Ba tách trà - Chương 09

CHƯƠNG 9

Nhân dân đã lên tiếng

Hỡi
tất cả các bạn, sao không áp đặt việc cấp giấy phép lên đôi mắt đẹp của
một phụ nữ đẹp? Chúng cũng bắn vào đàn ông như một viên đạn. Chém như
một lưỡi gươm.

- dòng chữ sơn trên bức tượng Phật bằng đá cổ xưa nhất thế giới ở thung lũng Satpar, Baltistan

Sân
bay quốc tế Francisco ngập trong những ánh mắt ngây dại của những bà mẹ
đang ôm con. Đã gần kề Giáng sinh và hàng nghìn hành khách mệt rã rời
chen lấn nhau, vội vàng hướng về những chuyến bay mà họ hi vọng sẽ đưa
họ về với gia đình đúng lúc. Nhưng mức độ hoang mang trong bầu không khí
tẻ nhạt đã đến hồi cảm nhận được, khi những giọng nói gần như không thể
nghe được vang vọng trong ga đến, báo hiệu việc trễ hết chuyến này đến
chuyến khác.

Mortenson
đi sang khu vực nhận hành lí và chờ chiếc balô quân đội nhàu nhĩ chứa
đầy một nửa của mình xuất hiện trên băng tải chèn đầy những chiếc vali.
Quàng balô lên vai, anh nhìn lướt qua đám đông, hi vọng thấy Marina, khi
đi lên tầng trên lúc bước ra khỏi chuyến bay đến từ Bangkok. Nhưng
trong lúc anh giữ nụ cười mỉm đặc trưng của những hành khách đến, anh
không thể tìm thấy mái tóc đen của cô trong số hàng trăm cái đầu trong
đám đông.

Họ
đã nói chuyện với nhau bốn ngày trước đó, trên một đường dây bị nhiễu
từ buồng điện thoại công cộng từ Pindi, và anh chắc chắn là cô đã nói dự
định đến gặp anh ở sân bay. Nhưng cuộc gọi sáu phút trả tiền mà anh
đăng kí đã bị cắt trước khi anh có thể lặp lại thông tin về chuyến bay
của mình. Anh đã quá lo lắng về số tiền phải trả cho một cuộc gọi khác.
Anh quay số của Marina ở một quầy điện thoại trả tiền và nối được với
máy trả lời tự động của cô. “Chào em yêu.” anh nói và có thể nghe được
giọng nói kéo dài vui vẻ của chính mình.

“Greg
đây, Giáng sinh vui vẻ. Em khỏe không? Anh nhớ em. Anh đến sân bay San
Francisco bình yên, và anh định đón chuyến tàu điện nhanh để đến chỗ
em.”

“Greg.” cô ấy nhấc máy và nói. “Chào anh.”

“Chào, em khỏe không?” anh nói. “Giọng em nghe như…”

“Anh nghe này,” cô nói. “Chúng ta cần nói chuyện, mọi chuyện đã thay đổi kể từ khi anh ra đi. Chúng ta có thể nói chuyện chứ?”

“Chắc
chắn rồi.” anh nói. Anh có thể cảm thấy mồ hôi tuôn ra dưới cánh tay
mình. Đã ba ngày kể từ khi anh tắm vòi sen lần cuối. “Anh sẽ sớm về
nhà.” Anh nói và gác máy.

Anh
sợ trở về nhà sau thất bại không có được bất cứ tiến bộ nào về ngôi
trường. Nhưng ý nghĩ về Marina, Blaise và Dana làm anh dịu đi nỗi kinh
hãi về chuyến bay dài vượt Thái Bình Dương. Anh nghĩ ít nhất mình cũng
đang bay về với những người mà mình yêu thương, không phải chỉ đi xa
khỏi một thất bại.

Anh
đón xe buýt để đến ga tàu điện ngầm gần nhất, đi tàu điện, rồi chuyển
chuyến ở San Francisco, sang một xe điện khác đến Outer Sunset. Anh nhớ
lại những lời của Marina qua điện thoại, thắc mắc, cố rút ra bất cứ ý
nghĩa nào khác hơn cái điều hiển nhiên - cô đang rời bỏ anh. Anh nhận ra
là cho đến lúc có cuộc nói chuyện từ Pindi, anh đã không gọi cho cô từ
nhiều tháng. Nhưng cô phải hiểu đó là do anh không thể trả tiền cho
những cuộc gọi quốc tế vì anh đanlg cố giữ để không thâm hụt ngân sách
cho ngôi trường. Cô có hiểu như vậy không? Anh làm điều đó vì cô. Anh sẽ
đưa Marina và hai cô con gái đến một nơi nào đó với số tiền ít ỏi còn
lại trong tài khoản ngân hàng Berkeley của mình.

Lúc
anh đến gần nhà Marina, hai giờ đã trôi qua và mặt trời đã lặn xuống
Thái Bình Dương màu xám. Anh đi qua những dãy nhà trát vữa sạch sẽ trang
trí những bóng đèn Giáng sinh, bước vào một ngọn gió biển thổi mạnh và
lên cầu thang dẫn đến căn hộ của cô.

Marina mở cửa, ôm Mortenson bằng một tay, rồi đứng ở lối đi, rõ ràng là không muốn mời anh vào.

“Em chỉ nói điều này,” cô nói. Anh chờ, chiếc túi vẫn đeo trên vai. “Em đã bắt đầu gặp Mario trở lại.”

“Mario?”

“Anh
biết Mario mà. Chuyên viên gây mê ở UCSF.” Mortenson đứng và nhìn ngây
ra. “Bạn trai cũ của em, anh có nhớ em đã nói bọn em…”

Marina
tiếp tục nói, dường như cô đang nói với anh hàng chục lần rằng anh đã
gặp Mario, những buổi tối họ ở cùng nhau trong phòng cấp cứu, nhưng cái
tên đó không có ý nghĩa gì với anh. Anh nhìn miệng cô khi cô nói. Đó là
đôi môi đầy đặn của cô, anh quyết định. Đó là điều đẹp nhất về cô. Anh
không thể tập trung vào bất cứ điều gì khác khi họ nói chuyện cho đến
khi anh nghe. “Do đó em đã đặt cho anh một phòng ở khách sạn bình dân.”

Mortenson
quay đi trong khi Marina vẫn nói và anh đi ngược vào gió biển. Trời đã
tối hẳn và chiếc túi vải thô mà cho đến lúc đó anh không hề để ý bỗng
nhiên trở nên quá nặng khiến anh nghĩ không biết mình có thể mang nó đi
được một tòa nhà nữa hay không. May mắn là bảng quảng cáo đèn neon đỏ
của một khách sạn bình dân nơi bãi biển đã lấp ló ở góc như một vết
thương hở cần được quan tâm ngay.

Trong
căn phòng ốp gỗ giả hôi mùi thuốc lá, nơi anh được nhận vào sau khi chi
hết tiền mặt trong túi, Mortenson tắm vòi sen, rồi lục tìm trong chiếc
túi vải một chiếc áo thun sạch để mặc ngủ. Anh quyết định chọn chiếc áo
ít vết bẩn nhất mà anh tìm được và rơi vào giấc ngủ với đèn và tivi còn
bật sáng.

Một
giờ sau, giữa sự kiệt sức hoàn toàn khiến cho những giấc mơ không đến,
Mortenson bị đánh thức bởi tiếng đập cửa thình thịch. Anh ngồi dậy và
nhìn quanh căn phòng, tưởng mình vẫn còn đang ở Pakistan. Nhưng tivi
đang phát đi những từ tiếng Anh, bởi một người nào đó tên là Newt
Gingrich. Hình ảnh một ngôi sao lấp lánh trên màn hình nói một điều gì
đó có thể là bằng tiếng nước ngoài với toàn bộ ý nghĩa mà Mortenson có
thể rút ra là: “Người tổ chức của phe thiểu số, những người Đảng cộng
hòa tiếp quản.”

Lảo
đảo như thể gian phòng đang bồng bềnh trên mặt biển động, Mortenson đến
cửa và kéo mở ra. Marina đứng đó, quấn mình trong chiếc áo trùm đầu
Gore-Tex màu vàng ưa thích của cô. “Em rất tiếc, đây không phải là điều
mà em tưởng tượng ra. Anh không sao chứ?” cô hỏi, kéo sát áo vào ngực.

“À… anh chắc là… không.” Mortenson nói.

“Anh đang ngủ?” Marina hỏi.

“Ừ.”

“Anh
này, em không muốn chuyện lại xảy ra như thế này. Nhưng em không có
cách nào để đến với anh ở Pakistan.” Trời lạnh và cửa thì mở và
Mortenson đứng run trong bộ đồ lót của mình.

“Anh đã gửi bưu thiếp cho em.” anh nói.

“Chỉ
để nói với em về giá của vật liệu lợp mái và, ôi, tiền thuê xe tải đến
Skardu là bao nhiêu. Thật quá lãng mạn. Anh không bao giờ nói gì về
chúng ta, chỉ trừ việc tiếp tục lùi lại ngày anh trở về.”

“Em
bắt đầu hẹn hò với Mario từ bao giờ?” anh cố không nhìn vào môi của
Marina và hướng cái nhìn của mình lên đôi mắt cô, nhưng anh nghĩ tốt hơn
hết cũng không nên nhìn vào đó và nhanh chóng cụp mắt xuống. Đôi mắt
này cũng quá nguy hiểm.

“Đó không phải là vấn đề.” cô nói. “Từ những tấm bưu thiếp, em có thể nói đối với anh, em không tồn tại kể từ khi anh ra đi.”

“Không phải vậy.” Mortenson nói, tự hỏi có phải vậy hay không.

“Em không muốn anh ghét em. Anh không ghét em chứ?”

“Chưa bao giờ.” anh nói.

Marina
buông hai tay ra và thở dài. Cô cầm một chai rượu Baileys trong tay
phải. Cô đưa ra và Mortenson cầm lấy. Chai rượu chỉ đầy đến nửa.

“Anh là một chàng trai tốt, Greg.” Marina nói. “Tạm biệt.”

“Tạm biệt.” Mortenson nói, anh đóng cửa trước khi nói điều gì mà mình có thể hối tiếc.

Đứng
trong căn phòng trống, cầm chai rượu còn một nửa trong tay. Hay có còn
một nửa không? Anh không phải loại người thích uống rượu, và anh nghĩ
Marina biết về anh rõ để hiểu điều đó. Mortenson không thường uống rượu,
chắc chắn là không uống một mình, và không có gì làm anh miễn cưỡng hơn
là rượu trái cây ngọt.

Trên
truyền hình, một người phỏng vấn nói giọng the thé, cao ngạo. “Chúng ta
đang bước vào cuộc cách mạng Mỹ lần thứ hai và tôi long trọng thề với
các bạn rằng, với đa số phiếu của một Đảng Cộng hòa mới ở Quốc hội, đời
sống nước Mỹ sẽ khác đi một cách sâu sắc. Nhân dân đã lên tiếng.”

Mortenson
đi băng qua phòng, đến bên sọt rác. Cái sọt lớn, làm bằng kim loại, và
bị mòn vẹt bởi những tạp chất của hàng nghìn người khá kém may mắn phải
qua đêm trong phòng này. Anh đưa chai rượu lên cao bên trên sọt, duỗi
thẳng tay và thả nó ra. Chai Baileys kêu lanh canh đập vào thùng kim
loại với một âm thanh, mà Mortenson nghe giống như tiếng cửa đóng sầm
lại. Anh ngã sụp xuống giường.

Chuyện
tiền bạc cạnh tranh với nỗi đau thống trị tâm trí Mortenson. Sau ngày
lễ Giáng sinh, khi anh định rút ra hai trăm đôla từ tài khoản của mình,
giao dịch viên báo cho anh biết số dư của anh chỉ còn tám mươi ba đôla.

Mortenson
gọi điện cho người giám sát của anh ở trung tâm y khoa UCSF, hi vọng
được xếp ca làm việc ngay, trước khi đợt khủng hoảng tiền tệ của anh lên
tới cực điểm. “Anh đã nói sẽ quay lại làm việc trong lễ Tạ ơn.” người
đó nói. “Và bây giờ anh đã bỏ qua cả lễ Giáng sinh. Anh là một trong
những người tốt nhất mà chúng tôi có, Greg à, nhưng nếu anh không xuất
hiện, thì anh là vô dụng đối với tôi. Anh đã bị sa thải.” Một câu nói từ
phát thanh viên truyền hình tối hôm trước còn đọng lại trong đầu
Mortenson, và anh lặp lại nó một cách chua chát trong những ngày của
mình: “Nhân dân đã lên tiếng.”

Mortenson
đã gọi điện cho nửa chục người quen trong nhóm những nhà leo núi cho
đến khi tìm được một nơi ở tạm cho người leo núi mà anh có thể ở lại đến
khi hình dung được cần làm gì tiếp theo. Trong căn nhà thời Victoria
màu xanh lá cây đã đổ nát trên đường Lorina, Berkeley, Mortenson ngủ
trên sàn hành lang tầng gác trong một tháng. Những sinh viên cao học ở
Cal Berkeley và những người leo núi trở về hoặc trên đường đến Yosemite
tổ chức những buổi liên hoan chè chén ở tầng trệt đến tận khuya. Trong
túi ngủ của mình, nằm ưỡn người trên hành lang, Mortenson cố để không
nghe những âm thanh làm tình lớn một cách khó chịu qua những bức vách
mỏng. Khi anh ngủ, người ta bước qua anh trên đường vào phòng tắm.

Một
y tá có khả năng hiếm khi thất nghiệp lâu. Chỉ là vấn đề chuyển chỗ
làm. Và sau vài ngày mờ mắt dùng phương tiện giao thông công cộng đi
phỏng vấn và những ngày mưa khi anh nhận thức sâu sắc sự thiếu vắng
chiếc La Bamba, anh đã được thuê vào làm việc trong những ca ít người
thích làm nhất ở Trung tâm Chấn thương Tổng quát San Francisco, và Khoa
Bỏng thuộc Trung tâm Y tế Alta Bates ở Berkeley.

Anh
xoay xở để có đủ tiền thuê căn phòng ở tầng ba một khu căn hộ không
thang máy trên đường Wheeler do một thủy thủ người Ba Lan tên Witold
Dudzinski cho thuê lại. Mortenson đã trải qua vài buổi chiều bầu bạn
cùng Dudzinski, anh chàng này hút thuốc liên tục và uống không ngừng
nghỉ những chai rượu vodka Ba Lan không nhãn hiệu màu xanh mà anh ta mua
hàng lố. Nhưng mặc dù anh ta thích những mẩu độc thoại về Giáo hoàng
John Paul, Mortenson đã nhận ra rằng, sau khi uống đủ vodka, Dudzinski
thường nói về một người không cụ thể nào đó. Do đó, hầu hết các buổi
tối, Mortenson rút vào trong phòng mình và cố không nghĩ đến Marina.

“Trước
đây, tôi từng bị bạn gái bỏ.” Mortenson nói. “Nhưng lần này hoàn toàn
khác. Lần này tôi thật sự đau đớn, và chẳng thể làm gì ngoài việc đương
đầu với nó. Điều này cần phải có thời gian.”

Trong
một số đêm may mắn, Mortenson quên đi bản thân và những nỗi ưu phiền
vào vòng xoáy của công việc. Đương đầu với những nhu cầu cấp bách của
một đứa trẻ năm tuổi bị bỏng độ ba nửa thân người, anh không thể nào dầm
mình trong sự tự thán. Và anh cảm thấy hết sức hài lòng khi làm việc
một cách nhanh chóng, và làm giảm nhẹ nỗi đau, trong một bệnh viện tây y
được trang bị tốt, nơi mà mọi thứ thuốc men, máy móc và bông băng cần
thiết đều sẵn có, thay vì ở cách xa tám giờ đường mà xe jeep thường
xuyên không đi qua được như trường hợp của anh trong bảy tuần ở Korphe.

Ngồi
tại balti ở nhà Haji Ali, sau khi ông cụ đưa ra thông tin có sức tàn
phá về cây cầu, Mortenson cảm thấy đầu óc mình chạy đua dữ dội, như một
con thú đang cố thoát khỏi cái bẫy, rồi chậm lại và lắng xuống, cho đến
khi anh thấy bình thản một cách đáng ngạc nhiên. Anh nhận thức rằng mình
đã đến cuối con đường - số mệnh của anh, Korphe, ngôi làng cuối cùng
trước mặt vùng băng tuyết vĩnh cửu. Bỏ ra ngoài khi những điều phức tạp
xuất hiện, như anh đã làm ở Kuardu sẽ không giải quyết được gì. Không có
nơi nào khác để mà đi. Anh đã thấy nụ cười trên đôi môi mỏng của
Changazi nở rộng ra, và hiểu rằng người đàn ông này nghĩ rằng ông đã
thắng trong cuộc kéo co giành ngôi trường của Mortenson.

Bất
chấp sự thất vọng của mình, anh không thể thấy giận người dân Korphe.
Dĩ nhiên họ cần một cây cầu. Anh dự tính xây trường học của mình bằng
cách nào? Mang đến từng tấm ván, từng tấm tôn, từng thứ một, trong chiếc
giỏ đong đưa đầy nguy hiểm qua dòng Braldu? Thay vào đó, anh cảm thấy
giận chính bản thân mình đã không lập kế hoạch tốt hơn. Anh quyết định ở
lại Korphe cho đến khi hiểu được mọi chuyện khác mà mình phải làm để
đưa trường học vào cuộc sống. Một loạt các bước ngoặc đã đưa anh đến
làng này. Thêm một bước nữa thì đã sao?

“Hãy
nói với tôi về cây cầu.” anh đã yêu cầu Haji Ali, phá vỡ sự im lặng
trông đợi trong căn nhà chật cứng hết thảy những người đàn ông của làng
Korphe. “Chúng ta cần gì? Chúng ta sẽ bắt đầu như thế nào?”

Lúc đầu, Mortenson đã hi vọng việc xây dựng cây cầu là một việc có thể được hoàn thành nhanh chóng, ít tốn kém.

“Chúng
tôi cần nhiều mìn để phá đá và xẻ rất nhiều đá.” Twahal, con trai Haji
Ali nói với Mortenson. Rồi một cuộc tranh cãi bắt đầu ở Balti, về việc
phải đục đá tại chỗ hay chở đá đến từ xa dưới thung lũng. Nhiều cuộc
tranh luận sôi nổi về những ngọn đồi cụ thể nào có đá hoa cương chất
lượng tốt nhất. Về những điểm khác, mọi người nhất trí tuyệt đối. Dây
cáp thép và ván sẽ được mua và vận chuyển từ Skardu hoặc Gilgit, tốn
hàng nghìn đôla. Công nhân lành nghề cần được trả lương cả nghìn nữa.
Hàng nghìn đôla nữa mà Mortenson không có.

Mortenson
nói với họ rằng anh đã chi phần lớn số tiền của mình vào trường học và
anh phải trở lại Mỹ để cố quyên góp thêm tiền cho cây cầu. Anh hi vọng
những người đàn ông Korphe hành động đoàn kết như anh nghĩ. Nhưng chờ
đợi là một phần trong bản chất của họ cũng như việc thở không khí loãng ở
độ cao ba nghìn mét. Họ đã chờ nửa năm, trong những căn phòng ngột ngạt
khói từ những đám lửa phân bò, đợi thời tiết hòa thuận hơn để họ có thể
ra ngoài trời trở lại. Một thợ săn Balti sẽ chỉ theo dấu một con dê núi
trong nhiều ngày, di chuyển từ giờ này sang giờ khác để đến đủ gần, và
bắn một phát bằng viên đạn đắt tiền duy nhất mà họ cho phép mình bỏ tiền
mua. Một chú rể người Balti phải đợi hôn lễ của mình nhiều năm, cho đến
khi người con gái mười hai tuổi mà cha mẹ đã chọn cho mình đủ lớn để
rời gia đình. Người dân Braldu đã được chính quyền Pakistan xa xôi hứa
hẹn về những ngôi trường trong nhiều thập niên, và họ vẫn đợi. Kiên nhẫn
là kĩ năng lớn nhất của họ.

“Thanyouvermuch.”
Haji Ali cố nói bằng tiếng Anh vì Mortenson. Được cảm ơn vì làm hỏng
việc một cách tồi tệ dường như là quá sức chịu đựng của Mortenson. Anh
ghì chặt ông cụ vào ngực mình, hít thở hỗn hợp mùi khói củi và len ướt.
Haji Ali cười tươi và gọi Sakina, đang nấu nướng, rót thêm cho vị khách
một tách trà bơ mà cứ mỗi lần thưởng thức, Mortenson lại thích hơn.

Mortenson
yêu cầu Changazi quay về Skardu một mình và thỏa mãn khi thấy biểu hiện
bị sốc thoáng qua trên khuôn mặt ông ta trước khi ông ta nhanh chóng
kiềm chế lại. Mortenson sẽ tìm hiểu mọi điều mình cần biết về việc xây
dựng cây cầu trước khi trở về nhà.

Cùng
với Haji Ali, anh đi xuôi dòng sông bằng xe jeep để nghiên cứu những
cây cầu của thung lũng hạ Braldu. Trở lại Korphe, Mortenson phác họa
trong sổ tay kiểu cầu mà dân làng yêu cầu anh xây dựng. Và anh gặp các
bô lão Korphe để bàn về mảnh đất mà anh có thể xây dựng ngôi trường,
khi, Inshallah, anh trở lại từ nước Mỹ.

Khi
gió thổi xuống Baltoro mang theo những tinh thể tuyết phủ trắng Korphe,
báo hiệu sự bắt đầu của những tháng dài ở trong nhà, Mortenson bắt đầu
nói lời tạm biệt. Đến giữa tháng mười hai, hơn hai tháng sau khi đến đây
cùng Changazi, anh không thể tránh né việc ra đi lâu hơn nữa. Sau khi
thăm viếng một nửa số gia đình ở Korphe để uống chén trà tiễn biệt,
Mortenson xuôi xuống bờ nam sông Braldu trong chiếc xe jeep quá tải chở
theo mười một người đàn ông làng Korphe khăng khăng đòi tiễn anh ở
Skardu. Họ ngồi chen chúc, chật đến nỗi mỗi khi chiếc xe rung lắc trên
một chướng ngại vật, tất cả những người đàn ông đều lắc lư dựa vào nhau
để vừa giữ thăng bằng vừa giữ ấm.

Trở
về nhà sau một ca làm việc ở bệnh viện, về căn phòng trống trải trong
căn hộ ám khói của Dudzinski, trong bóng tối âm u giữa đêm và ngày, khi
thế giới dường như không có người ở, Mortenson cảm thấy mệt mỏi bởi sự
cô độc. Anh dường như cách xa không thể cứu vãn với sự thân thiết của
cuộc sống làng mạc ở Korphe. Và việc gọi điện cho Jean Hoerni, có vẻ như
quá đáng sợ để anh xem xét một cách nghiêm túc.

Cả
mùa đông đó, Mortenson luyện tập ở bức tường của câu lạc bộ leo núi
City Rock, trong một khu nhà kho giữa Berkeley và Oakland. Việc đi lại
khó khăn hơn so với khi anh có chiếc La Bamba, nhưng anh đã đi xe buýt
đến đó để có thêm bạn bè cũng là để tập thể dục. Khi đang chuẩn bị cho
K2 và tự giữ vóc dáng cho mình, anh đã là một người hùng đối với các
thành viên của City Rock. Nhưng giờ đây, mỗi khi anh mở miệng thì những
câu chuyện đều là về những thất bại: một đỉnh cao chưa đến được, một phụ
nữ đã mất, một cây cầu và một ngôi trường chưa được xây dựng.

Một
đêm, sau ca làm việc muộn, Mortenson bị cướp trên đường về nhà bởi bốn
cậu choai không quá mười bốn tuổi. Trong khi một đứa run rẩy chĩa súng
vào ngực Mortenson, những đứa còn lại lột sạch mọi túi quần túi áo của
Mortenson. “Mẹ kiếp. Thằng chó này chỉ có hai đôla.” thằng bé nói, nhét
tiền vào túi và đưa trả cho Mortenson chiếc ví rỗng. “Sao chúng ta lại
gặp phải gã da trắng bần cùng nhất Berkeley này chứ?”

Bần
cùng. Khánh kiệt. Bần cùng. Đến mùa xuân, Mortenson chìm trong nỗi trầm
cảm của mình. Anh hồi tưởng những gương mặt hi vọng của người dân làng
Korphe khi họ tiễn anh lên xe buýt đi Islamabad, chắc chắn, Inshallah,
rằng anh sẽ sớm quay trở lại cùng với tiền. Sao họ lại có thể tin tưởng
vào anh nhiều như vậy trong khi anh lại quá ít niềm tin vào bản thân?

Vào
một chiều muộn tháng năm, Mortenson đang nằm trong túi ngủ, suy nghĩ
rằng mình rất cần giặt áo quần, và cân nhắc xem có nên tốn tiền để đi
đến tiệm giặt ủi tự động hay không thì điện thoại đổ chuông. Đó là bác
sĩ Louis Reichardt. Vào năm l978, Reichardt và người bạn leo núi của
mình là Jim Wickwire đã là những người Mỹ đầu tiên lên đến đỉnh K2.
Mortenson đã gọi điện cho ông trước khi bắt đầu chuyến leo núi K2 để xin
lời khuyên, và kể từ đó họ đã trò chuyện với nhau, không thường xuyên
nhưng nhiệt thành. “Jean cho tôi biết về những gì anh đang định làm cho
ngôi trường của mình.” Reichardt nói. “Nó đến đâu rồi?”

Mortenson
kể cho ông nghe mọi chuyện, từ bức thư cho đến việc đình trệ vì cây
cầu. Anh cũng kể cho người đàn ông đáng tuổi cha mình về những phiền
muộn của anh, từ việc đánh mất người phụ nữ của mình, mất việc, cho đến
điều mà anh sợ nhất - lạc mất con đường của mình.

“Hãy
bình tĩnh, Greg. Dĩ nhiên anh có thể va vấp.” Reichardt nói. “Nhưng
những gì anh đang cố làm còn khó hơn nhiều so với việc leo lên ngọn K2.”

“Những
lời nói đó từ Louis Reichardt có ý nghĩa rất lớn đối với tôi.”
Mortenson nói. “Ông là một trong những người hùng của tôi.” Những gian
khổ mà Reichardt và Wickwire đã nếm trải để lên đến đỉnh là huyền thoại
trong giới leo núi. Đầu tiên, Wickwire đã thử lên đỉnh vào năm 1975. Và
nhiếp ảnh gia Galen Rowell, một thành viên trong đoàn, đã viết một cuốn
sách về công việc vất vả của nhóm, ghi lại một trong những thất bại cay
đắng nhất trong lịch sử leo núi cao.

Ba
năm sau, Reichardt và Wickwire quay trở lại và đã lên đến được nơi cách
đỉnh trong vòng chín trăm mét trên sườn núi đáng sợ phía tây, ở đó họ
đã phải quay trở lại vì một vụ tuyết lở. Thay vì rút lui, họ đã băng
ngang K2 ở độ cao 7.620 mét để đến lộ trình truyền thống mà phần lớn các
nhà leo núi đã thử, đỉnh Abruzzi, và họ đã lên đến đỉnh một cách xuất
sắc. Reichardt, gần cạn oxy, đã khôn ngoan vội quay xuống núi. Nhưng
Wickwire ở lại trên đỉnh, định lau chùi ống kính máy hình để chụp những
tấm hình và thưởng thức thành tích đạt được mục tiêu của cả đời mình.
Tính toán sai lầm này suýt phải trả giá bằng sinh mạng của ông.

Không
có đèn đeo trán, ông không thể thực hiện việc xuống núi kĩ thuật trong
bóng tối và đã buộc phải chịu đựng một đêm ngoài trời ở độ cao cao nhất
từng được ghi nhận. Oxy của ông cạn kiệt và ông đã mắc phải chứng cóng
giá(14), bị viêm phổi, viêm màng phổi trầm trọng và một đám cục nghẽn có
khả năng gây chết người ở trong phổi. Reichardt và những người còn lại
trong đội đã đấu tranh để giữ cho ông sống bằng sự chăm sóc y tế liên
tục cho đến khi ông được máy bay trực thăng đưa đến bệnh viện, rồi trở
về nhà ở Seattle, ở đó ông trải qua ca phẫu thuật lớn để loại bỏ những
cục nghẽn trong phổi.

 

14. sự tổn thương cơ thể
do hiện tượng lạnh giá, đóng băng gây ra. Cóng giá làm mất cảm giác tạm
thời hoặc vĩnh viễn ở bộ phận bị thương tổn

 

Louis
Reichardt biết một điều gì đó với việc trải qua đau khổ và đạt được
những mục tiêu lớn. Sự công nhận của ông đối với sự gian khổ trên con
đường mà Mortenson đang đi đã làm cho anh thấy mình không thất bại. Anh
chỉ chưa hoàn thành cuộc leo núi của mình. Đúng như vậy.

“Hãy
gọi cho Jean và kể cho ông ta về mọi chuyện mà anh đã kể với tôi.”
Reichardt nói. “Hãy đề nghị ông ta chi tiền cho cây cầu. Hãy tin tôi,
ông ta có thể tài trợ.”

Lần
đầu tiên kể từ khi trở về, Mortenson cảm thấy giống như chính mình
trước đây. Anh gác điện thoại và kéo dây kéo mở chiếc túi mà anh dùng
như cuốn sổ điện thoại của mình cho đến khi tìm thấy một mẩu giấy có ghi
tên và số điện thoại của Hoerni. “Đừng quýnh,” tờ giấy nhắc anh. Ừ, có
thể mình đã quýnh lên, mà cũng có thể là không. Điều đó phụ thuộc vào
người bạn sẽ nói chuyện. Nhưng dù sao những ngón tay của anh cũng đang
quay số. Và rồi điện thoại đổ chuông.

Báo cáo nội dung xấu