sự quán Mỹ có tiếng là dễ dãi hơn.
Nhưng sau khi chờ
đợi đầy hi vọng cho đến lượt mình, và giải thích tình huống của mình với
một nhân viên lãnh sự có vẻ lịch sự, Mortenson thấy nét mặt anh ta
thoáng nghi ngờ, khiến cho anh biết rằng việc đến Katmandu cũng không ăn
thua gì. Người nhân viên lật qua hàng chục trang thị thực trắng đen của
Cộng hòa Hồi giáo Pakistan được dán lên hết trang này đến trang khác và
những trang thị thực nguệch ngoạc vào Afghanistan do Liên minh phương
Bắc cấp, các câu hỏi nảy sinh trong đầu, anh ta để Mortenson ở lại để đi
nói chuyện với cấp trên của mình.
Khi anh ta quay lại, Mortenson
đã biết trước điều mà anh ta sẽ nói. “Anh phải trở lại đây vào ngày mai
để nói chuyện với một người khác về việc này.” anh ta nói một cách lo
lắng, không nhìn vào mắt Mortenson. “Tôi sẽ giữ hộ chiếu của anh cho đến
lúc đó.”
Sáng hôm sau, một người lính hải quân biệt phái hộ tống
anh qua sân cỏ của khu nhà ngoại giao Mỹ ở Katmandu, từ văn phòng lãnh
sự đến tòa nhà chính của đại sứ quán, đưa anh đến một bàn họp dài trong
một phòng trống và khóa cửa lại khi đi ra.
Mortenson ngồi tại bàn
trong bốn mươi lăm phút, một mình cùng lá cờ Mỹ và tấm chân dung cỡ lớn
của George W. Bush. “Tôi biết họ đang định làm gì. Tôi chưa bao giờ xem
truyền hình nhưng cũng có thể biết đó là màn kịch trắng trợn của một
chàng mật vụ xấu tính nào đó. Có người nào đó theo dõi xem tôi có hành
động gì sai trái không, do vậy tôi chỉ mỉm cười, chào ông Bush và ngồi
chờ.”
Sau cùng, ba người đàn ông mặc áo vest thắt cà vạt nghiêm
chỉnh bước vào và kéo chiếc ghế xoay ra khỏi bàn ở đối diện Mortenson.
“Tất cả đều có những cái tên Mỹ dễ thương như Bob hay Bill hay Pete, và
họ tươi cười khi tự giới thiệu, nhưng rõ ràng đây là một cuộc thẩm vấn
và họ hiển nhiên là những nhân viên tình báo.” Mortenson nói.
Người
nhân viên rõ ràng là chịu trách nhiệm chính bắt đầu hỏi. Anh ta đưa
danh thiếp cho Mortenson qua mặt bàn bóng loáng. Danh thiếp ghi “Tùy
viên chính trị - quân sự, Đông Nam Á” bên dưới cái tên. “Tôi chắc chắn
là chúng ta có thể giải quyết xong chuyện này.” anh ta nói, nhếch một nụ
cười có ý làm lành, rút cây bút ra khỏi túi và đặt một quyển sổ tay lên
bàn như một ngườl lính nạp đạn vào vũ khí đeo bên hông. “Bây giờ, vì
sao ông lại muốn đến Pakistan?” Anh ta hỏi, quay trở lại vấn đề. “Lúc
này ở đó rất nguy hiểm và chúng tôi đã khuyến cáo tất cả công dân Mỹ rời
khỏi đó.”
“Tôi biết.” Mortenson nói. “Công việc của tôi là ở đó, tôi chỉ mới vừa rời Islamabad được hai ngày.”
Cả ba người đàn ông đều ghi vào sổ tay. “Ông có công việc gì ở đó?” Bob, Bill, Pete hỏi.
“Tôi làm việc ở đó từ tám năm nay.” Mortenson nói. “Và tôi cần làm một tháng nữa trước khi về nhà.”
“Đó là loại công việc gì?”
“Tôi xây dựng các trường tiểu học, chủ yếu dành cho trẻ em gái, ở miền bắc Pakistan.”
“Ngay lúc này ông điều hành bao nhiêu trường?”
“Tôi không biết chính xác.”
“Vì sao?”
“Vấn
đề là số lượng luôn thay đổi, nếu toàn bộ việc xây dựng hoàn tất vào
mùa thu này, điều mà anh không bao giờ biết trước được, thì chúng tôi sẽ
hoàn thành những ngôi trường độc lập thứ hai mươi hai và hai mươi ba.
Nhưng nhiều lúc chúng tôi mở rộng thêm những ngôi trường của chính phủ,
nếu có quá nhiều học sinh chen chúc trong các lớp học của những ngôi
trường này. Và chúng tôi tìm kiếm các trường do Chính phủ hay các tổ
chức phi chính phủ nước ngoài khác điều hành, mà các giáo viên đã không
được trả lương trong nhiều tháng hay nhiều năm. Chúng tôi xếp những
trường này vào danh sách bảo trợ của chúng tôi cho đến khi họ tự giải
quyết được. Chúng tôi cũng trả lương cho những giáo viên trong các trại
tị nạn ở Afghanistan để tổ chức lớp học ở đó mặc dù không hề có trường,
do đó số lượng thay đổi hằng tuần. Tôi đã trả lời xong câu hỏi của ông
chưa?”
Ba người đàn ông nhìn vào cuốn sổ tay của họ, cứ như là đang tìm kiếm điều gì phải rõ trắng rõ đen mà không thấy.
“Ngay lúc này đây, anh có bao nhiêu học sinh?”
“Thật khó nói!”
“Vì sao lại khó nói?”
“Đã có bao giờ anh đến một làng quê miền bắc Pakistanchưa?”
“Ý ông là gì?”
“Vâng,
bây giờ là mùa thu hoạch, hầu hết các gia đình đều cần con cái giúp đỡ
việc đồng áng, do đó họ cho chúng nghỉ học một thời gian. Và vào mùa
đông, đặc biệt là khi trời thật lạnh, họ phải đóng cửa trường học trong
vài tháng vì không thể đài thọ tiền sưởi. Rồi đến mùa xuân, một số học
sinh...”
“Một con số gần đúng.” người nhân viên chịu trách nhiệm chính ngắt lời.
“Từ mười đến mười lăm nghìn học sinh.”
Cả ba cây viết đều sột soạt một loạt, ghi lại sự kiện hiếm hoi vào giấy.
“Ông có bản đồ vẽ nơi mình làm việc không?”
“Ở Pakistan.” Mortenson nói.
Một nhân viên nhấc điện thoại lên và vài phút sau, một tập bản đồ được mang vào phòng họp.
“Vậy vùng gần Kashmir này được gọi là...”
“Baltistan.” Mortenson nói.
“Và dân ở đó là...”
“Shia, như ở Iran.” Mortenson nói, nhìn theo ba cây viết nhàn rỗi đang trở
nên sinh động.
“Và những khu vực ở gần Afghanistan này, nơi ông đang bắt đầu xây dựng trường học gọi là Tây Bắc gì nhỉ…?”
“Các Tỉnh Biên Giới Tây Bắc.” Mortenson nói.
“Và đó là những vùng thuộc Pakistan?”
“Điều đó phụ thuộc vào việc ông hỏi ai.”
“Nhưng họ là người Hồi giáo Sunni ở đó, về cơ bản là cùng một dân tộc với người Pashtun ở Afghanistan?”
“Vâng,
ở những vùng thấp thì chủ yếu là người Pashtun. Nhưng cũng có nhiều
người Ismaeli và một vài người Shia. Rồi ở vùng núi, ông sẽ gặp nhiều bộ
tộc với phong tục riêng của họ, Khowar, Kohistani, Shina, Torwali và
Kalami. Thậm chí còn có một bộ lạc theo tín ngưỡng vật linh, bộ tộc
Kalash, sống trong một thung lũng cách biệt ở bên ngoài điểm tôi đang vẽ
ở đây, nếu anh có tấm bản đồ tốt hơn, thì có thể ghi là Chitral.”
Người
thẩm vấn chính thở ra. Bạn càng thăm dò về chính trị Pakistan thì những
cái tên đơn giản lại tách ra thành những cái tên nhỏ hơn, không chịu
thu hẹp vào vài chấm đen trên giấy trắng. Anh ta đẩy cây bút và sổ tay
qua mặt bàn về phía Mortenson. “Tôi muốn ông viết ra một danh sách tất
cả những cái tên và số điện thoại của những người ông liên lạc ở
Pakistan.” anh ta nói.
“Tôi cần gọi cho luật sư của tôi.” Mortenson nói.
“Tôi
không muốn làm khó. Những chàng trai này có công việc nghiêm túc phải
làm, đặc biệt là sau ngày 11/9. Nhưng tôi cũng biết điều gì có thể xảy
ra cho những người vô tội có tên trong một danh sách kiểu đó. Và nếu
những anh chàng này đúng là loại người mà tôi nghĩ, thì tôi không thể
được bất cứ ai ở Pakistan nghĩ là tôi làm việc với họ, hay khi tôi đến
đó lần tới, tôi sẽ là một người chết.”
“Hãy gọi cho luật sư của
ông.” Bob, Bill, Pete vừa mở cửa vừa nói, có vẻ nhẹ nhõm, nhét sổ tay
vào túi. “Nhưng hãy trở lại đây vào chín giờ sáng mai.”
Sáng hôm
sau, đúng giờ khác với thường lệ, Mortenson ngồi xuống cái bàn họp. Lần
này, anh ngồi một mình cùng với người thẩm vấn chính. “Hãy làm rõ một số
chuyện ngay bây giờ,” anh ta nói. “Ông biết tôi là ai đúng không?”
“Tôi biết.”
“Ông có biết điều gì sẽ xảy ra nếu ông không nói sự thật với tôi?”
“Tôi biết.”
“Được. Có phụ huynh nào trong số học sinh của ông là kẻ khủng bố không?”
“Tôi không có cách nào biết được điều đó.” Mortenson nói. “Tôi có hàng nghìn học sinh.”
“Osama ở đâu?”
“Cái gì?”
“Ông nghe rõ tôi nói mà. Ông có biết Osama ở đâu không?”
Mortenson
tự nhủ mình đừng cười, đừng để nhân viên mật vụ nhìn thấy mình cười sự
ngu xuẩn của câu hỏi. “Tôi hi vọng mình không bao giờ biết một chuyện
như vậy.” anh nói một cách nghiêm túc đủ để kết thúc cuộc thẩm vấn.
Mortenson
quay lại Islamabab với hộ chiếu tạm thời một tháng mà đại sứ quán Mỹ ở
Katmandu miễn cưỡng cấp cho anh. Khi anh đăng kí phòng ở Home Sweet
Home, người quản lí chuyển cho anh một chồng thông điệp điện thoại từ
tòa đại sứ Mỹ mà anh đọc lướt qua khi đi dọc hành lang trải thảm hỏng
mòn cũ dẫn về phòng mình. Giọng điệu của những cảnh báo đều đều từ ngày
này sang ngày khác. Và những thông điệp gần đây nhất có giọng điệu gần
như điên cuồng. Nó ra lệnh cho tất cả thường dân Mỹ phải sơ tán lập tức
khỏi đất nước mà tòa đại sứ gọi là “nơi nguy hiểm nhất với công dân Mỹ
trên thế giới.” Mortenson ném chiếc túi lên giường và yêu cầu Suleman
tìm cho mình một chỗ trên chuyến bay sắp tới đến Skardu.
Một trong
số những người ngưỡng mộ Mortenson trong cộng đồng leo núi là Charlie
Shimanski, cựu giám đốc điều hành Hội Leo núi Mỹ, là người đấu tranh để
gây quỹ cho CAI giữa các thành viên của tổ chức này trong năm nay. Ông
so sánh khoảnh khắc mà Mortenson quay về Pakistan sau 11/9, hai tháng
trước vụ bắt cóc và chặt đầu Daniel Pearl, với những người lính cứu hỏa
New York xông vào Trung tâm Thương mại Thế giới đã hư hại. “Khi Greg
giành được giải Nobel Hòa Bình, tôi hi vọng những giám khảo ở Oslo xét
đến ngày đó.” Shimanski nói. “Anh chàng Greg này lặng lẽ lẻn trở về vùng
chiến sự để chiến đấu với những nguyên nhân thật sự của khủng bố thì
cũng anh hùng như những người lính cứu hỏa chạy lên cầu thang trong
những tòa tháp đang cháy trong khi những người khác cố để thoát ra một
cách điên cuồng.”
Trong tháng sau đó, khi máy bay ném bom và tên
lửa hành trình của Mỹ bắt đầu tấn công vào phía tây lãnh thổ, Mortenson
qua lại như con thoi ở miền bắc Pakistan trong chiếc Land Cruiser, đảm
bảo cho tất cả các dự án của CAI đang thực hiện được hoàn thành trước
khi thời tiết trở lạnh. “Ban đêm, nhiều khi tôi đi xe cùng Faisal và
chúng tôi nghe những chiếc máy bay quân sự bay qua trên đầu, trong không
phận Pakistan, nơi mà về mặt kĩ thuật, được cho là không có máy bay Mỹ.
Chúng tôi thấy cả một chân trời phía tây sáng lên như là đang nhìn vào
một tia sét nhiệt. Và Faisal, sẽ nhổ vào hình Osama Bin Laden bất cứ khi
nào anh ta gặp, rùng mình với ý nghĩ người dân sẽ ra sao dưới những
trái bom đó và ngẩng đầu lên để thực hiện một dua, xin Thánh Allah che
chở họ khỏi khổ đau không cần thiết.”
Vào ngày 29 tháng 10 năm
2001, sau khi trời tối, Baig hộ tống Mortenson đến sân bay quốc tế
Peshawar. Ở cổng an ninh, chỉ có hành khách mới được phép đi qua lính
gác. Mortenson nhận chiếc túi xách của mình từ người vệ sĩ, anh thấy đôi
mắt Baig ngấn lệ. Faisal Baig đã thề nguyện sẽ bảo vệ Mortenson ở bất
cứ nơi nào mà công việc đưa anh đến ở Pakistan, và đã chuẩn bị tinh thần
để sẵn sàng hi sinh tính mạng trong trường hợp khẩn cấp.
“Có gì vậy, Faisal?” Mortenson nói, bóp chặt đôi vai rộng của người vệ sĩ.
“Giờ đây đất nước của ông đang tham chiến.” Baig nói. “Tôi phải làm gì? Làm thế nào tôi có thể bảo vệ ông ở đó?”
Từ
chỗ ngồi gần cửa sổ trong cabin hạng nhất gần như vắng khách trên
chuyến bay từ Peshawar đến Riyadh, khi các tiếp viên tươi cười hướng dẫn
Mortenson ngồi, anh thấy bầu trời bên trên Afghanistan lóe lên một ánh
sáng chết chóc.
Sự nhiễu động tăng dần báo hiệu họ đã rời mặt đất
và đang ở trên mặt biển Ả Rập. Bên kia lối đi, Mortenson thấy một người
đàn ông để râu quấn khăn xếp đen đang chăm chú nhìn qua cửa sổ bằng cái
ống nhòm. Khi đèn từ những chiếc tàu trên biển xuất hiện phía bên dưới
họ, ông ta nói không ngừng nghỉ với người đàn ông ngồi kế bên. Và rút ra
từ túi áo shalwa kamiz ra chiếc điện thoại vệ tinh, người đàn ông này
vội vã đến phòng tắm, có lẽ là để gọi điện.
“Phía bên dưới trong
bóng tối.” Mortenson nói, “Là lực lượng hải quân xung kích có kĩ thuật
tinh vi nhất trên thế giới, phóng đi những máy bay chiến đấu và tên lửa
hành trình đến Afghanistan. Tôi không có cảm tình gì nhiều với Taliban,
càng không có chút cảm tình nào với Al Qaeda, nhưng tôi phải công nhận
rằng điều mà họ đang làm thật xuất sắc. Không có vệ tinh, không có không
quân, ngay cả rada thô sơ của họ cũng đã bị hạ đo ván, họ cũng khéo léo
đủ để sử dụng những chuyến bay thương mại bình thường để theo dõi vị
trí của Hạm đội Năm. Tôi nhận ra nếu chúng ta chỉ trông cậy vào kĩ thuật
quân sự để chiến thắng cuộc chiến chống khủng bố, thì chúng ta còn có
nhiều bài học để phải học.”
Mortenson đi ra sau việc kiểm tra hải
quan kéo dài một giờ bằng hộ chiếu tạm và thị thực của Pakistan, bước ra
khỏi khu vực đến của sân bay quốc tế Denver. Hôm ấy là ngày Halloween.
Bước qua một rừng cờ Mỹ nhô lên từ mọi bề mặt, trang trí mọi ô cửa và
treo trên mọi khung vòm, anh tự hỏi liệu sự bùng nổ màu đỏ, trắng và
xanh có nghĩa là anh sẽ không đến một ngày lễ khác. Gọi cho Tara từ điện
thoại di động khi đi về hướng chuyến bay chuyển tiếp đến Bozeman, anh
hỏi cô về những lá cờ.
“Có chuyện gì vậy, Tara? Ở đây cứ như ngày bốn tháng bảy vậy.”
“Chào mừng đến với nước Mỹ mới, anh yêu.”
Khuya
hôm đó, thao thức vì đã di chuyển quá nhiều, Mortenson nhẹ nhàng ra
khỏi giường mà không làm Tara thức dậy và lẻn xuống tầng hầm để đối mặt
với một chồng thư đã chất đống trong khi anh đi vắng. Những cuộc phỏng
vấn mà anh đã trả lời ở Marriot, chuyến đi của anh đến các trại tị nạn
cùng Bruce Finley và một bức email mà anh đã gửi cho bạn mình, Joel
Connelly, người viết xã luận cho tờ Seattle Post Intelligencer, bày tỏ
sự cảm thông đối với những người Hồi giáo vô tội bị kẹt trong hỏa lực,
đã được hàng chục tờ báo Mỹ đăng tải trong khi anh vắng mặt.
Mortenson
lặp lại những lời yêu cầu đừng vơ đũa cả nắm tất cả những người Hồi
giáo, và những lập luận của anh về một cuộc tấn công khủng bố nhiều gọng
kìm - sự cần thiết để giáo dục trẻ em Hồi giáo thay vì chỉ ném bom - đã
chạm đến thần kinh của một quốc gia vừa lâm chiến. Lần đầu tiên trong
đời, Mortenson thấy mình mở hết bao thư này đến bao thư khác chứa những
lá thư căm ghét.
Một lá thư đóng dấu bưu điện Denver không ghi địa
chỉ viết, “Tao ước gì một trong những quả bom của chúng ta rơi trúng mi
vì mi là kẻ phản lại những nỗ lực quân sự của chúng ta.”
Một lá
thư khác không kí tên với dấu bưu điện Minnesota tấn công Mortenson với
nét chữ ngoằn ngoèo. “Chúa của chúng ta thấy rằng mi sẽ phải trả giá đắt
vì là một kẻ phản bội,” lá thư bắt đầu, trước khi cảnh báo Mortenson
rằng “mi sẽ sớm chịu đau đớn dằn vặt còn hơn những người lính can đảm
của chúng ta.”
Mortenson mở hàng chục lá thư không kí tên tương tự
cho đến khi anh quá trầm uất để có thể đọc tiếp. “Đêm hôm đó, lần đầu
tiên kể từ khi bắt đầu làm việc ở Pakistan, tôi nghĩ đến việc từ bỏ công
việc.” anh nói. “Tôi trông đợi một điều tương tự từ một giáo sĩ làng
không hiểu biết gì, nhưng nhận được những bức thư này từ những đồng
hương người Mỹ khiến cho tôi tự hỏi phải chăng mình nên từ bỏ công
việc.”
Trong khi gia đình mình còn đang ngủ trên lầu, Mortenson
bắt đầu bị ám ảnh về sự an toàn của họ. “Tôi có thể chấp nhận việc bản
thân gặp một số rủi ro ở đây.” Mortenson nói. “Đôi khi tôi không có chọn
lựa nào khác, nhưng để cho Tara, Amira và Khyber gặp rủi ro ở đây, tại
nhà mình, là một điều không thể chấp nhận được. Tôi không tin rằng mình
lại để cho chuyện đó xảy ra.”
Chiều hôm sau, ngày 1 tháng 11 năm
2001, Mortenson tạm biệt gia đình ngay cả trước khi có một cơ hội để nói
một lời chào cho đầy đủ, nhét vài bộ quần áo thay đổi vào chiếc túi ngủ
và đáp chuyến bay đến Seattle, nơi anh có một bài nói chuyện vào tối
hôm đó. Jon Krakauer, đang ở đỉnh cao của sự nổi tiếng sau thành công
của quyển sách Into Thin Air, viết về tác động thương mại hóa tai hại đã
xảy ra đối với việc leo núi Everest, đã tình nguyện giới thiệu
Mortenson trong buổi nói chuyện gây quỹ có bán vé giá hai mươi lăm đôla
cho Viện Trung Á. Một cách lặng lẽ, Krakauer đã trở thành một trong
những người ủng hộ lớn nhất của CAI.
Trong một bài quảng bá cho sự
kiện trên, có tựa đề “Jon Krakauer Tái Xuất Từ Thinh Không”, John
Marshall của tờ Seatlle Post Intelligencer đã giải thích rằng nhà văn ẩn
dật đã đồng ý cho một lần xuất hiện trước công chúng hiếm hoi vì ông
tin rằng người dân cần được biết về công việc của Mortenson. “Điều mà
Greg đang làm cũng quan trọng như bất cứ quả bom nào đang được thả
xuống.” Marshall trích dẫn lời Krakauer. “Nếu Viện Trung Á không làm
điều họ đang làm, thì người dân ở vùng đó chắc hẳn sẽ hô vang khẩu hiệu
‘Chúng ta ghét người Mỹ!’ Thay vào đó, họ thấy chúng ta như những người
cứu giúp họ.”
Tại Tòa Thị chính Seattle, nằm trên đỉnh của khu
ngoại ô Fisrt Hill như một đền thờ Athen, Mortenson mặc shalwar kamiz
đến trễ mười lăm phút. Bên trong Tòa Thị chính, anh khúm núm khi thấy
mọi chiếc ghế đều có người ngồi và đám đông chen lấn để nhìn thấy được
sân khấu từ các cổng vòm của Tòa Thị chính. Anh vội vàng vào chỗ của
mình trên chiếc ghế phía sau bục sân khấu.
“Các bạn đã trả hai
mươi lăm đôla để đến đây, đó là một số tiền khá lớn, nhưng đêm nay tôi
sẽ không đọc bất cứ quyển sách nào của tôi.” Krakauer nói, khi đám đông
đã yên lặng. “Thay vào đó, tôi sẽ đọc các tác phẩm thẳng thắn nói về
tình trạng hiện nay của thế giới, và tầm quan trọng đang tăng lên trong
công việc của Greg.”
Ông bắt đầu với bài thơ The Second Coming của William Butler Yeats.
“Mọi
thứ đều rời ra; trung tâm không thể giữ lại.” Krakauer đọc bằng giọng
nhỏ nhẹ, khàn khàn, cũng không thoải mái trước đám đông như Mortenson.
“Chỉ là sự hỗn loạn được buông lỏng ra trên thế giới/Thủy triều máu được
buông lỏng ra, và khắp nơi/Nghi lễ của sự thơ ngây chìm đắm/Điều tốt
đẹp nhất mất tất cả sức thuyết phục. Trong khi điều xấu xa nhất lại đầy
sức mạnh nồng nàn.”
Lời than của Yeats không hề mất đi sức mạnh
của nó kể từ khi được công bố vào năm 1920. Đại sảnh đường im phăng phắc
sau khi dòng thơ cuối cùng lơ lửng trong khoảng không gian hình vòm
trên đầu thính giả. Rồi Krakauer đọc một trích đoạn dài từ một bài viết
mới đây trên tờ New York Times về những lao động trẻ em ở Peshawar và
những điều kiện kinh tế không thể chịu nổi khiến cho chúng dễ dàng được
những giáo sĩ cực đoan chiêu mộ như thế nào.
“Lúc Jon giới thiệu tôi, tất cả thính giả đều rơi lệ, kể cả tôi.” Mortenson nói.
Khi
đến lúc giới thiệu Mortenson, Krakauer nêu vấn đề bằng những nhận xét
của Yeats. “Dẫu cho điều xấu xa nhất có thể thực sự đầy sức mạnh nồng
nàn.” ông nói. “Tôi chắc chắn rằng điều tốt đẹp nhất dứt khoát không mất
tất cả sức thuyết phục. Để có bằng chứng, các bạn không cần nhìn đâu xa
hơn chàng trai đang ngồi phía sau tôi. Điều mà Greg đã thực hiện, với
số tiền rất nhỏ, gần như là một phép lạ. Nếu ta có thể nhân bản ra thêm
năm mươi Greg nữa, thì tôi không nghi ngờ gì chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo
sẽ nhanh chóng trở thành câu chuyện của quá khứ. Nhưng than ôi, chỉ có
một mình anh ta. Xin vui lòng cùng tôi đón chào Greg Mortenson.”
Mortenson
ôm Krakauer, cảm ơn ông và đề nghị người điều khiển máy chiếu chiếu tấm
phim slide đầu tiên, K2 được rọi lên trên màn hình phía sau anh, hình
chóp trắng đau đớn trên nền trời xanh như cái bát úp. Ở đây, trước thành
tích của những nhà leo núi hàng đầu, là thất bại của anh, được chiếu
cao như một tòa nhà ba tầng cho hàng nghìn người xem. Vậy tại sao anh
lại cảm thấy như thể cuộc đời mình đã vươn tới một đỉnh cao mới?a

