Ba tách trà - Chương 11 phần 2

Cha của Tara, Barry Bishop, một phóng viên ảnh cho National
Geographic, đã lên đến đỉnh Everest vào ngày 22 tháng 5 năm 1963, là
thành viên trong đoàn thám hiểm người Mỹ đầu tiên lên đến đỉnh. Ông đã
chọn con đường lên đỉnh núi bằng cách nghiên cứu những hình ảnh chụp lộ
trình do bạn ông là Sir Edmund Hillary cung cấp. Bishop đã ghi chép lại
cuộc leo núi gian khổ choNational Geographic. “Chúng tôi làm gì khi cuối
cùng lên đến đỉnh và ngồi phịch xuống?” Bishop viết. “Chúng tôi đã
khóc. Tất cả mọi trở ngại đều đã được vượt qua, và chúng tôi khóc như
những đứa trẻ. Với niềm vui đã leo lên những ngọn núi hùng vĩ nhất với
sự nhẹ nhõm rằng chuyến leo núi cực hình đã kết thúc.”

Sự nhẹ nhõm
của ông là quá sớm. Trên chuyến xuống núi, Bishop suýt bị trượt khỏi
một rìa đá trên con đường hướng về Tây Tạng. Nguồn oxy gần cạn, ngã vào
một khe núi và mắc phải chứng cóng giá trầm trọng đến mức ông phải được
đưa xuống làng Namche Bazaar bởi những đội cờ hiệu người Sherpa trước
khi được di tản bằng trực thăng đến bệnh viện Katmandu. Vào cuối chuyến
thám hiểm, Bishop đã mất các đầu ngón tay, các ngón chân, và sự tôn
trọng đối với những nhà tiên phong như Hillary đã lên đỉnh Everest trước
ông không mất đi chút nào. “Trong sự tĩnh lặng của bệnh viện, tôi suy
ngẫm về những bài học mà chúng tôi đã được học.” ông viết. “Everest là
sự mênh mông khắc nghiệt và thù địch. Bất cứ ai thách thức nó là tuyên
chiến với nó. Người đó phải thực hiện cuộc tấn công của mình với kĩ năng
và tính liên tục của một chiến dịch quân sự. Và khi trận chiến kết
thúc, ngọn núi vẫn không bị khuất phục. Không có những người chiến thắng
thực sự, chỉ có những người sống sót.”

Barry Bishop đã sống sót
trở về nhà ở Washington, nơi mà Tổng thống Kennedy đã chào đón ông cùng
đồng đội của ông như những người hùng tại Vườn Hồng trong Nhà Trắng. Năm
1968, với chiếc Airstream Camper ông đã đưa vợ mình là Lila, con trai
Brent và con gái Tara đi từ Amsterdam đến Katmandu. Họ chuyển đến Jumla,
miền tây Nepal trong hai năm, trong khi Bishop hoàn thành luận án tiến
sĩ của mình về những lộ trình mậu dịch xưa kia. George Schaller đã đến
thăm gia đình họ trên đường đến và trở về từ những chuyến leo núi để
khảo sát động vật hoang dã đang biến mất ở Nepal.

Bishop sống sót
để đưa gia đình mình trở về Washington D.C, nơi ông trở thành Chủ tịch
Hội đồng Nghiên cứu và Thám hiểm của National Geographic. Ở Washington,
Tara nhớ lại, bạn của cha mình là Ed Hillary ghé thăm và hai nhà leo núi
không mệt mỏi trải qua những tối uể oải nằm trước máy thu hình, uống
thứ bia rẻ tiền, hồi tưởng lại Everest, và xem những bộ phim miền Viễn
Tây xa xưa mà cả hai đều ưa thích. Ông còn sống để cùng vợ đi đến
Bozeman, Montana, và xây dựng một trong những thư viện tư nhân tốt nhất
thế giới về Himalaya trong tầng hầm nhà mình vào năm 1994.

Nhưng
Bishop không sống sót sau chuyến lái xe đến San Francisco. Một năm trước
đó, cùng với vợ, Lila, trên đường đến dự buổi nói chuyện tại cùng sự
kiện này, bữa tiệc gây quỹ thường nhiên của Quỹ Tài trợ Himalaya Mỹ,
chiếc Ford Explorer của Bishop, chạy với vận tốc tám mươi lăm dặm một
giờ đã chệch khỏi đường ở Pocatello, Idaho và lộn bốn vòng trước khi
dừng lại trong một hào cát. Mẹ của Tara có thắt dây an toàn đã sống sót
với những vết thương nhẹ. Nhưng cha của Tara không thắt dây an toàn. Ông
bị ném khỏi xe và đã chết vì những vết thương ở đầu.

Tara Bishop
nhận ra mình đã kể toàn bộ câu chuyện cho một người đàn ông hoàn toàn xa
lạ đang đứng bên mình trong phòng khiêu vũ tối: Chiếc Explorer đầy
những hình ảnh thời thơ ấu của Tara và những tập san mà cha cô đang mang
đến cho cô như thế nào. Những người lạ ở địa điểm lật xe đã gom tất cả
những vật lưu niệm quý báu của cô, vương vãi trên xa lộ, và đã trả lại
chúng như thế nào. Cô cùng em trai Brent đã đến viếng địa điểm đó, treo
những lá cờ cầu nguyện trên những bụi cây bên lề đường và đổ chai rượu
gin Bombay mà cha cô ưa thích trên vết máu vẫn còn trong cát như thế
nào. “Điều kì lạ nhất là tôi không hề thấy xa lạ với anh ấy.” Tara nói.
“Việc tâm sự với Greg có ý nghĩa hơn bất cứ chuyện gì mà tôi đã làm kể
từ ngày cha tôi qua đời.”

Khi đèn trong căn phòng kiểu Venice bật
sáng, nơi mà Tony Bennett từng trình diễn lần đầu ca khúc đặc trưng của
mình I Left My Heart in San Francisco, Mortenson thấy con tim mình đang
hướng về phía người phụ nữ mà anh vừa mới gặp. “Tara đi giày cao gót, là
thứ mà tôi chưa bao giờ thực sự thấy thích.” Mortenson nhớ lại. “Cuối
buổi tối đó, chân cô ấy đau và cô ấy đã thay bằng đôi giày ống cổ cao.
Tôi không biết vì sao điều đó làm tôi chết mê chết mệt, nhưng nó đã làm
thế. Tôi cảm thấy mình như một anh chàng mới lớn. Nhìn cô ấy trong bộ
váy đen và đôi ủng to, tôi biết chắc cô ấy là người phụ nữ của đời
mình.”

Họ cùng kính trọng Hillary; ông đã nói với Tara rằng ông
rất buồn khi nghe tin về cái chết của cha cô. “Thật không thể tin được,”
Mortenson nói. “Tôi thấy mình bị kích động bởi việc gặp Tara còn hơn là
được nói chuyện với người đàn ông là thần tượng của mình từ nhiều năm.”
Mortenson giới thiệu Tara với Jean Hoerni và George McCown, rồi hòa
cùng đám đông đi vào tiền sảnh. “Đến lúc đó, Tara mới biết tôi không có
xe hơi và đề nghị lái xe đưa tôi về nhà.” Mortenson nói. “Tôi đã sắp xếp
để đi xe cùng với các bạn của mình, nhưng tôi giả vờ là chưa có xe và
gạt bạn bè sang một bên để đi cùng cô ấy.” Mortenson đã đến khách sạn
Fairmont trong tình trạng thường lệ của mình, túng quẫn và cô đơn. Anh
rời khách sạn với ước hẹn sẽ có được tiền lương một năm và người vợ
tương lai.

Luồn lách qua khu tài chính của San Francisco trong
chiếc Volvo xám của Tara, qua luồng giao thông tắc nghẽn trên xa lộ 101,
và qua cầu Bay, Mortenson đã kể cho Tara nghe những câu chuyện của
mình. Về thời thơ ấu ở Moshi. Về cây hồ tiêu, bệnh viện của cha anh và
trường học của mẹ. Về cái chết của Christa. Và rồi về Dempsey. Cao bên
trên mặt nước đen của vịnh San Francisco, hướng về những ngọn đèn của
Oakland Hills đang vẫy gọi như một chòm sao chưa được phát hiện,
Mortenson đang xây dựng một cây cầu khác nữa, bắc qua những biến cố để
kết nối hai cuộc sống lại với nhau.

Họ đỗ xe trước căn hộ của
Dudzinski. “Anh mời em vào.” Mortenson nói. “Nhưng nơi đó là một ác
mộng.” Họ ngồi trong chiếc ghế dài bọc nệm và nói chuyện hơn hai tiếng
về Baltistan và những trở ngại mà anh đối diện trong việc xây dựng ngôi
trường ở Korphe. Về người em trai của Tara, Brent, đang lên kế hoạch cho
chuyến thám hiểm Everest của chính mình. “Ngồi trong xe hơi bên cạnh
anh tôi nhớ rằng mình có một ý nghĩ rất cân nhắc.” Tara Bishop nói.
“Chúng tôi thậm chí còn chưa chạm vào nhau, nhưng tôi nhớ mình đã nghĩ,
‘Mình sẽ ở cùng con người này trong suốt phần đời còn lại của mình’. Đó
là một cảm giác rất bình yên và thú vị.”

“Anh có phiền không nếu
em bắt cóc anh?” cô nói. Trong căn hộ nhỏ của cô, một nhà để xe được
chuyển đổi ở vùng ngoại ô xinh đẹp Rockridge, Oakland, Tara Bishop rót
hai ly ruợu và trao cho Mortenson nụ hôn đầu tiên, kéo dài. Tashi, chú
chó săn Tây Tạng của cô, chạy giữa chân hai người sủa dữ dội với người
lạ.

“Chào đón anh đến với cuộc đời em.” Tara nói, lùi lại nhìn vào mặt Mortenson.

“Chào đón em đến với trái tim anh.” anh nói và ôm cô trong vòng tay.

Sáng
hôm sau, thứ năm, họ lái xe trở lại cầu Bay, đến sân bay quốc tế San
Francisco. Mortenson đã đăng kí chuyến bay của Bristish Airways đến
Pakistan, khởi hành vào chủ nhật. Nhưng họ đã cùng kể lại câu chuyện của
mình cho một nhân viên ở quầy vé, thuyết phục người này cho đăng kí lại
chuyến bay vào chủ nhật kế tiếp và không phải đóng thêm tiền.

Tara
lúc đó là sinh viên cao học, đang hoàn thành luận văn tiến sĩ tại
trường Tâm lí California, trước khi theo đuổi nghề nghiệp mà cô dự định
là nhà tâm lí lâm sàng. Với những lớp học đã hoàn tất, cô hoàn toàn tự
do về giờ giấc. Và Mortenson không còn có thể đổi chuyến bay được nữa,
do đó họ đã trải qua mọi giây phút của từng ngày bên nhau, chếnh choáng
trong vận may của mình. Trong chiếc Volvo cũ của Tara, họ lái xe ba giờ
về phía nam đến Santa Cruz và ở lại cùng những người thân của Mortenson
bên bãi biển. “Greg thật thú vị.” ara nói. “Anh ấy thoải mái chia sẻ
cuộc đời và gia đình của mình cùng tôi. Trước đây tôi đã có một vài mối
quan hệ khá tồi tệ và tôi biết rằng ‘Ồ, đây là những gì sẽ xảy ra khi
được chung sống với một nửa của đời mình.’”

Vào chủ nhật, chuyến
bay ban đầu của Mortenson cất cánh đi Pakistan mà không có anh; họ đang
lái xe trở về Bay Area, qua những ngọn đồi nâu vàng có những lùm cây sồi
đan xen nhau trên đỉnh đồi. “Vậy khi nào chúng ta thành hôn?” Tara
Bishop hỏi và quay lại nhìn người hành khách bên cạnh mình, người đàn
ông mà cô chỉ vừa gặp bốn ngày trước đó.

“Thứ ba thế nào?” Mortenson nói.

Vào
thứ ba, ngày 19 tháng 9, Greg Mortenson mặc quần kaki, áo sơmi lụa và
chiếc áo khoác thêu Tây Tạng, bước đi tay trong tay lên những bậc thang
của Tòa Thị chính Thành phố Oakland cùng vị hôn thê của mình, Tara
Bishop. Cô dâu mặc áo len ngắn tay và chiếc váy hoa ngắn. Và chiều theo ý
người đàn ông sắp trở thành chồng mình, cô để đôi giày khiêu vũ ở nhà
và mang đôi sandal gót thấp đến lễ cưới của mình.

“Chúng tôi chỉ
nghĩ là sẽ kí một số giấy tờ, lấy giấy đăng kí và có một buổi tiệc nhỏ
với gia đình chúng tôi khi Greg trở về từPakistan.” Tara nói. Nhưng Tòa
Thị chính Thành phố Oakland cung cấp đầy đủ dịch vụ hôn lễ. Với giá 83
đôla, đôi vợ chồng được một vị thẩm phán thành phố hộ tống đến phòng hội
nghị và được hướng dẫn để đứng tựa vào bức tường, dưới một cổng vòm hoa
nhựa trắng đã được ghim vào một bảng thông báo. Một phụ nữ trung niên
gốc Tây Ban Nha tên là Margarita, làm việc trong nhóm thư kí của thẩm
phán, tình nguyện làm nhân chứng và đã khóc trong suốt nghi lễ.

Sáu
ngày sau khi thì thầm với nhau trong phòng khiêu vũ tối ở khách sạn
Fairmont, Greg Mortenson và Tara Bishop đã đọc lời thề nguyện thành hôn.
“Khi vị thẩm phán nói đến đoạn khi giàu hơn hay nghèo hơn, Greg và tôi
cùng cười lớn.” Tara nói. “Sau đó tôi được thấy chỗ anh ấy sống ở nhà
Witold và cách anh rút tấm nệm khỏi chiếc ghế dài hằng đêm để có một chỗ
êm ái mà đặt chiếc túi ngủ của mình lên như thế nào. Tôi nhớ mình đã
suy nghĩ về hai thứ cùng một lúc: Tôi lấy một người đàn ông không có
giường. Và Chúa ơi, tôi yêu anh ấy.”

Đôi vợ chồng mới cưới điện
thoại thông báo cho bạn bè và mời họ đến ăn mừng ở một nhà hàng Ý tại
San Francisco. Một trong số những người bạn của Mortenson, James
Bullock, là người điều khiển xe điện cáp. Anh ta nài ép họ gặp mình ở bờ
biển San Francisco, ngay chỗ quay vòng của xe điện cáp Embarcadero. Vào
giờ cao điểm, Bullock đã đưa họ vào chiếc xe điện cáp màu vàng và đỏ
thẫm chật cứng người, rồi rung chuông báo hiệu đám cưới của họ với các
hành khách. Khi xe điện kêu leng keng đi qua khu tài chính, người dân
San Francisco dồn dập tặng xì gà, tiền và những lời chúc mừng.

Sau
trạm dừng cuối, Bullock khóa cửa và đưa đôi vợ chồng son đi một chuyến
tham quan vùng San Francisco; anh ta rung chuông trong suốt đường đi.
Chiếc xe đi lên cao một cách kì diệu trên đường cáp không nhìn thấy, và
lên đến đỉnh đồi Nob, vượt qua khách sạn Fairmont, đến những đường phố
sang trọng và nhộn nhịp, nơi mà những quang cảnh quyến rũ nhất của San
Francisco mờ xa về phía bắc. Tay trong tay với vợ mình, Greg Mortenson
ngắm nhìn mặt trời lặn đang hôn Thái Bình Dương bên dưới cầu Cổng Vàng,
và quét lên đảo Angel một màu hồng mà từ đó về sau anh mãi mãi xem là
sắc màu đích thực của hạnh phúc. Có cảm giác mỏi bất thường ở gò má, và
Mortenson nhận ra mình đã cười không ngừng trong sáu ngày.

“Mọi
người luôn bị sốc khi nghe kể về việc tôi và Tara đã kết hôn như thế
nào.” Mortenson nói. “Nhưng cưới cô ấy sau sáu ngày đối với tôi không có
gì lạ. Đó cũng là cách mà cha mẹ tôi đã làm và cũng đã có kết quả đối
với họ. Điều làm tôi ngạc nhiên là tôi đã gặp Tara. Tôi đã tìm được một
người có ý nghĩa với mình trong thế giới này.”

Chủ nhật tiếp theo,
Mortenson sắp xếp hành lí, nhét chiếc túi nhỏ chứa những tờ 100 đôla
vào túi áo khoác và lái xe đến sân bay. Sau khi đỗ xe ở lối vào ga khởi
hành, anh đã không thể rời khỏi xe. Anh quay về phía vợ, cô đang cười
toe với cùng một ý nghĩ. “Anh sẽ đề nghị.” Mortenson nói. “Nhưng không
biết họ có để cho mình làm điều đó một lần nữa hay không.”

Mortenson
đã trì hoãn chuyến bay hai lần nữa, mỗi lần anh đều mang theo hành lí
đến sân bay để đề phòng trường hợp họ không cho phép anh làm thế nữa.
Nhưng anh không cần phải lo lắng. Câu chuyện của Greg và Tara đã trở
thành chuyện tình lãng mạn ở quầy vé Bristish Airways, và nhân viên quầy
vé đã liên tiếp điều chỉnh các quy định để Mortenson có thêm thời gian
tìm hiểu cô vợ mới của mình. “Hai tuần đó thật đặc biệt, một khoảng thời
gian bí mật.” Mortenson nói. “Không ai biết tôi vẫn còn ở thành phố và
chúng tôi chỉ tự phong tỏa mình trong căn hộ của Tara, cố bù lại những
năm tháng mà chúng tôi chưa biết nhau.”

“Sau cùng, tôi xuất hiện và gọi điện cho mẹ tôi.” Tara nói. “Bà đang ở Nepal và sắp khởi hành cho một chuyến leo núi.”

“Sau
khi Tara gọi được cho tôi ở Katmandu, nó nói tôi ngồi xuống. Bạn sẽ
không quên được một cuộc gọi như vậy.” Lila Bishop nói. “Con gái tôi cứ
lặp đi lặp lại từ ‘tuyệt vời’, nhưng tất cả những gì tôi có thể nghe là
‘sáu ngày’.”

“Tôi nói với bà, ‘Mẹ, con vừa kết hôn với một người
đàn ông tuyệt vời’. Mẹ tôi dường như bị sốc. Và tôi có thể nói rằng bà
hoài nghi, nhưng bà đã gượng lại và cố gắng hết sức để tỏ ra vui với
tôi. Bà nói, ừ, con đã ba mươi mốt và đã hôn thật nhiều các chú cóc. Nếu
con nghĩ đây là hoàng tử của mình, thì mẹ tin đúng là như vậy.”

Lần
thứ tư chiếc Volvo xám đậu trước British Airways, Mortenson hôn từ biệt
người phụ nữ mà anh cảm thấy như đã quen biết suốt cả cuộc đời và kéo
lê chiếc túi xách vào quầy vé. Lần này anh đã thực sự muốn đi chưa?” Cô
nhân viên quầy vé trêu chọc. “Anh có chắc rằng mình đang làm đúng không
đấy?”

“Ồ, tôi đang làm đúng.” Mortenson trả lời, và quay lại vẫy
tay lần cuối qua cửa kính với người vợ đang vẫy tay. “Tôi chưa bao giờ
có được sự chắc chắn như vậy về bất cứ điều gì.”

Báo cáo nội dung xấu