Ba tách trà - Chương 18 phần 2
Lang đã tự thiết kế căn nhà ba nghìn mét vuông, từ nước sơn giả
cẩm thạch trên những bức tường của căn phòng lớn, nơi các khách mời hòa
vào nhau với những cốc rượu vang rẻ tiền, rất thường được bởi người đàn
ông rất giàu có này dọn ra, và những bức tượng chú chó xù bằng thạch cao
trắng cao hơn ba mét, ngồi canh hai đầu lò sưởi sáu mét.
Lang
giới thiệu Mortenson với những vị khách của mình cũng với vẻ tự hào như
khi giới thiệu trang thiết bị phòng tắm và những chú chó xù ở lò sưởi.
Và mặc dù Mortenson đã đặt những tập bản tin của CAI một cách dễ thấy
trên bàn tiệc, đến cuối buổi tối, anh không thu được cho CAI một xu nào
từ Lang. Đã học được bài học từ Vera Kurtz, Mortenson thúc giục vị chủ
nhà về những chi tiết của khoản hiến tặng. “Chúng ta sẽ làm rõ mọi
chuyện vào sáng mai.” Lang nói. “Nhưng trước hết anh sẽ đi chơi xe trượt
do chó kéo.”
“Xe chó kéo?”
“Anh không thể đến Canada mà không thử nó.” Lang nói.
Trong
căn nhà nhỏ ấm áp cách Banff một giờ về phía tây, nơi họ ngồi nghỉ sau
khi Mortenson, tự mình đã được một bầy chó kéo xe kéo một vòng lướt qua
khu rừng, Mortenson trải qua gần hết buổi chiều hôm sau để nghe câu
chuyện huênh hoang của Lang về việc một nhà thầu gan dạ, chỉ bằng lòng
can đảm và quyết tâm đã chinh phục được thị trường nhà ở Banff như thế
nào.
Mẹ Mortenson là Jerene đã bay từ Wisconsin đến dự buổi nói
chuyện của anh, bà rất hiếm khi gặp được con trong ba ngày ở thăm.
Mortenson đã quay về Montana với hai bàn tay trắng mà không làm ai ngạc
nhiên.
“Tôi chỉ buồn khi thấy Mortenson phải khúm núm trước đám nhà giàu đó.”
Jerene Mortenson nói. “Họ phải cúi người trước con tôi mới đúng.”
Mùa
xuân năm 2000, Tara Bishop đã mệt mỏi vì những chuyến đi lang thang
khắp đất nước của Mortenson khi anh không ởPakistan. Đang mang thai đứa
con thứ hai bảy tháng, cô đã triệu tập một cuộc họp thượng đỉnh với
chồng ở bàn bếp nhà họ.
“Tôi đã nói với Greg rằng tôi yêu lòng đam mê của anh dành cho công việc.”
Tara
nói. “Nhưng tôi nói anh cũng phải có trách nhiệm với gia đình. Anh cần
ngủ nhiều hơn, tập thể dục đôi chút và dành đủ thời gian ở nhà để sống
với chúng tôi.” Vào thời điểm đó, Mortenson vẫn rời gia đình đến sống ở
Pakistan mỗi lần từ ba đến bốn tháng. “Chúng tôi nhất trí đặt ra một
giới hạn là hai tháng.” Tara nói. “Không có anh ở đây sau hai tháng, mọi
chuyện sẽ trở nên quá không bình thường.”
Mortenson cũng đã hứa
với vợ rằng anh sẽ học để quản lí thời gian tốt hơn. Ban giám đốc CAI đã
dành ra một ngân sách nhỏ hằng năm cho Mortenson tham dự các khóa học
về những đề tài như quản lí, phát triển và chính trị châu Á. “Tôi không
có thời gian dự những lớp học đó.” Mortenson nói. “Do đó tôi dùng tiền
để mua sách. Nhiều lúc, khi mọi người nghĩ rằng tôi chỉ ngồi dưới tầng
hầm mà không làm gì cả, thì tôi đang đọc những cuốn sách đó. Tôi bắt đầu
một ngày của mình lúc 3 giờ 30 sáng, cố học nhiều hơn về lí thuyết phát
triển tài chính và cách để trở thành một nhà quản lí tốt hơn.”
Nhưng
những gì học được ở Karakoram đã dạy anh rằng có một số câu trả lời mà
bạn không thể tìm thấy trong sách vở. Do đó Mortenson thiết kế một khóa
học về phát triển cấp tốc cho chính mình. Từ những gì đã đọc được, anh
quyết định rằng hai dự án phát triển nông thôn tốt nhất đang hoạt động
trên thế giới là ở Philippines và Bangladesh. Trong một tháng rảnh rỗi
hiếm hoi, anh để lại Pakistan và Bozeman ở phía sau và bay sang Đông Nam
Á.
Ở Cavite, cách Manila một giờ về phía nam, Mortenson đã đến
thăm Viện Tái thiết Nông thôn, được điều hành bởi John Rigby, một người
bạn của Lila Bishop. Rigby hướng dẫn Mortenson cách thành lập những
doanh nghiệp thật nhỏ cho vùng nông thôn nghèo đói, như xe đạp lôi và
những tủ bán thuốc lá, vốn có thể nhanh chóng thu lợi nhuận từ một khoản
đầu tư nhỏ ở một đất nước từng là đông Pakistan, Mortenson đã ghé thăm
BARRA, Hiệp hội Tái thiết Nông thôn Bangladesh. “Nhiều người gọi
Bangladesh là cái nách của thế giới,” Mortenson nói. “Vì sự nghèo khổ
cùng cực của nó. Nhưng sáng kiến giáo dục cho bé gái ở đây thành công
rất lớn. Tôi đã gõ cửa và viếng thăm những tổ chức phi chính phủ hoạt
động trong lĩnh vực giáo dục các bé gái từ lâu. Tôi thích thú nhìn thấy
những phụ nữ mạnh mẽ tổ chức những buổi họp làng và làm việc để tạo sức
mạnh cho những đứa con gái của họ.”
“Họ theo cùng một thứ triết lí
như tôi.” Mortenson nói. “Ý tưởng của người phụ nữ được nhận giải
Nobel, Amartya Sen, là bạn có thể thay đổi một nền văn hóa bằng cách cho
các bé gái lớn lên được giáo dục tốt, để cho chúng có thể tự giúp đỡ
chính chúng. Thật đáng ngạc nhiên khi thấy ý tưởng đó trong hành động,
có tác dụng thật tốt chỉ sau một thế hệ, và điều đó thôi thúc tôi chiến
đấu cho việc giáo dục trẻ em gái ở Pakistan.”
Trên chuyến bay
chồng chềnh của hãng hàng không Biman từDacca đến Calcutta, ý niệm của
Mortenson về nhu cầu hết sức cấp bách phải giáo dục cho các bé gái ở
nông thôn đã được khẳng định. Là người nước ngoài duy nhất trên chuyến
bay, anh được các tiếp viên hướng dẫn đến khu ghế hạng nhất, ở đó anh
ngồi giữa mười lăm bé gái Bangladesh xinh đẹp mặc những bộ sari mới màu
sáng. “Các em còn trẻ và sợ hãi.” Mortenson nói. “Các em không biết sử
dụng dây lưng an toàn hoặc những ly tách bằng bạc, và khi chúng tôi rời
sân bay, tôi vô vọng nhìn theo những nhân viên công quyền ăn hối lộ lùa
các em ra khỏi máy bay và quanh quẩn bên những nhân viên hải quan. Tôi
không thể làm gì cho các em. Tôi chỉ có thể tưởng tượng cuộc sống bán
thân khủng khiếp mà các em đang hướng đến.”
Từ tít lớn trên những
tờ báo ở sạp báo trong sân bay quốc tế Calcutta, Mortenson được biết một
trong những nữ anh hùng của anh, Mẹ Teresa, đã chết sau một thời gian
dài lâm bệnh. Anh còn chút thời gian rảnh trước khi quay về nhà, và anh
quyết định đến viếng để tỏ lòng tôn trọng bà.
“Hasit? Heroin?
Massage nữ? Massage nam?” Người tài xế nói, nắm tay Mortenson từ bên
trong sảnh đến nơi được cho là không được tiếp cận hành khách. “Ông cần
gì, bất cứ chuyện gì, không có vấn đề gì cả.”
Mortenson cười, thấy
ấn tượng bởi sự quyết tâm của người đàn ông. “Mẹ Teresa vừa mất, tôi
muốn đến viếng bà. Anh có thể đưa tôi đến đó không?”
“Không thành vấn đề.” anh ta nói, lắc lư cái đầu khi nắm lấy túi xách của Mortenson.
Người
tài xế hút thuốc luôn miệng khi họ đi trên chiếc Ambassador màu
vàng-đen, nghiêng người ra xa khỏi cửa sổ xe để Mortenson có được một
cái nhìn không bị cản trở về cảnh giao thông như ngày tận thế của
Calcutta qua kính chắn gió. Họ dừng lại ở một chợ hoa, Mortenson đưa cho
người tài xế số tiền rupi trị giá mười đôla và yêu cầu anh ta chọn loại
hoa phù hợp cho tang lễ. “Anh ta để tôi ngồi đó, người đầy mồ hôi. Và
trở lại sau ít nhất là ba mươi phút, ôm trong tay một bó lớn hoa cẩm
chướng và hoa hồng lòe loẹt. Chúng tôi phải vất vả lắm mới dồn được bó
hoa vào băng ghế sau.”
Lúc hoàng hôn, bên ngoài Motherhouse của
Dòng Truyền giáo Bác ái, hàng trăm người than khóc lặng lẽ tụ tập ở
cổng, cầm những cây nến, và xếp đặt trái cây, nhang trầm phúng điếu trên
lề đường.
Người tài xế bước ra và lắc mạnh cánh cổng kim loại.
Sahib này đã đi cả quãng đường từ Mỹ sang đây để tỏ lòng tôn kính! Anh
ta la lên bằng tiếng Bengal. Hãy mở cổng! Một chokidar già gác cổng đứng
dậy và quay trở lại với một nữ tu trẻ mặc áo màu xanh; cô nhìn người
khách bụi bặm và bó hoa lớn của anh từ trên xuống dưới trước khi ngoắc
anh vào. Bước đi một cách khó chịu ở phía trước, cô dẫn Mortenson xuống
một hành lang tối vang vọng tiếng cầu kinh từ xa, và chỉ anh hướng về
một phòng tắm.
“Sao ông không tắm rửa trước?” người nữ tu nói bằng tiếng Anh giọng Slave.
Mẹ
Teresa nằm trên một chiếc giường nhỏ đơn giản trong một căn phòng sáng
rực tràn đầy những ngọn nến cầu nguyện. Mortenson nhẹ nhàng gạt những bó
hoa khác sang bên, để có chỗ cho bó hoa lòe loẹt của mình, và tìm một
chỗ ngồi dựa tường. Người nữ tu, lui ra ngoài cửa, để anh lại một mình
với Mẹ Teresa.
“Tôi ngồi trong góc không có ý định phải làm gì,”
Mortenson nói. “Từ khi tôi còn là một cậu bé, bà đã là một trong những
vị nữ anh hùng của tôi.”
Sinh ra là một người Albanie thiểu số,
con của một nhà thầu thành công ở Kosovo, Mẹ Teresa có tên đầu đời là
Agnes Gonxha Bojaxhiu. Từ mười hai tuổi, bà nói, bà đã cảm nhận một lời
kêu gọi để làm việc với người nghèo, và bắt đầu được đào tạo cho công
việc truyền giáo. Khi là một thiếu nữ, bà đã xin vào Dòng Các Nữ Tu Đức
Bà ở Loreto, một dòng nữ tu Ireland, vì dòng này chuyên tâm vào việc
giáo dục cho trẻ em gái. Trong hai mươi năm, bà đã giảng dạy ở trường
trung học St. Mary, Calcutta, và sau cùng trở thành hiệu trưởng trường.
Nhưng vào năm 1946, bà nói, bà đã nhận được lời kêu gọi của Chúa chỉ dẫn
bà phục vụ “Người nghèo nhất của những người nghèo”. Năm 1948, sau khi
được sự cho phép đặc biệt của Giáo hoàng Pius XII để hoạt động độc lập,
bà thành lập một trường học dã ngoại cho trẻ em không nhà ở Calcutta.
Năm
1950, người phụ nữ khi đó được gọi là Mẹ Teresa được Vatican cho phép
thành lập dòng tu riêng của mình, Dòng Truyền giáo Bác ái, mà nhiệm vụ
theo bà là chăm sóc cho “người đói, người trần trụi, người không nhà,
người què quặt, người mù, người cùi và tất cả những người cảm thấy không
được cần đến, không được thương yêu và không được chăm sóc trong xã
hội, những người đã trở thành gánh nặng của xã hội và bị mọi người xa
lánh.”
Mortenson, với tình cảm của mình cho những người bị thua
thiệt trong xã hội, đã ngưỡng mộ sự quyết tâm của bà để phục vụ cho
những con người bị ruồng bỏ nhất trên thế giới. Khi còn là một cậu bé ở
Moshi, anh đã biết về những dự án đầu tiên của bà bên ngoài Ấn Độ, một
dưỡng đường dành cho người sắp chết ở Dares Salaam, Tanzania. Lúc nhận
được giải Nobel Hòa Bình năm 1979, tiếng tăm của Mẹ Teresa đã trở thành
động cơ tạo sức mạnh cho các trại mồ côi, trại tế bần và trường học của
Dòng Truyền giáo Bác ái trên khắp thế giới.
Mortenson đã nghe được
những lời chỉ trích về người đàn bà đang nằm trên chiếc giường nhỏ
trước mặt anh từ nhiều năm trước khi bà qua đời. Anh đã nghe lời biện hộ
của bà về việc nhận những khoản hiến tặng từ những nguồn không lương
thiện, như những kẻ buôn ma túy, những tập đoàn tội phạm và những nhà
chính trị tham nhũng hi vọng mua được con đường cứu rỗi cho mình. Sau
cuộc đấu tranh của chính mình để gây quỹ cho trẻ em ở Pakistan, anh cảm
thấy mình hiểu được điều gì đã thúc đẩy bà bác bỏ những lời chỉ trích
bằng cách nói, “Tôi không quan tâm đến việc tiền từ đâu đến. Tất cả đều
được rửa sạch trong việc phụng sự Chúa.”
“Tôi ngồi ở góc phòng
nhìn chăm chú vào khuôn mặt phủ vải liệm, trông bà quá nhỏ bé, quàn
trong vải liệm. Và tôi nhớ mình đã nghĩ thật đáng kinh ngạc khi con
người nhỏ bé này đã có một ảnh hưởng to lớn đến loài người.”
Những
người nữ tu, vào phòng để bày tỏ lòng tôn kính, đã quỳ gối để chạm vào
bàn chân của Mẹ Teresa. Anh có thể thấy nơi mà lớp vải muxơlin bạc màu
do hàng trăm bàn tay chạm vào. Nhưng Mortenson không muốn chạm vào chân
bà. Anh quỳ gối trên sàn nhà lát gạch lạnh lẽo kề bên Mẹ Teresa và đặt
bàn tay to lớn của mình lên trên bàn tay nhỏ bé của bà. Tay anh phủ kín
hết bàn tay bà.
Người nữ tu đã đưa anh vào quay trở lại, và thấy
anh đang quỳ. Cô gật đầu như muốn hỏi “Xong chưa?” và Mortenson lặng lẽ
theo cô xuống hành lang tối và bước ra ngoài cái nóng và huyên náo
củaCalcutta.
Người tài xế taxi đang ngồi xổm hút thuốc bật dậy khi
thấy vị khách sộp trong ngày đến gần. “Thành công? Thành công?” anh ta
hỏi, đưa anh chàng người Mỹ đãng trí băng qua một đường phố đầy xe kéo
và trở về chiếc Ambassador đang đợi sẵn. “Bây giờ,” anh ta nói “Ông có
thích massage không?”
Quay trở về an toàn trong căn phòng tầng hầm
của mình, trong suốt mùa đông năm 2000, Mortenson thường hồi tưởng
những giây phút hiếm hoi với Mẹ Teresa. Anh kinh ngạc về việc bà đã sống
cả cuộc đời của mình mà không có những chuyến về thăm quê dài ngày,
cách xa khỏi người nghèo khó và đau khổ, để có thể nghỉ ngơi và tiếp nối
cuộc chiến. Mùa đông năm đó, Mortenson cảm thấy kiệt sức. Cái vai bị
thương khi ngã từ núi Sill, vào ngày mà Christia chết, không bao giờ
lành lặn hẳn. Anh đã thử tập yoga và châm cứu mà không có kết quả. Đôi
khi nó nhói lên không thể lờ đi được khiến cho anh phải nuốt mười lăm
hay hai mươi viên Advil một ngày, cố làm dịu cơn đau để có thể tập trung
vào công việc của mình.
Mortenson cũng cố gắng thành công để cảm
thấy thoải mái trong quá trình trở thành một nhân vật của công chúng Mỹ.
Nhưng những dòng người bất tận muốn có được một điều gì đó từ anh đã
khiến anh hối hả xuống tầng hầm của mình, nơi anh lờ đi tiếng chuông
điện thoại reo không dứt và hàng trăm email dồn đống lại.
Những
nhà leo núi tiếp xúc với anh chờ đợi anh sắp xếp những chuyến thám hiểm
đến Pakistan, mếch lòng khi một nhà cựu leo núi không dừng công việc
đang làm lại để giúp họ. Những nhà báo, nhà làm phim gọi điện thoại liên
tục, hi vọng được đi cùng Mortenson trong chuyến đi sắp tới, muốn lợi
dụng những mối quan hệ mà anh đã xây dựng trong bảy năm qua để đến được
những khu vực cấm trước khi những người cạnh tranh với họ đến được.
Những bác sĩ, nhà băng hà học, nhà địa chấn học, nhà nhân chủng học và
những nhà sinh vật học hoang dã viết những lá thư dài, khó hiểu đối với
người không chuyên môn, mong muốn được trả lời chi tiết về những câu hỏi
hàn lâm mà họ đặt ra về Pakistan.
Tara được giới thiệu với một
nhà trị liệu quen biết ở Bozeman, người mà Mortenson đã bắt đầu nói
chuyện đều đặn khi anh ở nhà, để cố tìm ra căn nguyên của sự mong muốn
ẩn dật khi anh không ở Pakistan, và vạch ra chiến lược những phương pháp
để đối phó với sự tức giận đang tăng dần của anh đối với những người
muốn choán nhiều thời gian hơn thời gian mà anh có thể cho.
Căn
nhà của mẹ vợ anh, Lila Bishop, đã trở thành một nơi ẩn náu khác của
Mortenson, đặc biệt là tầng hầm nhà, nơi anh dành ra nhiều giờ miệt mài
đọc tủ sách về leo núi của Barry Bishop, đọc về cuộc di trú của người
Balti ra khỏi Tây Tạng, hay nghiên cứu một tập sách hiếm gồm những bản
phi đen trắng cực kì đẹp về K2 và những đỉnh núi xung quanh mà Vittorio
Sella đã chụp bằng chiếc máy ghi hình khổ lớn của ông cùng với đoàn thám
hiểm của công tước Abruzzi vào năm 1909.
Sau cùng, khi gia đình
tụ họp để ăn trưa trên lầu, Mortenson tự cho phép mình rời xa những
quyển sách. Lila Bishop, kể từ đó, chia sẻ ý kiến với con gái mình về
Mortenson. “Tôi phải chấp nhận rằngTara đúng, có điều gì đó với ‘ông
Tuyệt Vời’ này.” Lila nói. Và cũng như con gái mình, bà đã đi đến kết
luận rằng người đàn ông to con, hiền lành sống cách đó hai tòa nhà được
tạo nên bằng thứ chất liệu khác thường. “Vào một đêm trời tuyết khi
chúng tôi mở tiệc nướng, tôi đã yêu cầu Greg đi ra ngoài và lật cá hồi.”
Lila nói. “Một lúc sau, tôi nhìn ra cửa hiên và thấy Greg, đang đứng
chân trần trong tuyết, xúc cá bằng một cái xẻng, và hất cá lên, như là
một việc bình thường nhất trên thế giới này. Và tôi đoán rằng, đối với
Greg, đó là việc bình thường nhất. Kể từ đó, tôi biết rằng anh ta không
phải là một người như chúng ta, anh ta là loại người riêng của anh ta.”
Trong
những ngày mùa đông còn lại, tại tầng hầm nhà mình, Mortenson bị ám ảnh
bởi các báo cáo mà anh nhận được mô tả chi tiết về một thảm họa đang
diễn ra ở miền bắc Afghanistan. Hơn mười nghìn người Afghanistan, chủ
yếu là phụ nữ và trẻ em, đã chạy lên phía bắc trước sự chiếm đóng của
những toán quân Taliban, cho đến khi ra khỏi biên giới lãnh thổ Tajik.
Trên những hòn đảo giữa sông Amu Darya, những người tị nạn này dựng lên
những chòi đất và dần dần chết đói, ăn cỏ mọc ở bờ sông trong tuyệt
vọng.
Trong khi họ ốm đau và chết dần, thì những chiến binh
Taliban bắn vào họ để giải trí, chúng bắn súng phóng lựu theo đường vòng
cung cho đến khi những quả đạn rơi xuống giữa những người tị nạn hoảng
sợ. Khi họ cố chèo bằng những súc gỗ để qua sông sang đếnTajikistan, họ
bị lính biên phòng Nga bắn, người Nga dứt khoát không thể để sự hỗn độn
đang dấy lên ở Afghanistan tràn vào sân sau của họ.
“Kể từ khi bắt
đầu làm việc ở Pakistan, tôi chưa bao giờ ngủ nhiều.” Mortenson nói.
“Nhưng mùa đông năm đó, tôi hầu như không ngủ. Tôi thức cả đêm đi lại
trong tầng hầm nhà mình, cố tìm ra vài ba cách để giúp đỡ họ.”
Mortenson
gửi đi những lá thư đến ban biên tập của những tờ báo và đến các thành
viên quốc hội, cố để lay động sự tức giận. “Nhưng không một ai quan tâm,
Nhà Trắng, Quốc hội, Liên Hiệp Quốc, tất cả đều im lặng. Tôi thậm chí
bắt đầu tưởng tượng đến việc cầm một khẩu súng AK-47, bảo Faisal Baig
tuyển mộ một số người và vượt vào Afghanistan để tự mình chiến đấu cho
những người tị nạn.”
“Cái chính là tôi đã thất bại. Tôi không thể
làm cho bất cứ ai quan tâm. Và Tara sẽ nói với bạn rằng tôi đã có một
cơn ác mộng. Những gì mà tôi có thể nghĩ là tất cả những trẻ em đang
lạnh cóng đó sẽ không bao giờ có cơ hội để lớn lên, vô vọng giữa những
nhóm đàn ông có súng. Chết dần vì kiết lị do uống nước chưa đun nấu,
hoặc đói đến chết. Tôi thực sự muốn nổi điên lên. Thật ngạc nhiên là
Tara chịu đựng được tôi trong mùa đông đó.”
“Trong những thời kì
có chiến tranh, bạn thường nghe các nhà lãnh đạo - Thiên Chúa giáo, Do
Thái giáo và Hồi giáo - nói rằng Chúa ở về phía chúng ta nhưng điều đó
là không đúng, Chúa ở về phía những người tị nạn, những góa phụ và trẻ
mồ côi.”
Chỉ cho đến ngày 24 tháng 7 năm 2000, Mortenson mới thấy
tinh thần mình được nâng cao. Ngày hôm đó, anh quỳ gối trong nhà bếp và
vốc những vốc nước ấm bằng hai tay để rưới xuống tấm lưng trần của vợ
mình. Anh đặt hai bàn tay mình trên vai Tara, xoa bóp những cơ bắp căng
thẳng của cô, nhưng tâm trí cô xa cách cái chạm tay của anh nhiều dặm.
Cô đang tập trung cho việc chuyển dạ khó khăn phía trước. Người nữ hộ
sinh mới của họ, Vicky Cain, đã gợi ý cho Tara thử sinh đứa con thứ hai
dưới nước. Chiếc bồn tắm của họ quá nhỏ nên người nữ hộ sinh đã mang đến
một cái máng ngựa khổng lồ bằng nhựa xanh mà bà đã sử dụng, đặt chèn
giữa bồn rửa và bàn bếp của họ, và chứa đầy nước ấm.
Họ đặt tên
cho con trai mình là Khyber Bishop Mortenson. Ba năm trước đó, trước
ngày khánh thành trường Korphe, Mortenson đã đưa vợ và đứa con gái một
tuổi của mình đi tham quan đèo Khyber. Tấm thiệp Giáng sinh của họ năm
đó có hình Greg và Tara ở biên giới Afghanistan, trong y phục bộ tộc,
đang bồng Amira và hai khẩu AK-47 mà lính biên phòng đã cho họ mượn để
đùa vui. Giữa bức ảnh - tấm thiệp có ghi “Hòa bình trên Trái đất.”
Hai
giờ sau khi con trai mình chào đón thế giới từ chiếc máng ngựa, lần đầu
tiên sau nhiều tháng, Mortenson thấy tràn đầy hạnh phúc, chỉ riêng cảm
giác đặt bàn tay mình trên đầu con dường như đã làm tuôn chảy một dòng
suối mãn nguyện trong anh. Mortenson quấn đứa con trai mới sinh trong
một tấm chăn sờn và đưa Khyber cho cô con gái, đang học mẫu giáo, để
Amira có thể khoe khoang với các bạn cùng lớp.
Amira, đã là một
diễn giả trước công chúng thoải mái hơn cha mình, tiết lộ với các bạn
cùng lớp về phép lạ của những ngón tay và ngón chân nhỏ xíu của cậu em
trai trong khi cha cô bé bọc nó lại trong hai bàn tay to lớn của mình
như một quả bóng.
“Nó quá nhỏ bé và nhăn nheo.” Cô bé bốn tuổi tóc
vàng thắt đuôi sam nói, “Những em bé như thế này rồi có lớn lên giống
như chúng ta không?”
“Inshallah.” Mortenson nói.
“Hở?”
“Cha hi vọng là vậy, con yêu.” Mortenson nói. “Cha hi vọng một cách chắc chắn là như vậy.”

