Ba tách trà - Chương 19 phần 3

“Vấn
đề của anh ở làng New York đến từ đó.” anh ta nói, giọng càu nhàu hướng
về phía biên giới. “Từ shetan Al Qaeda này.” anh ta nói, nhổ nước bọt
về hướng Afghanistan, Osama”.

Chiếc
trực thăng khổng lồ MI-17 do Nga sản xuất đã đến lúc 8 giờ sáng đúng
như trung tướng Bashir đã hứa với Mortenson. Viên sĩ quan hàng đầu của
Bashir, đại tá Ilya Mirza, nhảy xuống trước khi cánh quạt dừng quay và
vội vàng chào những người Mỹ. “Chúng tôi đến làm nhiệm vụ thưa các ngài,
bác sĩ Greg, ông George.” ông nói, khi toán biệt kích của quân đội nhảy
ra khỏi chiếc MI-17 tạo thành một vòng bao quanh những người Mỹ.

Ilya
cao và nhanh nhẹn theo phong cách mà Hollywood đã tưởng tượng ra cho
những người hùng của mình. Mái tóc đen của ông lốm đốm bạc ở ngay hai
bên thái dương trên khuôn mặt như tạc tượng. Ngoài ra, ông trông rất
giống thời còn trai trẻ, khi phục vụ với tư cách là một phi công chiến
đấu giỏi nhất của đất nước mình. Ilya cũng là người Wazir vùng Bannu,
khu định cư mà Mortenson đã đi qua ngay trước khi bị bắt cóc. Và sự hiểu
biết của vị đại tá về việc Mortenson lúc ban đầu đã bị bộ tộc của ông
đối xử như thế nào đã khiến ông quyết định phải trông chừng không để cho
người bạn Mỹ của mình gặp thêm điều gì tai hại nữa.

Faisal
Baig đưa tay lên cầu Allah và thực hiện một dua, cảm ơn Allah đã gửi
quân đội tới bảo vệ những người Mỹ. Gói ghém hành lí, không suy nghĩ về
nơi mình sẽ đến, anh leo vào chiếc trực thăng cùng với Mortenson và gia
đình McCown, chỉ để chắc chắn rằng vòng đai an minh của họ là không thể
phá vỡ được.

Từ
trên không, họ gọi về Mỹ bằng điện thoại của Mortenson, cố rút ngắn
cuộc gọi vì pin chỉ còn sử dụng được bốn mươi phút. Qua Tara và Karen,
vợ của McCown, họ biết được các chi tiết của những vụ tấn công khủng bố.

Nhét
ống nghe vào sâu hơn trong tai, Mortenson liếc mắt nhìn khung cảnh như
tranh cắt dán của các đỉnh núi mà anh có thể nhận ra qua những ô cửa nhỏ
của chiếc MI-17, cố giữ ăng-ten điện thoại hướng về phía nam, nơi có
các vệ tinh phản hồi giọng nói của vợ anh bay trên quỹ đạo.

Tara
quá nhẹ nhõm khi nghe tiếng chồng và òa khóc, nói với anh rằng cô yêu
anh nhiều như thế nào qua bầu khí quyển nhiễu sóng gây bực bội. “Em biết
anh đang ở quê hương thứ hai của anh và họ sẽ giữ cho anh được an
toàn.” cô hét lên. “Hãy kết thúc công việc rồi trở về nhà với em, anh
yêu.”

McCown,
từng phục vụ trong Bộ Chỉ huy Chiến lược Không quân Mỹ, tiếp nhiên liệu
cho những chiếc B-52 mang bom hạt nhân giữa không trung, đã có một nhận
thức sống động về số phận đang chờ đợi Afghanistan. “Cá nhân tôi có
quen biết Rumsfeld, Rice và Powell, vì vậy tôi biết chúng ta sắp đi vào
chiến tranh.” McCown nói. “Và tôi hình dung nếu bè lũ Al Qaeda đứng sau
chuyện này thì chúng ta sắp bắt đầu ném bom đưa bất cứ thứ gì còn lại
ởAfghanistan vào quên lãng trong bất cứ giây phút nào.”

“Nếu
điều đó xảy ra, tôi không biết Musharraf sẽ đi theo con đường nào. Ngay
cả khi ông ta nhảy về phía Mỹ, tôi cũng không biết quân đội Pakistan có
nhảy theo ông ta hay không vì họ đã ủng hộ Taliban. Tôi nhận thức rằng
chúng ta có thể có một kết cục như những con tin và tôi e rằng chúng ta
phải rời khỏi đây ngay.”

Người
thợ máy trên chuyến bay xin lỗi vì không có đủ bộ nghe tai cho mọi
người và đưa cho Mortenson một cặp nút nhét tai màu vàng. Anh nhét vào
tai và ép mặt mình vào một ô cửa, tận hưởng cảnh quan mà sự im lặng
dường như khuyếch đại lên. Bên dưới họ, những sườn đồi dốc theo từng bậc
của thung lũng Hunza dựng lên như những tấm chăn bông điên dại, vá víu
từng mảnh với nhau theo đủ mọi sắc độ của màu xanh, phủ lên những sườn
núi đá kềnh càng màu xám.

Từ
trên không, những vấn đề của Pakistan hiện ra một cách đơn giản. Đó là
những dòng sông băng treo màu xanh lá của Rakaposhi, vỡ vụn ra dưới mặt
trời nhiệt đới. Đó là dòng suối mang đứa con của tuyết. Bên dưới là
những ngôi làng thiếu nước. Mortenon liếc mắt theo những dấu vết của
những con kênh tưới mang nước đến từng mảnh ruộng bậc thang của làng. Từ
độ cao này, việc nuôi dưỡng sự sống và thịnh vượng trong từng khu định
cư tách biệt dường như chỉ đơn giản là việc vạch ra những đường thẳng để
làm chệch hướng nước.

Sự
bướng bỉnh rắc rối của các giáo sĩ làng chống đối việc giáo dục bé gái
không nhìn thấy được từ độ cao này, Mortenson nghĩ. Cũng như mạng nhện
chính trị địa phương có thể đánh bẩy sự tiến bộ của một trung tâm dạy
nghề phụ nữ hay làm chậm việc xây dựng một ngôi trường và làm thế nào có
thể hi vọng nhận diện ra những hang ổ của chủ nghĩa cực đoan, mọc lên
như những khối u ác tính trong những thung lũng dễ tổn thương này, khi
mà chúng cẩn thận ẩn mình sau những bức tường cao và tự che đậy mình với
cái cớ của việc giáo dục?

Chiếc
MI-17 hạ cánh ở Shangri-La, một khu nghỉ dưỡng câu cá đắt tiền do các
tướng Pakistan làm chủ trên một cái hồ cách Skardu một giờ bay về phía
tây. Trong căn nhà của chủ nhân, nơi một đĩa ăng-ten vệ tinh rà theo một
phiên bản chương trình CNN nhiễu lốm đốm trắng, McCown trải qua một
buổi chiều và buổi tối lặng người theo dõi cảnh quay những chiếc máy bay
màu bạc biến thành những tên lửa đâm vào Hạ Manhattan, và những tòa nhà
như những con tàu bị trúng thủy lôi chìm vào một biển tro.

Trong
Jamia Rarul Uloom Haqqania madrassa ở Peshawar, vốn được dịch là
“Trường Đại học của Kiến thức Chính thống” các học viên về sau khoe với
New York Time rằng họ đã ăn mừng ngày hôm đó như thế nào sau khi nghe
tin về vụ tấn công - họ hân hoan chạy qua khu nhà bề bộn, đấm những ngón
tay vào lòng bàn tay, nhại theo điều mà các giáo viên của họ đã dạy
rằng ý chí của Allah bằng hành động - cú đập của những chiếc máy bay lẽ
ra phải va vào những tòa nhà văn phòng của bọn ngoại đạo.

Giờ
đây, hơn lúc nào hết, Mortenson thấy rõ sự cần thiết phải cống hiến bản
thân mình cho giáo dục. McCown đang lo lắng muốn rời khỏi Pakistan bằng
bất cứ con đường nào, và “nướng” hết pin điện thoại, cố gắng gọi các
trợ lí kinh doanh đến gặp ông ở biên giới Ấn Độ hay sắp xếp những chuyến
bay đến Trung Quốc. Nhưng tất cả các đồn biên giới đều đã đóng chặt và
các chuyến bay quốc tế không cất cánh. “Tôi nói với George, lúc này anh
đang ở chỗ an toàn nhất trên thế giới.” Mortenson nói. “Những người dân
này sẽ bảo vệ anh bằng mạng sống của họ. Vì chúng ta không thể đi bất cứ
đâu, vậy sao chúng ta không theo chương trình ban đầu cho đến khi anh
có thể lên máy bay?”

Ngày
hôm sau, tướng Bashir đã sắp xếp chiếc MI-l7 đưa phái đoàn của McCown
theo một chuyến bay thám sát K2 để giải trí trong khi ông tìm cách gửi
McCown và gia đình về quê nhà. Áp mặt vào ô cửa một lần nữa, Mortenson
thấy trường Korphe trôi qua ở xa bên dưới, một hình lưỡi liềm lấp lóe mờ
nhạt như hi vọng, giữa những cánh đồng xanh như ngọc của làng. Trở lại
Korphe và uống trà cùng Haji Ali vào mỗi mùa thu trước khi trở về Mỹ đã
trở thành một thói quen của anh. Anh tự hứa với bản thân rằng sẽ sớm đến
thăm ông sớm ngay khi đã hộ tống những vị khách của mình rời khỏi đất
nước này một cách an toàn.

Thứ
sáu, ngày 14 tháng 9, Mortenson và McCown đi xe một giờ về phía tây đến
Kuardu trên chiếc Land Cruiser, dẫn đầu một đoàn xe nhiều hơn bình
thường từ khi tin buồn từ phía xa của thế giới đến với Baltistan. “Dường
như mọi chính trị gia, lãnh đạo, cảnh sát, quân sự và tôn giáo ở bắc
Pakistan đều đến để giúp chúng tôi khánh thành trường Kuardu.” Mortenson
nói.

Trường
tiểu học Kuardu đã hoàn thành và đi vào giảng dạy cho học sinh từ nhiều
năm. Nhưng Changazi đã hoãn việc khánh thành chính thức cho đến khi có
thể sắp xếp được một sự kiện hứa hẹn hoành tráng đúng mức, Mortenson
nói.


quá nhiều người chen nhau vào sân, họ vừa nhai hạt mơ vừa chen chúc
xung quanh, khiến cho ngay cả ngôi trường cũng khó được nhìn thấy. Nhưng
chủ đề của ngày hôm nay không phải là một tòa nhà. Chính Syed Abbas là
diễn giả nổi bật. Và với thế giới Hồi giáo đang bị cuốn vào cơn khủng
hoảng, người dân Baltistan bám vào từng lời của vị lãnh đạo tôn giáo tối
cao của họ.

“Bismillah
ir-Rahman ir-Rahim.” ông bắt đầu “Nhân danh Allah toàn năng, nhân đức,
từ tâm. As-Salaam Alaaikum” - “Hòa bình cho các bạn.”

“Do
định mệnh mà Thánh Allah toàn năng đã đem chúng ta lại với nhau trong
giờ phút này.” Syed Abbas nói. Sân khấu nơi ông đứng, không nhìn thấy
được giữa những thân người chen chật, làm cho ông như nổi trội giữa đám
đông trong bộ áo choàng và chiếc khăn xếp quấn đầu màu đen. “Hôm nay là
ngày mà con em các bạn sẽ nhớ mãi và kể lại cho con cháu mình. Hôm nay,
từ bóng tối của sự thất học, ánh sáng của giáo dục chiếu sáng rực rỡ.”

“Chúng
ta chia sẻ đau buồn với những người dân đang than khóc và chịu đau khổ ở
Mỹ trong ngày hôm nay.” ông nói, đẩy cặp kính sát vào. “Khi chúng ta
khánh thành trường học này, những kẻ đã gây ra hành động quỷ dữ chống
lại những người vô tội, phụ nữ và trẻ em, tạo ra hàng nghìn góa phụ, trẻ
mồ côi đã không làm điều đó nhân danh Hồi giáo. Ơn đức Allah toàn năng,
công lí sẽ phán xét chúng.

“Vì
thảm kịch này, tôi khiêm tốn cầu xin sự tha thứ của ông George và Greg
Shahib. Tất cả các bạn, các đạo hữu của tôi: Hãy bảo vệ và che chở hai
người anh em Mỹ này trong lòng chúng ta. Đừng để điều gì làm hại đến họ,
hãy chia sẻ tất cả những gì các bạn có để sứ mệnh của họ được hoàn
thành.”

“Hai
người Thiên Chúa giáo này đã đi nửa vòng trái đất để chỉ cho trẻ em Hồi
giáo ánh sáng của giáo dục.” Abbas nói “Vì sao chúng ta lại không thể
tự đem giáo dục đến cho con em chúng ta?” Hỡi các bậc cha mẹ, tôi van
các bạn dành hết nỗ lực và sự tận tâm để thấy tất cả con em các bạn được
giáo dục. Nếu không, chúng sẽ chỉ gặm cỏ như bầy cừu trên cánh đồng,
nhờ sự khoan dung của thiên nhiên, và thế giới đang thay đổi quá đáng sợ
quanh chúng ta.

Syed
Abbas ngừng lại, cân nhắc xem cần nói gì tiếp và không rõ vì sao, ngay
cả những đứa bé giữa hàng trăm người chen chúc trong sân cũng im lặng.

“Tôi
đề nghị nước Mỹ nhìn vào tấm lòng chúng ta.” Abbas tiếp tục, giọng ông
kéo dài vì xúc động, “Và thấy rằng đại đa số chúng ta không phải là
những kẻ khủng bố, mà là những người tốt và đơn giản. Đất nước chúng ta
bị hành hạ bởi đói nghèo vì chúng ta không có giáo dục. Nhưng ngày nay,
một ngọn nến của kiến thức đã được thắp lên. Nhân danh Allah toàn năng,
ánh sáng đó có thể soi sáng con đường cho chúng ta tự ra khỏi bóng tối.”

“Thật
là một bài diễn văn phi thường.” Mortenson nói. “Và khi Syed Abbas nói
xong, cả đám đông đều rơi lệ. Tôi ước gì tất cả những người Mỹ đang nghĩ
Hồi giáo là một cách nói khác của khủng bố có thể có mặt ở đây, trong
ngày hôm đó. Những người chủ thực sự của Hồi giáo là công lí, khoan dung
và nhân hậu, và Syed Abbas đại diện cho trung tâm ôn hòa của niềm tin
Hồi giáo một cách hùng hồn.”

Sau
nghi lễ, nhiều góa phụ Kuardu xếp hàng để bày tỏ lời chia buồn với
McCown và Mortenson. Họ dúi những quả trứng vào tay hai người Mỹ, van
nài cả hai mang theo những vật biểu hiện đau buồn đó đến cho những người
chị em phương xa mà họ mong muốn được cùng an ủi, những góa phụ của
làng New York.

Mortenson
nhìn những quả trứng còn tươi nguyên đặt đầy trong lòng bàn tay của
mình, anh khum đôi bàn tay lớn bao bọc quanh những quả trứng khi đi về
phía chiếc Land Cruiser, suy nghĩ về những đứa trẻ đã ở trên những chiếc
máy bay và những đứa con của chính anh ở quê nhà. Giờ đây, đi quanh đám
đông những người đàn ông râu dài, trên một tấm thảm với những vỏ hạt mơ
vỡ vụn bên dưới, bất lực, ngay cả việc vẫy tay chào tạm biệt, mọi thứ
trên thế giới này đều dễ vỡ.

Ngày
hôm sau, đại tá Ilya hộ tống họ đến Islamabad trên chiếc MI-17, họ hạ
cánh ở một bãi đáp trực thăng dành riêng cho Tổng thống Musharaff, với
mức độ an ninh được nâng cao. Những người Mỹ ngồi trong phòng đợi được
nhiều người canh gác, kế bên một lò sưởi trang trí đá hoa mà dường như
chưa bao giờ được sử dụng, bên dưới tấm chân dung sơn dầu của vị tướng
mặc lễ phục.

Đích
thân tướng Bashir hạ cánh xuống bên ngoài trên một chiếc Alouette từ
thời chiến tranh Việt Nam, được giới quân sự Pakistan đặt tên là “Ống
sáo Pháp”, vì nó đáng tin cậy hơn chiếc Huey cùng thời của Mỹ mà họ cũng
sử dụng. “Đại bàng đã hạ cánh.” Ilya thông báo một cách kịch tính, khi
Bashir, trán hói và trông giống một con bò mộng trong bộ đồ bay, nhảy
xuống mặt sân nhựa đường để vẫy họ vào.

Bashir
cho máy bay bay thấp và ôm nhanh theo những sườn đồi cây bụi, và lúc mà
cảnh quan đáng chú ý nhất của Islamabab, giáo đường Faisal do Ả Rập tài
trợ, với bốn tháp và đại sảnh cầu nguyện giống như một cái lều có sức
chứa bảy mươi nghìn người sùng đạo, đã mờ dần ở phía sau thì họ thực sự
đã đến Lahore. Vị tướng cho chiếc Alouette đáp xuống giữa một đường xe
taxi ở sân bay quốc tế Lahore, cách một chiếc 747 của hàng không
Singapore năm chục mét, chiếc máy bay sẽ đưa McCown và gia đình mình rời
khỏi vùng đất rõ ràng là đang sắp trở thành vùng chiến sự.

Sau
khi ôm chào Mortenson và Faisal Baig, McCown và các con được Bashir hộ
tống đến những ghế ngồi hạng nhất, ông nói lời xin lỗi những hành khách
khác trên chuyến bay mà mình đã làm trễ, ở lại cùng những người Mỹ cho
đến khi máy bay sắp cất cánh.

“Nghĩ
lại về tất cả những chuyện đó,” Mc Cown nói. “Mọi người ở Pakistan đều
đối xử tuyệt vời với chúng tôi. Tôi đã lo lắng nghĩ đến điều gì sẽ xảy
ra cho chúng tôi ở cái đất nước Hồi giáo được cho là đáng sợ đó. Nhưng
không có chuyện gì xảy ra.” Chuyện tồi tệ chỉ xảy ra khi tôi đã rời khỏi
đó.”

Một
tuần lễ sau, McCown nằm bẹp trong khách sạn sang trọng Raftles ở
Singapore, hồi phục sau khi bị ngộ độc đường ruột mà ông mắc phải từ
thức ăn hạng nhất của hàng không Singapore.

Mortenson
trở về phương bắc, hướng về Haji Ali, đáp một chuyến bay vận tải quân
sự đến Skardu trước khi ngủ suốt quãng đường đến Shigar ở thung lũng
Braldu trong ghế sau của chiếc Land Cruiser, trong khi Hussain lái xe và
Braig nhìn chăm chăm về phía chân trời với đôi mắt cảnh giác.

Đám
đông đứng trên mỏm đá ở bờ xa bên sông Braldu để chào đón anh dường như
có điều gì không hay. Rồi khi bước trên cây cầu đong đưa, Mortenson như
muốn ngừng thở khi anh nhìn lướt qua bờ xa của gờ đá. Điểm cao mà Haji
Ali vẫn thường đứng, độc lập như một tảng đá, nay trống không. Twaha gặp
Mortenson ở bờ sông và cho anh biết tin.

Trong
tháng sau khi cha chết, Twaha đã để râu và cạo đầu để tang. Với bộ râu
trên mặt, nét giống nhau giữa hai cha con lại càng rõ hơn bao giờ hết.
Mùa thu năm trước, khi đến đây để uống trà cùng Haji Ali, Mortenson đã
thấy nurmadhar Korphe quẫn trí. Vợ ông, Sakina, đã nằm liệt giường từ
mùa hè năm đó, khổ sở vì đau bao tử, cố khắc phục ốm đau bằng sự kiên
nhẫn của người Balti, bà đã từ chối thực hiện chuyến đi dài để đến bệnh
viện ở miền xuôi.

Cùng
Haji Ali, Mortenson đã đến thăm nghĩa trang Korphe, trên một cánh đồng
không xa trường học. Haji Ali, chậm chạp vì tuổi tác, khó nhọc quỳ gối
chạm vào phiến đá đơn giản đặt tại nơi mà Sakina được chôn cất, quay mặt
về phía Mecca. Khi đứng lên, đôi mắt ông ướt đẫm. “Không có bà ấy, tôi
chẳng là gì cả.” Haji Ali nói với đứa con trai người Mỹ của mình, “Chẳng
là gì cả.”

“Đối
với một người Hồi giáo Shia bảo thủ thì đó là một lời thổ lộ khác
thường.” Mortenson nói, “Nhiều người đàn ông có thể đã cảm nhận như vậy
về vợ mình, nhưng rất ít người có can đảm nói ra.”

Rồi
Haji Ali đặt tay mình lên vai Mortenson, cơ thể ông vẫn đang run lên,
Mortenson đoán rằng ông vẫn còn khóc. Nhưng tiếng cười khàn khàn của
Haji Ali do mấy chục năm nhai naswar thì không thể nhầm lẫn được.

“Một ngày không xa, anh sẽ đến đây để tìm ta và thấy ta cũng đã được trồng vào trong đất.” Haji Ali lặng lẽ nói.

“Tôi
chẳng thấy có gì vui với ý nghĩ rằng Haji Ali sắp chết.” Mortenson nói,
giọng anh vỡ ra khi cố nói về cái chết của người đàn ông này sau nhiều
năm. Anh quấn chặt người thầy đã dạy mình quá nhiều bằng một cái ôm và
hỏi xin thêm một bài học nữa.

“Tôi phải làm gì? Trong thời gian dài kể từ lúc này, khi cái ngày đó đến?” Anh hỏi.

Haji Ali ngước nhìn về phía đỉnh Korphe K2, cân nhắc từng lời “Hãy lắng nghe tiếng gió.” ông nói.

Cùng
Twaha, Mortenson quỳ xuống trước nấm mồ còn mới để tỏ lòng tôn trọng vị
trưởng làng Korphe đã khuất. Con người mà đôi khi từ trái tim ông đã
toát ra điều mà Twaha nghĩ rằng đó là tám mươi năm cuộc đời của cha
mình. Không có gì trường tồn, Mortenson nghĩ. Bất chấp mọi công trình
của chúng ta, không có gì là vĩnh cữu.

Trái
tim của cha anh không để cho nó sống quá bốn mươi tám năm, quá sớm để
Mortenson hỏi đủ những câu hỏi mà cuộc đời chồng chất quanh anh. Và giờ
đây người đàn ông Balti không thể thay thế được đã giúp lấp đầy một phần
sự trống rỗng đó, là ngươi đã cho anh quá nhiều bài học mà anh không
bao giờ học được, đang mục nát trong đất bên cạnh vợ mình.

Mortenson
đứng dậy, cố tưởng tượng ra Haji Ali sẽ nói gì trong một khoảnh khắc
như thế này, một thời kì đen tối trong lịch sử, khi tất cả những gì mà
ta thương yêu đều có thể vỡ ra như một quả trứng. Nhưng lời của ông vang
vọng trở lại với sự rõ ràng của một ảo giác.

“Hãy lắng nghe tiếng gió.”


vậy, khi chăm chú lắng nghe điều mà nếu không lắng nghe thì anh có thể
bỏ mất, Mortenson đã nghe. Anh đã nghe gió rít trong khe Braldu, mang
theo những tiếng rì rầm của tuyết và cái chết của mùa. Nhưng trong ngọn
gió quất qua rìa đá, nơi mà con người sống sót không rõ vì sao, trên cao
của Himalaya, anh cũng nghe cả tiếng nhạc rung lên của những giọng trẻ
em, đang chơi trong sân trường Korphe. Khẽ chạm các đầu ngón tay vào
những giọt nước mắt nóng ấm, Mortenson nhận ra đó là bài học cuối cùng
của anh. “Hãy nghĩ về chúng,” anh nghĩ. “Hãy luôn nghĩ về chúng.”

Báo cáo nội dung xấu