Ba tách trà - Chương 04 phần 2
Bốn
ngày sau khi tốt nghiệp trung học, Mortenson đến căn cứ huấn luyện ở
Fort Leonard Wood, Missouri. Trong khi phần lớn bạn bè cùng lớp còn đang
ngủ vùi trong mùa hè trước khi vào đại học, anh bị viên trung sĩ huấn
luyện đánh thức vào buổi sáng đầu tiên lúc năm giờ bằng cú đá và lay lay
chiếc giường cùng tiếng quát “Xuống giường và xỏ giày vớ vào!”
“Tôi
quyết định không để cho anh chàng này làm mình hoảng sợ.” Mortenson
nói. Do đó anh đã chào trung sĩ huấn luyện Parks vào năm giờ sang hôm
sau với quần áo chỉnh tề trong bóng tối trên chiếc giường nhỏ đã chật
khít của mình. “Anh ta mắng tôi vì đã không ngủ đủ tám giờ trong khi tôi
phải tuân thủ giờ giấc theo quy định, phạt tôi hít đất bốn mươi lần rồi
dẫn tôi lên ban chỉ huy, gắn cho tôi một sọc và dẫn về lại khu giường
ngủ. “Đây là Mortenson, anh ta sẽ là trung đội trưởng mới của các anh,”
viên trung sĩ nói. “Anh ta có cấp bậc cao hơn tất cả các tân binh như
các anh, do vậy hãy làm những gì anh ta nói.”
Mortenson
khá trầm lặng để có thể ra lệnh cho đồng đội một cách có hiệu quả.
Nhưng anh rất xuất sắc trong quân đội. Xuất thân từ đội bóng bầu dục và
đội chạy đua của trường học, anh vẫn rất sung sức nên những gian khổ của
việc huấn luyện cơ bản đối với anh là không đáng kể so với tinh thần
suy sụp mà anh thấy như một bệnh dịch trong quân đội thời kì hậu Việt
Nam. Anh được dạy các kĩ năng bộ binh và chiến thuật nâng cao, rồi dấn
thân vào sự quan tâm trọn đời mình về y khoa khi anh được huấn luyện như
một người lính quân y, trước khi được phân công sang Đức cùng Sư đoàn
Thiết giáp 33. “Tôi thực sự rất khờ khạo khi đăng kí nhập ngũ, nhưng
quân đội đã có cách giúp tôi hết khờ khạo.” Mortenson nói. “Nhiều chàng
trai sau chiến tranh Việt Nam đã dính vào heroin, họ chết trong trại và
chúng tôi phải đi thu nhặt xác của họ.” Anh cũng nhớ đến một sáng mùa
đông lúc thu nhặt xác của một trung sĩ bị đánh đập và bỏ lại trong hào
tuyết cho đến chết, vì đồng đội của anh ta phát hiện anh ta là kẻ đồng
tính luyến ái.
Đóng
quân ở Bamberg, Đức, gần biên giới Tây Đức, nhờ vào giờ giấc linh hoạt
trong quân đội, Mortenson đã hoàn thiện khả năng mà anh có trong suốt
phần đời còn lại của mình, có thể ngủ ở bất cứ nơi nào, ngay lập tức.
Anh là người lính gương mẫu, “Tôi chưa từng bắn một phát súng vào bất cứ
ai.”
Mortenson
nói. “Nhưng đó là trước khi bức tường Berlin sụp đổ và chúng tôi đã
dành nhiều giờ nhắm qua ống ngắm khẩu súng M-16 của mình vào những người
lính canh Đông Đức.” Trong phiên gác, Mortenson được phép bắn những tay
súng cộng sản nếu họ bắn những thường dân Đông Đức đang cố đào thoát.
“Điều đó thỉnh thoảng xảy ra nhưng chưa từng xảy ra trong khi tôi đứng
gác.” Mortenson nói. “Ơn Chúa!”
Phần
lớn những người lính da trắng anh quen biết ở Đức đều trải qua những
ngày nghỉ cuối tuần “chơi bời, nhậu nhẹt hay bắn súng.” Mortenson nói,
do đó anh đón những chuyến bay quân sự miễn phí chở lính da đen - đến
Rome, London hoặc Amsterdam. Đó là lần đầu tiên Mortenson du lịch một
mình và anh cảm thấy chuyến đi cùng các bạn đồng hành đều rất vui vẻ.
“Trong quân đội, những người bạn thân nhất của tôi là người da đen.”
Mortenson nói. “Ở Minnesota điều này có vẻ bất tiện nhưng vấn đề chủng
tộc trong quân đội là vấn đề mà bạn ít lo ngại nhất. Ở Đức, tôi thấy
được chấp nhận hoàn toàn và lần đầu tiên kể từ ngày ở Tanzania, tôi
không cảm thấy cô độc.”
Mortenson
đã được trao Huy chương Tưởng thưởng Bộ binh cho việc di tản những
người lính bị thương trong một cuộc tập trận bắn đạn thật. Anh đã giải
ngũ trong danh dự sau hai năm, vui vì những gì mình đã làm và giờ đây
gắn bó với thói quen thứ hai không thể thay đổi của mình, đến muộn sau
đó: không thể lái xe hơi vào nơi đậu xe. Rất lâu sau khi giải ngũ, anh
vẫn lái số lùi mọi chiếc xe - chiếc xe jeep ở Baltistan, chiếc Toyota
của gia đình trong chuyến dạo mát - vào đúng chỗ, như quân đội đã dạy
cho xe quay đầu ra và chuẩn bị sẵn súng để thoát nhanh dưới hỏa lực.
Anh
đến học tại trường cao đẳng Concordia nhỏ bé ở Moorhead, Minnesota với
một học bổng về bóng bầu dục, nơi đội bóng của anh đã giành chiến thắng
trong giải Vô địch Quốc gia NAIA II năm 1978. Nhưng anh sớm chán môi
trường đơn điệu của ngôi trường nhỏ không có tiếng tăm và đã chuyển đến
ngôi trường đa dạng hơn là trường Đại học Nam Dakota ở Vermillion với
học bổng dành cho quân nhân.
Jerene
đang theo học để lấy bằng Tiến sĩ Giáo dục và Dempsey tìm được một công
việc không hứng thú, lương thấp, làm việc nhiều giờ cho một quỹ vay vốn
của nhà nước, công việc đăng kí chủ nợ, con nợ, do đó chuyện tiền bạc
đối với nhà Mortenson càng trở nên eo hẹp hơn bao giờ hết. Greg phải vừa
làm vừa học trong suốt cả năm đại học, rửa chén bát trong căn tin của
trường và làm hộ lí trực ca đêm ở bệnh viện Dakota. Mỗi tháng, anh bí
mật gửi về cho cha một phần tiền mà mình kiếm được.
Vào
tháng 4 năm 1981, năm thứ hai của Greg ở Vermillion, Dempsey được chẩn
đoán mắc bệnh ung thư, ông mới bốn mươi tám tuổi. Greg khi đó là sinh
viên khoa hóa và khoa điều dưỡng và khi biết căn bệnh ung thư của cha
mình đã di căn lan đến gan và các hạch bạch huyết, anh biết rõ có thể
mất cha nhanh như thế nào. Trong khi đang phải gạo bài cho các kì thi và
duy trì việc làm ngoài giờ, cứ hai tuần một lần, Mortenson lái xe sáu
giờ về nhà ở Minnesota để ở cùng cha một ngày cuối tuần. Và cứ khoảng
hai tuần, anh lại thấy sốc vì tình trạng của cha mình suy sụp một cách
nhanh chóng.
Mortenson,
đã khá thành thạo trong nghề y, thuyết phục các bác sĩ của Dempsey cho
ngưng việc xạ trị, biết rằng tình trạng của cha đã vào giai đoạn cuối và
quyết định rằng ông phải có cơ hội vui hưởng khoảng thời gian ít ỏi còn
lại của mình. Greg muốn nghỉ học và dành hết thời gian chăm sóc cha
mình nhưng Dempsey đã nói với con trai, “Con đừng làm vậy.” Vì vậy,
những chuyến về thăm hai tuần một lần vẫn tiếp tục. Khi thời tiết tốt,
anh đưa cha ra ngoài, xúc động vì thấy cha đã gầy đi như thế nào, đến
bên chiếc ghế ngoài sân cỏ để ông ngồi trong ánh mặt trời. Dempsey, có
lẽ vẫn còn gắn bó với đất đai vườn tược tươi tốt bao quanh nhà như lúc ở
Moshi, rất chú ý chăm sóc vườn thảo mộc của mình, và dặn anh không được
để cỏ dại mọc.
Đêm
khuya, khi trăn trở trong giấc ngủ, Greg nghe tiếng Dempsey đánh máy
một cách khó nhọc, thảo ra những nghi thức cho lễ tang của chính mình,
Jerene ngủ thiếp trên ghế dài, chờ cho đến khi chiếc máy chữ im bặt để
đưa chồng về giường.
Vào
tháng chín, Greg về thăm cha lần cuối. Dempsey khi đó đã nhập viện ở
bệnh viện Midway, St.Paul. “Có một kì thi vào sáng hôm sau và tôi không
muốn về nhà vào lúc nửa đêm nhưng tôi không thể bỏ cha.” Greg nhớ lại.
“Ông không được dễ chịu với tình trạng bệnh tật của mình, nhưng ông vẫn
đặt tay trên vai tôi suốt thời gian tôi ở đó. Sau cùng tôi đứng lên từ
biệt và ông nói, ‘Mọi chuyện đã xong, mọi chuyện đều tốt cả, tất cả đều
đã được lo liệu.’ Ông hoàn toàn không sợ cái chết.”
Cũng
như ở Moshi, khi tổ chức buổi tiệc lớn đánh dấu sự kết thúc thành công
khoảng thời gian của họ ở châu Phi, Dempsey đã sắp đặt chi tiết nghi lễ
đánh dấu sự kết thúc thời khắc của ông trên trần gian cho đến bài thánh
ca cuối cùng, chết một cách thanh thản vào sáng hôm sau.
Tại
nhà thờ giáo phái Luther ở Roseville, những người dự tang lễ được nhận
một tờ chương trình do Dempsey thiết kế, gọi là “Niềm vui trở về nhà.”
Greg tiễn biệt cha mình bằng tiếng Swahili, gọi ông là Baba, kaka,
ndugu, “người cha, người anh, người bạn.” Được ưu đãi do phục vụ trong
quân ngũ, Dempsey đã yên nghỉ trong nghĩa trang quốc gia Ft.Snelling,
Twin Cities.
Với
cái chết của Dempsey và hai tấm bằng hạng ưu về điều dưỡng và hóa học
trong tay, Mortenson cảm thấy như được cởi trói rất nhiều. Anh cân nhắc
và được chấp nhận vào học tại trường Đại học Y khoa Case Western, nhưng
anh không tưởng tượng là mình phải chờ đến năm năm nữa trước khi có thể
kiếm được tiền. Sau cái chết của người cha, anh bắt đầu bị ám ảnh bởi
việc sẽ mất Christa, khi những cơn động kinh của cô đã trở nên thường
xuyên hơn. Do đó, anh quyết định trở về nhà trong một năm để sống cùng
cô em út của mình. Anh đã giúp cô tìm được công việc lắp ráp túi thuốc
nước IV Solution trong một nhà máy và đi xe buýt St.Paul cùng em mình
hàng chục lần cho đến khi cô có thể thuộc lộ trình. Christa rất quan tâm
đến các bạn gái của anh mình và hỏi anh những câu hỏi chi tiết về giới
tính mà cô e thẹn không dám trao đổi với mẹ. Và khi Greg biết Christa
hẹn hò với bạn trai, anh đã nhờ một nữ y tá nói cho em nghe về giáo dục
giới tính.
Năm
1986, Mortenson bắt đầu một chương trình học về sinh lí thần kinh ở Đại
học Indiana; anh suy nghĩ một cách lí tưởng rằng với việc chăm chỉ
nghiên cứu, anh có thể tìm ra cách chữa trị cho em gái mình. Nhưng việc
nghiên cứu y học tiến triển quá chậm đối với một chàng trai hai mươi tám
tuổi đang nôn nóng, và khi Mortenson càng hiểu biết thêm về bệnh động
kinh, thì bất cứ cách chữa trị khả dĩ nào dường như cũng càng lùi xa
hơn. Đọc qua những quyển sách giáo khoa dày cộm và ngồi trong phòng thí
nghiệm, anh thấy tâm trí mình trôi dạt trở lại với những đường vân thạch
anh rối rắm lẫn trong đá hoa cương ở đỉnh núi The Needles, khối núi đá
nhọn vùng Black Hill, Nam Dakota, nơi anh đã học những điều cơ bản về
leo núi đá cùng với hai bạn học vào năm trước.
Anh
cảm thấy sự lôi kéo ngày càng mạnh hơn. Anh có chiếc xe Buick cũ màu
ruợu chát của bà ngoại, anh đặt cho nó cái tên La Bamba. Anh dành dụm
được vài nghìn đôla, và anh có những cách nhìn khác nhau về cuộc sống,
hướng ra bên ngoài nhiều hơn, như cuộc sống mà anh đã yêu thích ở
Tanzania. California dường như là một nơi quá rõ ràng, do đó anh chất
hành lí lên chiếc La Bamba và đi về miền Tây.
Cũng
như phần lớn những cuộc theo đuổi mà anh đã chú tâm đến, đường cong học
leo núi của Greg Mortenson cũng dốc đứng như những vách đá mà anh đã
sớm trèo lên. Nghe anh kể về những năm đầu tiên đó ở California, gần như
không có khoảng nghỉ nào giữa khóa học kéo dài một tuần mà anh tham dự ở
Southern California Suicide Rocks và việc dẫn đầu những cuộc leo lên
các đỉnh núi cao hơn sáu nghìn mét ở Nepal. Sau thời thơ ấu sống khuôn
phép trong căn nhà hết sức nề nếp của mẹ mình, rồi quân đội, trường cao
đẳng và cao học, sự tự do trong leo núi và làm việc chỉ đủ để leo núi
nhiều hơn nữa, là một điều mới mẻ đáng say mê. Mortenson bắt đầu theo
nghề y tá chấn thương, làm việc suốt đêm và cả những ngày lễ tại các
phòng cấp cứu ở Bay Area, chọn những ca mà không ai muốn chọn để đổi lấy
sự tự do biến mất khi những ngọn núi vẫy gọi.
Bối
cảnh leo núi ở Bay Area có thể chiếm hết thời gian và Mortenson để bản
thân bị cuốn vào đó. Anh gia nhập câu lạc bộ leo núi City Rock, trong
một nhà kho cũ ở Emeryville, nơi anh bỏ ra hết giờ này sang giờ khác để
cải thiện những động tác của mình. Anh bắt đầu chạy marathon và luôn
vạch ra các kế hoạch giữa những chuyến thám hiểm để leo lên mặt bắc của
Mount Baker, Annapurna IV, Baruntse và nhiều đỉnh núi khác trong dãy
Himalaya. “Từ năm 1989 đến 1992, cuộc đời tôi hoàn toàn dành cho việc
leo núi.” Mortenson nói. Và kiến thức về leo núi đối với anh có sức lôi
kéo mạnh gần như quá trình đánh giá chính mình trước những vách đá không
khoan nhượng. Anh tích lũy kiến thức bách khoa về lịch sử của việc leo
núi và lùng sục khắp các hiệu sách cũ ở Bay Area tìm kiếm những hành
động táo bạo trong việc leo núi có từ thế kỉ mười chín. Mortenson nói,
“Những năm đó, cuốn sách gối đầu giường của tôi là Freedom from Hills -
một cuốn kinh thánh về môn leo núi.”
Christa
đến thăm anh mỗi năm, và anh cố giải thích cho em gái về tình yêu của
mình đối với những ngọn núi, lái xe đưa em đến Yosemite và lần ngón tay
của anh dọc theo nửa chục lộ trình mà anh đã thực hiện để lên đến phiến
đá hoa cương liền khối Haft-Dome.
Ngày
23 tháng 6 năm 1992, Mortenson ở trên núi Sill nằm ở phía đông Sierra,
cùng với người bạn gái vào thời điểm đó, Anna Lopez, một nữ hướng đạo
sinh đã trải qua nhiều tháng đơn độc ở vùng đồng quê miền núi. Vào lúc
bốn giờ ba mươi sáng, họ đi xuống một sông băng, nơi họ đã cắm trại qua
đêm sau khi lên đỉnh núi, Mortenson sẩy chân, ngã hẳn người tới trước,
rồi bắt đầu trượt xuống sườn dốc. Quán tính khiến cho anh ngã nhào xuống
dòng song băng, hất anh lên cao một mét rưỡi mỗi lần nảy bật và ném
mạnh anh xuống lớp băng giá và tuyết dày đặc. Chiếc balô nặng xoắn lại,
xé trật khớp vai phải và làm gãy xương cánh tay của anh. Anh rơi thẳng
đứng gần hai trăm năm mươi mét, cho đến khi cắm được mũi chiếc rìu vào
trong tuyết và giữ mình dừng lại với cánh tay không bị đau.
Sau
khi Mortenson trải qua hai mươi bốn giờ ảo giác, loạng choạng trong đau
đớn để đi xuống núi và ra khỏi con đường mòn, Anna lái xe đưa anh đến
phòng cấp cứu gần nhất, ở Bishop, California. Từ bệnh viện, Mortenson đã
gọi cho mẹ để báo tin mình còn sống sót. Nhưng điều anh nghe được khiến
anh đau đớn còn hơn cú ngã của mình. Cùng thời điểm Greg trượt chân ở
núi Sill, mẹ anh mở cửa phòng Christa để đánh thức cô dậy cho chuyến đi
đến “Cánh đồng mơ ước”, ở Dyersville, bang Iowa, nơi bộ phim cùng tên đã
được quay, mà họ đã lên kế hoạch nhân sinh nhật thứ hai mươi ba của cô.
“Khi tôi vào đánh thức Christa, con bé đang quỳ trên hai tay và hai
chân, như đang cố trở lại giường sau khi đi vệ sinh.” Jerene nói. “Da
con bé tái xanh. Tôi chỉ có thể nghĩ con bé chết là do cơn đột quỵ xảy
ra đột ngột khiến nó chết cứng ngay tại chỗ.”
Mortenson
đến dự đám tang em gái ở Minnesota với cánh tay còn phải quàng dây. Em
trai của Jerene, mục sư Lane Doerring, đã đọc bài điếu văn, trong đó ông
thêm một ý thích hợp vào lời thoại nổi tiếng nhất trong bộ phim mà
Christa ưa thích. “Christa của chúng ta sẽ thức dậy và nói, ‘Đây có phải
là Iowa?’ Và họ sẽ đáp, ‘Không, đây là thiên đường’.” ông nói với đám
đông người dự tang lễ ở trong cùng ngôi nhà thờ mà họ đã vĩnh biệt ông
Dempsey trước đây.
Ở
California, Mortenson cảm thấy cuộc sống trở nên vô nghĩa hơn bao giờ
hết. Cuộc điện thoại của Dan Mazur, một nhà leo núi tài năng mà
Mortenson biết tiếng là rất quyết tâm, như một cứu cánh. Anh ấy đang lập
kế hoạch cho chuyến thám hiểm đến K2, thử thách cao nhất của các nhà
leo núi, và cần một y tá cho đoàn. Liệu Mortenson có tham gia không? Đây
là một con đường, một phương tiện mà Mortenson có thể quay trở lại, và
đồng thời cũng để tưởng nhớ đến em gái mình. Anh đã leo lên đỉnh núi
đáng kính nể nhất, và anh dành riêng chuyến leo núi của mình để tưởng
nhớ Christa. Anh đã tìm thấy cách để vứt bỏ sự mất mát vô nghĩa này.
Một
cách thận trọng, Mortenson hạ thấp GiGi xuống khỏi mặt mình, và để chú
khỉ lên trên cuốn album. Một chiếc xe tải mười tám bánh đang gầm gừ
phóng khỏi San Pablo làm lay động căn phòng nhỏ khi nó đi qua. Anh bước
ra ngoài phòng kho và lấy những vật dụng leo núi của mình từ thùng xe La
Bamba.
Anh
treo đai bảo hiểm, dây leo, các móc sắt, móc nối kim loại, bulông lục
giác và bộ thiết bị leo Junar một cách gọn gàng trên những cái móc, nơi
chúng chỉ nghỉ ngơi một thời gian ngắn giữa những chuyến leo núi trong
năm năm qua. Đây là những thứ đã đưa anh qua các lục địa và lên những
đỉnh núi cao mà con người yếu đuối cho là không thể đến được. Làm cách
nào để quyên góp được tiền? Làm thế nào để thuyết phục người Mỹ quan tâm
đến một nhóm trẻ em đang ngồi ngoài trời lạnh, ở bên kia trái đất, viết
những bài học của chúng lên đất bằng những thanh que? Anh kéo sợi dây
đèn, những nét đặc thù của đồ vật trong phòng kho dần biến mất. Một mảng
nắng Callifornia chiếu lập lòe trên đôi mắt bằng nhựa của chú khỉ nhồi
bông trước khi Mortenson cài khóa móc cánh cửa.

