Ba tách trà - Chương 13 phần 3
Kathy Jean Gross, biết chút ít tiếng Farsi, nói rằng cô đã tạo
được mối quan hệ sơ sài với một trong những nữ bảo vệ và tự hỏi có phải
điều này dẫn đến việc mình được phóng thích hay không.
Mortenson
đọc thấy những con tin bị buộc phải ngủ trên sàn với hai tay và hai chân
bị trói như thế nào. Họ được cởi trói khi ăn, đi vệ sinh và hút thuốc
để thỏa mãn thói quen của họ. “Một số người trong chúng tôi liều lĩnh
đến nỗi để được cởi trói nhiều hơn đã từ việc không hút thuốc bắt đầu
hút thuốc.” Time trích lời một phụ nữ tên là Elizabeth Montagne.
Bài
tường thuật đặc biệt kết thúc bởi một nhận xét mà những cây bút của
Time xem như là một điềm báo mạnh mẽ: “Nhà Trắng đã chuẩn bị để tỏ ra
bình tĩnh nhưng có khả năng rất thật rằng những con tin sẽ trải qua lễ
Giáng sinh cùng với những chiến binh của Khomeini trong tòa đại sứ ở
Teheran.” Với nhận thức muộn màng sau mười bảy năm, Mortenson biết rằng
các kí giả không bao giờ ngờ là vào tháng 1l năm 1977 - thêm hai lễ
Giáng sinh nữa sẽ trôi qua trước khi các con tin vụ thử thách con tin
444 ngày đi đến kết thúc.
Mortenson đặt tờ tạp chí xuống. Ít nhất
không ai trói hay đe dọa bắn anh. Tuy vậy, mọi việc có thể là tồi tệ,
anh nghĩ. Nhưng 444 ngày trong căn phòng lờ mờ này thì quá khủng khiếp
để suy ngẫm. Anh không thể nói bằng tiếng Pashto, nhưng anh sẽ tìm ra
cách để làm theo Kathy Jean Gross, Mortenson quyết định. Anh sẽ tạo ra
một cách nào đó để giao tiếp với những người đàn ông này.
Sau khi
nhấm nháp bữa ăn gồm dal và Kabuli pilau, Mortenson nằm mà không ngủ
được nhiều trong đêm thứ hai, xem xét thử và loại trừ nhiều chiến lược
khác nhau. Tờ tạp chí Time nói rằng những kẻ bắt cóc người Iran nghi ngờ
một số con tin của họ làm việc cho CIA. Anh bị bắt cóc vì lí do này
chăng? Họ có nghi ngờ anh là một điệp viên được gửi đến để theo dõi hiện
tượng tương đối chưa được biết nhiều là Taliban hay không? Có thể là
như vậy, nhưng với những kĩ năng ngôn ngữ có giới hạn của mình, anh
không có cách nào để giải thích về công việc mà anh đã làm cho trẻ em
Pakistan, do đó anh không tính đến việc thuyết phục họ nữa.
Anh bị
cầm giữ để đòi tiền chuộc? Bất chấp thực tế là anh vẫn bám vào hi vọng
cho rằng người Wazir có ý định tốt và chỉ hiểu lầm, anh phải chấp nhận
rằng tiền có thể là một động cơ. Nhưng một lần nữa, anh không biết tiếng
Pashto để thuyết phục họ rằng số tiền mặt mà anh có ít ỏi đến nực cười
như thế nào. Có thể nào anh bị bắt cóc vì anh là một người ngoại đạo xâm
phạm vào đất của người Hồi giáo chính thống? Lật đi lật lại những câu
hỏi đó trong khi những gã coi tù hưởng giấc ngủ được tăng cường bởi hóa
chất, anh nghĩ có thể là như vậy. Và nhờ người thợ may, anh có thể gây
ảnh hưởng đến những kẻ bắt giữ anh dù không nói được ngôn ngữ của họ.
Buổi
sáng thứ hai ở trong phòng, khi những người lính canh dựng anh dậy với
trà, anh đã sẵn sàng. “El Koran?” anh nói, làm điệu bộ như một đàn ông
sùng đạo lật từng trang quyển sách thánh. Đám lính canh hiểu ngay, vì
tiếng Ả Rập là thứ ngôn ngữ cho việc thờ phụng được sử dụng khắp thế
giới. Người có vết sẹo trên trán nói gì đó bằng tiếng Pashto mà
Mortenson không thể giải mã được, nhưng anh chọn cách hiểu là yêu cầu
của anh đã được ghi nhận.
Đến chiều ngày thứ ba, một người đàn ông
lớn tuổi mà Mortenson cho là giáo sĩ của làng đã đến, tay cầm cuốn kinh
Koran bụi bặm, bọc nhung xanh. Mortenson cảm ơn ông ta bằng tiếng Urdu,
đúng lúc, nhưng không thấy có gì lung linh trong đôi mắt ông già này.
Mortenson mang cuốn sách đến tấm đệm của mình và thực hiện wudu, nghi
thức tẩy rửa khi không có nước, trước khi mở cuốn sách ra một cách tôn
kính.
Mortenson cúi người trên cuốn kinh, giả vờ như đang đọc,
lặng lẽ đọc những đoạn thơ Koran mà anh đã học dưới cái nhìn vô hình của
hình nộm nhà ông thợ may ở Rawalpindi. Giáo sĩ tóc hoa râm gật đầu như
hài lòng, và để Mortenson ở lại một mình cùng những người canh gác.
Mortenson nghĩ đến Haji Ali, không biết chữ Ả Rập nhưng cũng lật những
trang kinh Koran của mình một cách trìu mến, và mỉm cười, tự sưởi ấm
mình bằng thứ cảm xúc nhen nhóm đó.
Anh cầu nguyện năm lần mỗi
ngày khi nghe tiếng gọi từ một giáo đường gần đó, thờ phụng Allah theo
cách Sunni trên mảnh đất Sunni này và mải mê nghiên cứu kinh Koran.
Nhưng dường như kế hoạch của anh không có tác dụng gì, anh không nhận
thấy có sự thay đổi gì trong thái độ của những người canh giữ. Khi không
giả vờ đọc kinh Koran, Mortenson quay sang tờ Time để tìm sự khuây
khỏa.
Nhận thấy đầu óc mình quay cuồng vì lo lắng như thế nào cứ
mỗi lần đọc lại, anh quyết định tránh những câu chuyện về vụ khủng hoảng
con tin. Anh cố quên đi cảnh vật xung quanh mỗi lần ba mươi phút với
tấm hình nhìn nghiêng xu nịnh của một ứng cử viên nổi tiếng vừa mới
tuyên bố mong muốn của mình để ủng hộ Tổng thống Ronald Reagan. “Đây là
lúc để chấm dứt sự lo âu về việc có ai thích chúng ta hay không, và
quyết định rằng, một lần nữa, chúng ta sẽ được tôn trọng trên thế giới.”
Reagan nói với phóng viên của tờ Time. “Để cho không có một nhà độc tài
nào chiếm giữ tòa đại sứ và bắt giữ công dân của chúng ta một lần nữa.”
Dưới thời Tổng thống Clinton, sự tôn trọng nước Mỹ trên thế giới đã
tăng lên đều đặn, Mortenson nghĩ. Nhưng ngay tại nơi này, điều đó có
giúp gì được cho anh không? Ngay cả nếu như một nhà ngoại giao Mỹ có thể
dựa vào uy thế đó để cố giải thoát anh, thì cũng không ai biết anh đang
ở đâu.
Ngày thứ tư và ngày thứ năm đóng kịch đã trôi qua, chỉ
được đánh dấu bằng chất lượng ánh sáng lọt qua cửa chớp. Về đêm, những
loạt tiếng súng ngắn, dữ dội vang vọng bên ngoài khu nhà và được đáp lại
bằng tiếng súng bắn trả rời rạc từ pháo đài.
Ban ngày, Mortenson
lén nhìn qua lá sách cửa sổ. Nhưng cảnh nhìn - bề mặt trống trải của bức
tường ngoài khu nhà - không giảm nhẹ sự tẻ nhạt trong căn phòng.
Mortenson tuyệt vọng tự tìm cách giải khuây. Nhưng anh chỉ có thể đọc
nhiều lần bài phê bình của tờTime, chỉ trích gay gắt sự thiên lệch văn
hóa trong việc kiểm tra IQ Stanford-Binet, hay những báo cáo vội vàng về
việc cây hướng dương trở thành thứ hái ra tiền ở Bắc Dakota như thế
nào.
Những mẩu quảng cáo là câu trả lời. Chúng là những ô cửa sổ nhìn về quê hương.
Vào
lúc đoán là đã giữa đêm thứ năm, Mortenson cảm thấy một đợt sóng đen
tối phủ lên chân anh, dâng lên đến đầu gối anh, đe dọa nhấn chìm anh
trong tuyệt vọng. Anh nhớ đến Tara như một nơi để bấu víu. Anh đã nói
với nàng rằng anh sẽ quay lại sau một hay hai ngày và điều làm anh day
dứt là không có cách nào để an ủi cô. Anh nghĩ mình có thể cho đi bất cứ
thứ gì để thấy được tấm ảnh mà anh đã chụp cùng cô vào ngày cưới. Trong
tấm ảnh đó, anh quàng tay cô trước chiếc xe điện đưa họ đi trên chuyến
đi hạnh phúc. Tara rạng rỡ trước ống kính, trông hạnh phúc như chưa từng
được hạnh phúc. Anh tự trách mình vì đã để lại cái ví trong chiếc túi
vải tại khách sạn ở Peshawar.
Nhờ sức mạnh của ý chí, Mortenson
ngăn lại đợt sóng đen tối và lật những trang tạp chí, tìm kiếm một chỗ
đứng vững chắc trong cái thế giới ấm áp mà anh để lại phía sau. Anh nhìn
vào mẩu quảng cáo xe Chevrolet Classic Estate Wagon, một bà mẹ xinh đẹp
vùng ngoại ô đang mỉm cười trước câu nói gì đó của hai đứa con đáng yêu
ngồi ở ghế sau chiếc xe ốp gỗ, an toàn, tiết kiệm nhiên liệu.
Gần
hai tiếng đồng hồ, anh mải mê trên những trang quảng cáo máy ảnh Kodak
tự động. Những cành cây Giáng sinh treo vật trang trí là những tâm ảnh
của một gia đình hân hoan không thể chối cãi. Một người ông đáng kính,
ẩn mình một cách ấm áp trong chiếc áo choàng tắm màu đỏ thoải mái, dạy
cho cậu bé tóc vàng thật lí tưởng cách sử dụng món quà mới của nó - một
cái cần câu. Một bà mẹ rạng rỡ ngắm nhìn đứa con má hồng như quả táo
đang mở bao gói những chiếc nón bóng bầu dục và vụng về với những con
búp bê nhồi bông. Bất chấp sự thật là những ngày Giáng sinh thời thơ ấu
của Mortenson đều trải qua ở Phi châu, và sự tiếp xúc gần gũi nhất với
cây Giáng sinh truyền thống của anh là một cây thông nhân tạo được phủi
bụi mỗi năm, anh bám vào hình ảnh từ cái thế giới mà anh đã biết này như
một cái phao cứu sinh, thế giới không phải là căn phòng có mùi dầu hôi
và những người đàn ông ác ý này.
Vào lúc bình minh của ngày thứ
sáu bị giam giữ, đôi mắt của Mortenson đang dõi theo mẩu quảng cáo thuốc
vệ sinh răng miệng WaterPik. Dòng chữ ghi “Một nụ cười phải hơn một kí
ức.” và nội dung thể hiện thông tin lãnh đạm về “các vi khuẩn gọi là
mảng bám tăng trưởng và sinh sôi bên dưới nướu răng”, nhưng Mortenson
không chú ý đến câu chữ. Ảnh chụp một gia đình ba thế hệ bền vững người
Mỹ đứng trước cổng một căn nhà gạch chắc chắn vượt quá điều mà anh có
thể chịu đựng. Cái cách mà tất cả họ khoe những nụ cười sáng rỡ và tựa
vào nhau toát lên mức độ yêu thương và quan tâm, những cảm xúc mà anh có
đối với Tara, những cảm xúc mà không một ai ở đây có với anh.
Anh
cảm nhận, trước khi thấy, có một người nào đó đứng trên bọc chăn màn
của mình. Anh ngước lên, nhìn vào mắt một người đàn ông cao lớn. Bộ râu
bạc của ông ta được cắt tỉa theo kiểu học giả, và ông cười một cách tử
tế khi chào Mortenson bằng tiếng Pashto, rồi nói, “Vậy ra anh là người
Mỹ?” bằng tiếng Anh.
Mortenson đứng dậy để bắt tay ông ta và căn
phòng quay cuồng không kiểm soát được. Đã bốn ngày, anh từ chối mọi thứ,
trừ cơm và trà. Người đàn ông nắm lấy vai anh, giúp anh vững dạ, và gọi
bữa sáng.
Giữa những miệng đầy chapati nóng, Mortenson ăn bù cho
sáu ngày của mình mà không nói gì. Khi anh hỏi tên người đàn ông tốt
bụng, ông ta ngừng lại một cách ý nghĩa trước khi nói, “Chỉ cần gọi tôi
là Khan.” trong tiếng Waziristan tương đương với từ “Smith”.
Mặc
dù là người Wazir, nhưng “Khan” đã được học tại một trường Anh ở
Peshawar, nói bằng giọng rõ và nhanh, nhịp nhàng như đã được dạy ở
trường. Ông không giải thích vì sao ông đến, nhưng Mortenson hiểu rằng
ông được phân công để phụ trách gã người Mỹ. Mortenson nói với ông về
công việc của mình ở Baltistan, câu chuyện xoay quanh những ấm trà xanh.
Anh giải thích rằng mình dự định xây thêm nhiều trường học cho những
trẻ em Pakistan bị lãng quên nhiều nhất, và anh đến Waziristan để xem ở
đây có cần đến sự phục vụ của anh không.
Anh lo ngại chờ đợi câu
trả lời của Khan, hi vọng rằng việc giam giữ anh chỉ là hiểu lầm và anh
sẽ sớm lên đường trở về Peshawar. Nhưng anh không có được sự thoải mái
đó từ người đàn ông to lớn như gấu trước mặt mình. Khan nhặt tờ tạp chí
Time và lật một cách hờ hững, tâm trí rõ ràng là để ở nơi khác. Ông dừng
lại ở trang quảng cáo cho quân đội Mỹ, và Mortenson cảm nhận sự nguy
hiểm. Chỉ vào ảnh một phụ nữ có ngụy trang đang sử dụng máy vô tuyến,
Khan hỏi, “Ngày nay, quân đội Mỹ của anh đưa cả phụ nữ ra trận, phải
không?”
“Không thường xuyên.” Mortenson nói, tỏ vẻ ngoại giao.
“Nhưng trong văn hóa của chúng tôi, phụ nữ có quyền tự do lựa chọn nghề
nghiệp.” Anh cảm thấy thậm chí câu trả lời đó cũng chứa mầm mống công
kích. Anh suy nghĩ nhanh về những đề tài mà họ có thể tìm được tiếng nói
chung.
“Vợ tôi sắp sinh con đầu lòng, zoi, một bé trai.” Mortenson nói. “Và tôi cần có mặt ở nhà trong ngày cháu chào đời.”
Nhiều
tháng trước, Tara đi siêu âm và Mortenson đã thấy hình ảnh lờ mờ của
một bé gái trong nước ối. “Nhưng tôi biết đối với người Hồi giáo, sự ra
đời của đứa con trai là một sự kiện lớn.” Mortenson nói. “Tôi thấy khó
chịu khi phải nói dối, nhưng tôi nghĩ rằng sự ra đời của một đứa con
trai có thể làm cho họ thả tôi.”
Khan tiếp tục cau mày trên mục
quảng cáo của quân đội như không nghe thấy gì. “Tôi đã nói với vợ rằng
tôi sắp trở về.” Mortenson khích động. “Và tôi biết chắc cô ấy thực sự
lo lắng. Tôi có thể gọi điện báo với cô ấy rằng tôi vẫn ổn không?”
“Ở đây không có điện thoại.” người đàn ông tự gọi mình là Khan nói.
“Liệu ông có thể đưa tôi đến một đồn trú của quân đội Pakistan? Tôi có thể gọi điện thoại từ đó?”
Khan
thở ra. “Tôi e điều đó là không thể được.” ông nói. Sau đó ông nhìn vào
mắt Mortenson, một cái nhìn chần chừ như gợi lên những tình cảm mà ông
không được phép thể hiện. “Đừng lo,” ông ta nói, thu dọn bộ đồ trà và
rời đi, “Ông sẽ ổn thôi.”
Buổi chiều ngày thứ tám, Khan lại đến gặp Mortenson. “Ông là người hâm mộ bóng đá chứ?” ông ta hỏi.
Mortenson
cân nhắc sự nguy hiểm ẩn chứa trong câu hỏi và đoán chắc là không có gì
nguy hiểm. “Chắc chắn rồi, tôi đã chơi bóng ở trường cao đẳng, trường
đại học.” Anh nói và khi chuyển nghĩa từ tiếng Mỹ sang tiếng Anh, anh
nhận ra Khan muốn nói là bóng đá.
“Vậy ông sẽ được giải trí với một trận đấu.” Khan nói, ngoắc Mortenson về phía cửa.
“Lại đây.”
Anh
đi theo tấm lưng rộng của Khan, trở lại cánh cổng trước không cài then
và thấy ngợp vì khoảng không rộng mở, lần đầu tiên anh có cái nhìn về
cảnh vật xung quanh sau một tuần lễ. Ở cuối con đường sỏi dốc, kề bên
những ngọn tháp của một giáo đường Hồi giáo đổ nát, anh có thể thấy một
xa lộ cắt qua thung lũng. Và ở phía xa, không quá một dặm, anh thấy
những tháp vũ trang của một đồn quân Pakistan. Mortenson nghĩ đến việc
bỏ chạy đến đó, rồi anh nhớ lại tay bắn tỉa trong pháo đài của những
người bắt giữ anh. Vì vậy anh đi theo Khan lên đồi, đến một sân sỏi
rộng, nơi hai mươi người thanh niên có râu mà anh chưa từng nhìn thấy
đang chơi bóng hay đến kinh ngạc, cố gắng đưa bóng qua những trụ cầu môn
bằng những thùng đạn rỗng.
Khan dẫn Mortenson đến chiếc ghế nhựa
màu trắng đã được đặt sẵn bên rìa sân dành cho anh. Và Mortenson nghiêm
túc theo dõi các cầu thủ đá tung những đám bụi bám dính vào chiếc
áoshalwar kamiz đẫm mồ hôi của họ trước khi có tiếng kêu la vọng đến từ
tháp súng. Người lính canh đã phát hiện có sự chuyển động ở đồn lính.
“Tôi rất lấy làm tiếc.” Khan nói, rồi nhanh chóng đưa Mortenson trở lại
đằng sau những bức tường đất của khu nhà.
Đêm hôm đó, Mortenson cố
gắng ngủ nhưng không ngủ được. Qua tác phong và sự kính trọng mà những
người khác thể hiện với Khan, Mortenson thấy rõ ông ta rất có thể là một
nhà lãnh đạo Taliban đang nổi lên. Nhưng điều này có ý nghĩa gì với
anh? Có phải trận bóng là một dấu hiệu cho thấy anh sắp được thả? Hay nó
tương đương với điếu thuốc lá cuối cùng?
Lúc 4 giờ sáng, khi họ
đến, anh có được câu trả lời. Khan tự tay quấn khăn bịt mắt, phủ lên vai
Mortenson tấm chăn, và nhẹ nhàng dẫn tay anh vào thùng xe của một xe
thùng hở đầy người. “Cho đến lúc đó, trước ngày 11/9, chặt đầu người
nước ngoài không phải là mốt.” Mortenson nói. “Và tôi không nghĩ rằng
việc bị bắn là một cách chết tồi. Nhưng ý nghĩ cho rằng Tara sẽ phải một
mình nuôi con và chắc hẳn không bao giờ biết được điều gì đã xảy ra với
tôi làm tôi phát hoảng. Tôi có thể hình dung ra cô ấy đau khổ và hoang
mang, và đó dường như là điều khủng khiếp nhất.”
Trong thùng xe
lộng gió, có ai đó mời Mortenson một điếu thuốc nhưng anh từ chối. Anh
không cần làm ra vẻ hiếu khách chút nào nữa, và điếu thuốc không phải là
mùi vị cuối cùng mà anh muốn có trong miệng mình. Nhưng sau nửa giờ đi
xe, anh kéo chăn kín quanh vai và không thể ngừng run rẩy. Nhưng rồi
chiếc xe rẽ xuống một con đường bụi bặm, hướng về phía tiếng vũ khí tự
động đang bắn dữ dội, Mortenson toát mồ hôi.
Người tài xế cài
thắng và xe lết đi rồi dừng lại giữa âm thanh chói tai của hàng chục
khẩu AK-47 đang bắn liên thanh. Khan mở khăn bịt mắt cho Mortenson và
đẩy vào ngực anh. “Anh thấy đó,” ông ấy nói. “Tôi đã nói với anh rằng
mọi chuyện sẽ kết thúc tốt đẹp.” Qua vai Khan, Mortenson nhìn thấy hàng
trăm người Wazir to lớn, có râu, đang nhảy múa quanh những đám lửa, bắn
súng lên trời. Trên những khuôn mặt qua ánh lửa, Mortenson ngạc nhiên
nhìn thấy không phải là vẻ khát máu mà là sự say mê.
Đám người
cùng đi với anh nhảy khỏi xe và góp tiếng súng vào vụ bắn súng. Trời đã
gần sáng nhưng Mortenson thấy có những nồi thịt dê hầm và quay trên ngọn
lửa.
“Đây là gì vậy?” anh gào lên, đi theo Khan hòa vào đám đàn
ông nhảy múa cuồng nhiệt, không tin nổi tám ngày hiểm nguy của anh đã
qua đi. “Vì sao tôi lại ở đây?”
“Tốt nhất là tôi không kể gì nhiều
cho anh.” Khan hét lên qua tiếng súng. “Chỉ có thể nói là chúng tôi đã
xem xét... những điều bất ngờ. Có một cuộc tranh cãi và chúng tôi có thể
có một vấn đề lớn, rất lớn. Nhưng nay thì mọi chuyện đã được jirga sắp
xếp và chúng tôi tổ chức một buổi liên hoan. Một buổi liên hoan trước
khi chúng tôi đưa anh trở lại Peshawar.”
Mortenson vẫn không tin
ông ta, nhưng nắm rupi đầu tiên đã thuyết phục anh rằng sự thử thách sau
cùng đã qua. Người lính canh với vết đạn trên trán bước về phía anh,
khuôn mặt tươi cười của hắn sáng lên bởi những ngọn lửa và cả bởi hasit.
Hắn vẩy vẩy xấp giấy bạc một trăm rupi, cũng tả tơi và dơ bẩn như chính
hắn, trước khi nhét vào túi áo shalwar của Mortenson.
Mortenson,
không biết nói gì, quay sang Khan tìm lời giải thích. “Cho những ngôi
trường của anh!” ông ta hét vào tai Mortenson. “Để, Inshallah, anh xây
thêm nhiều trường nữa!”
Hàng chục người Wazir khác tạm ngừng tiếng
súng đủ lâu để ôm Mortenson, đem lại cho anh những lát thịt dê bốc khói
và những khoản hiến tặng tương tự. Khi trời hửng sáng, cả bụng và áo
shalwar của anh đã căng phồng, Mortenson cảm thấy nỗi sợ đè nặng ngực
mình trong tám ngày qua tan biến đi.
Chếnh choáng, anh tham gia
vào hoạt động ăn mừng, mỡ cừu nhỏ xuống bộ râu tám ngày của anh, thực
hiện những bước nhảy kiểu Tanzania mà anh nghĩ rằng mình đã quên để hét
lên những lời khích lệ Wazir, nhảy múa với niềm vui sướng tuyệt đối, với
sự phóng túng hoang dại, được truyền lại bởi tự do.

