Khúc Nam Ai - Chương 01-P1

"Hỡi ôi, tình nghĩa phu thê dù có nặng, thiếp cũng nào
dám đâu cản bước chân chàng. Chàng ra đi để trả nợ núi sông. Thiếp ở lại nuôi
con chờ ngày chiến thắng.

Nhưng trên bước đường chông gai tên đạn, thiếp xin ai bảo trọng
tấm thân… vàng..."

- Từng, tưng tưng tứng tưng tứng tưng từng...

Tôi lẩm nhẩm miệng hát theo tiếng đờn của bác Bảy Viễn ở đằng
sau tấm màn màu xám. Vở tuồng quen thuộc đến buồn ngủ. Bác Bảy Viễn có thể vừa
đờn vừa ngủ mà không sợ lộn nhịp. Ngoài sân khấu, ba tôi và mẹ tôi đang diễn tả
vai trò hai vợ chồng trong giờ phút biệt ly. Nước mắt mẹ tôi chảy ra long lanh
trong ánh sáng trắng loát của ngọn đèn măng sông sáng rỡ. Bên cạnh tôi, trên
chiếc ghế tạm làm bằng hai cục gạch hầm đỏ ối, bác Tư Tình đang săm soi lại lần
cuối bộ râu chổi xề trong vai Hung Nô. Đặt chiếc gương lớn đã bể mất một góc
lên thành rương, bác Tư Tình trợn mắt dọa mấy đứa nhỏ đang vạch chiếu tò mò
nhìn bác hóa trang. Mấy đứa con gái bỏ chạy như vịt. Mấy đứa con trai dạn hơn,
cười toe với bác, chúng la :

- Tướng cướp tụi bây ơi.

Bác Tư Tình đứng dậy phủi đít vạch cánh gà nhìn ra sân khấu
:

- Hết bài này tới tui phải hông ?

Bác Bảy Viễn gật đầu, nhắc :

- Ờ, mà cha nhớ thay đồ đi cha nội. Hồi nãy đóng vai trung
thần, bây giờ vai rợ Hung Nô phải đổi áo đi chớ.

Đoàn hát của ba má tôi chỉ có vỏn vẹn chừng đó người, chồng
chất trên một chiếc xe lam cũ rích. Ba má tôi là đào kép rường cột của đoàn, vừa
là sáng lập viên, vừa kiêm soạn giả của những vở tuồng mà đoàn trình diễn. Nói
là soạn giả cũng quá đáng, bởi hầu hết những vở tuồng ấy đều lấy từ những vở tuồng
đem in thành tập nhỏ lớn hơn bàn tay bán phổ biến cho dân chúng của các soạn giả
cải lương nổi tiếng ở Sài Gòn. Ba tôi mua về bỏ bớt một vài ba vai, thu ngắn vở
tuồng để đoàn hát nghèo của chúng tôi có thể diễn được cho các bà con ở vùng
quê xem. Phải nói là đoàn hát Hưng Liên, tên ghép của ba tôi và má tôi, là đoàn
hát nghèo nàn nhất nước, và nhất thế giới nữa. Gia tài của chúng tôi chỉ có chiếc
xe lam cà rịch cà tang là đáng giá còn ngoài ra là mấy rương quần áo đồ tuồng
cũ nát, mục rách. Không có phông cảnh, không cả đèn màu, chúng tôi trình diễn
dưới ánh sáng trơ trẽn của cái đèn măng sông hoặc cây đèn dầu khơi ngọn. Mỗi một
diễn viên, gọi là diễn viên cho oai đấy, có thể đóng hai ba vai cùng một lúc.
Và ba tôi khéo léo xào xáo để người này có thì giờ trút bỏ lớp hóa trang cũ mà
thay bằng lớp hóa trang trong một vai khác. Ít khi hai vai cùng một người đóng
mà chạm mặt nhau. Như bác Tư Tình vừa đóng vai trung thần, vừa đóng vai rợ Hung
Nô, vừa đóng vai người đàn ông ăn chơi trong thời buổi loạn lạc. Cũng bởi vì đóng
nhiều vai quá nên đôi khi có nhiều chuyện buồn cười xảy ra, như vụ hát tuồng
cách đây hai tháng. Bác Tư Tình sau khi đóng xong vai chàng thư sinh, vội vàng
vào trong hóa trang kẻ mặt để đóng vai một vị quan võ. Khổ nỗi lúc vừa hóa
trang xong, bác bị đau bụng cuống cuồng chạy ra đồng cách nơi hát cả trăm thước.
Lúc trở vào vừa lúc phải ra tuồng. Bị hối thúc, bác quýnh cả lên chỉ kịp khoác
vào người chiếc áo thụng, cột túm hai ống quần rồi tất tả bước ra cất giọng rổn
rảng. Đến đoạn vị quan bị nhà vua áp chế, tức tối dùng gươm tự vẫn. Bác làm một
cử chỉ giận dữ, kèm theo câu hát là cử động rút gươm ngạo nghễ cùng tiếng hét
phẫn uất. Gươm vừa rút ra là khán giả cười lăn lộn, cười quên thôi, cười vỡ cả
đình. Bác Tư Tình quên đeo gươm. Vật rút ra là chiếc quạt thư sinh mà bác giắt
trong cạp quần của vai trò trước.

Tuy đoàn hát của chúng tôi lèm nhèm như vậy, nhưng dân chúng
đến xem phần đông đều dễ dãi. Họ sẵn sàng bỏ qua những lỗi lầm kỹ thuật mà
chúng tôi không làm thế nào để thực hiện nổi.

A, tôi quên kể đến vai trò của tôi trong đoàn hát. Mặc dù mới
được mười tuổi đầu nhưng tôi rành hầu hết các bản ca. Công việc của tôi mỗi đêm
là nấu một nồi cháo loãng để cả đoàn ăn khuya sau khi vãn hát. Sau đó, tôi ra
ngồi ở cánh gà nhìn xuống đám khán giả lố nhố, vừa đàn ông, vừa đàn bà, vừa con
nít. Con nít thì nói la om sòm, nhiều đứa khóc lóc inh tai át cả lời hát trên
sân khấu. Người lớn, kẻ hút thuốc, kẻ ăn trầu, vừa ăn quà, vừa nghe hát. Trông
cũng vui mắt và đỡ buồn ngủ đấy chứ. Thỉnh thoảng, ba tôi cũng cho tôi đóng những
vai con trẻ. Tôi nắm tay mẹ tôi bước ra sân khấu nói một vài câu ngắn, đôi khi
hát một vài câu theo điệu Lý con sáo. Nhưng chính cũng vì vậy mà tôi bất mãn lắm
lắm. Tôi cá là tôi có thể hát được đủ loại bài ca cơ mà. Bác Bảy Viễn dạy tôi
hát rập theo tiếng đờn của bác. Tôi đã ca được cả Vọng cổ, cả xàng xê. Ấy thế
mà ba tôi cứ ngại tôi không hát được. Tôi có nũng nịu hoặc vờ dỗi trách hờn ba
mẹ, thì hai người chỉ cười bảo tôi chờ vài năm nữa. Vài năm nữa, ngày tháng đối
với tôi dài quá sức. Trong khi đó, ba tôi cứ bắt tôi phải học chữ mãi. Lạ lùng
là học ca không thấy ớn, mà mau thuộc, trong khi học chữ thật chán như cơm nếp.
Mỗi buổi sáng, trước khi tập tuồng, hay soạn tuồng, ba tôi bắt tôi mở cuốn tập
dạy tôi làm tính, làm toán. Kể ra khi học tôi được thấy nhiều cái lạ. Nhất là
trong quyển tập đọc. Tôi đọc thấy những thành phố lớn, nhà lầu hai ba chục tầng,
xe hơi, xe gắn máy rộn rịp. Những lần ấy, học xong, xếp sách lại là tôi bắt đầu
tra gạn cha tôi :

- Xe hơi có đẹp như xe chở rau của ông nào quen với ba đó
không hở ba ?

- Đẹp hơn nhiều chớ.

- Đẹp là đẹp làm sao ba ?

- Đẹp lắm.

Tôi xoay sang câu khác :

- Sao ba mẹ không về chỗ nào có xe hơi, mình hát chắc được
nhiều tiền lắm ba há !

Mẹ tôi ngồi vá mấy bộ đồ rách, lên tiếng bực bội :

- Về tỉnh có mà bưng chén đi ăn xin.

- Sao vậy mẹ ?

Ba tôi lắc đầu :

- Thôi, đừng có hỏi tào lao, lộn xộn. Còn nhỏ, hỉ mũi chưa sạch
mà bày đặt. Để ba đọc lại tuồng tối diễn cho bà con lấy tiền. Chạy đi kêu bác Bảy
Viễn cho ba. Lại kiếm chỗ uống rượu rồi.

Mặc dù ấm ức nhưng tôi không dám cải lời, vội vã đứng dậy.
Bác Bảy Viễn là ông vua uống rượu. Có rượu bác đờn hay. Không rượu bác như người
mất hồn. Mà uống rượu nhiều quá thì bác không thể cầm đàn lên nổi. Ba tôi than
phiền bác luôn. Có đồng nào bác đem mua rượu tất. Ba tôi có nói đến, bác lại bảo
bác đâu cần ăn cơm. Bác uống rượu thế cơm. Tôi nghĩ chắc bao tử bác là một cái
bình đựng rượu rỗng đáy. Được cái khi nào có tiền, nghĩa là đêm hát trước chúng
tôi có đông khán giả, bác đi uống rượu rồi mua về cho tôi một chéo tay khô cá sặc
thơm nức, nhai nhai béo đáo để. Ngón đờn của bác tôi nghe thì tuyệt lắm. Bởi
khi bác đờn, đem so với bác Tư Tình thỉnh thoảng cũng đờn chơi vài bản, thì thấy
tiếng đờn của bác Tư nó làm sao ấy. Lục cục lạc cạc thế nào ấy. Mẹ tôi bảo ngày
xưa, bác cũng là một nhạc sĩ có ngón đờn có hạng lắm ở Sài Gòn, nhưng càng về
già, bác càng sinh tật uống rượu dữ, bỏ bê công việc. Có đêm đang đánh đờn cho
diễn viên hát, nửa chừng rượu vật bác nằm ngay đơ. Các đoàn hát thấy vậy chạy mặt
hết. Bác đâm ra cùng quẫn, chán đời, ra bờ sông Sài Gòn tự tử. May gặp ba tôi
khuyên giải và đưa bác về lập cái đoàn hát nhỏ lây lất với nhau. Nhưng từ khi
tôi biết chuyện đến nay, bác có uống rượu say sưa lăn trời đổ đất thật đấy,
nhưng chưa bao giờ tôi thấy bác bỏ dở nửa chừng lần nào. Có lẽ bác ý thức được
trách nhiệm của mình chỉ có một mình đờn cho mọi người hát, một mình bác là một
dàn đờn. Tay bác đờn, thì chân bác gõ nhịp. Nếu bác ngừng kể như xong đời.

- Hiệp, Hiệp, kéo màn, vãn hát mà. Kéo lẹ lên.

Tôi giật mình, hai bàn tay phản xạ chạy mau hơn ý nghĩ kéo vội
bức màn. Một tràng vỗ tay rời rạc nổi lên. Tiếng chân người, tiếng gọi nhau ơi ới,
tiếng la, tiếng khóc ồn ào.

- Chèn ơi, có buồn ngủ thì chui vô xe mà ngủ, chớ mầy cứ ngồi
mà ngơ ngơ ngẩn ngẩn vậy.

- Tui ngồi tui suy nghĩ chớ bộ. Cái điệu này ngó bác Bảy nói
tui thức khuya dở phải hông. Còn lâu à.

- Ừa, mầy thức khuya tài lắm, đêm nào mẹ mầy cũng na mầy tới
chỗ ngủ muốn rã tay.

Tôi cãi lại :

- Hông biết ai na ai đó à. Bữa trước, cái bữa…

Bác Bảy xua tay :

- Thôi, thôi, tao chịu thua cái miệng của mầy rồi. Xí xọn.

- Cái gì vậy bác Bảy ?

Ba mẹ tôi đã ra khỏi sân khấu, trên nét mặt của hai người,
tôi đọc thấy những nếp nhăn mệt mỏi. Tôi chạy lại ôm lấy tay mẹ.

- Cho con ăn cháu mẹ nghe.

Mẹ tôi cười :

- Ủa, nhà bếp có quyền ăn trước mà.

Bác Tư Tình vãn tuồng trước, đang khệ nệ mang nồi cháo đến.
Bác nghe thế vội nheo mắt nhìn tôi trêu :

- Nồi cháo hổm rày lưng ăn hổng đủ. Mầy ăn vụng hở Hiệp ?

Tôi nóng mặt lên trong khi bác Bảy Viễn cười hăng hắc thích
thú. Tôi dậm chân, nước mắt doanh tròng :

- Mẹ…

Mẹ tôi cả cười cúi xuống xoa đầu tôi. Người múc một bát cháo
lớn, đưa tôi cái muỗng rồi nói :

- Công con nấu cháo ai mà không biết. Có ăn trước cũng được.

Tôi dùng dằng :

- Không mà, con đâu có ăn trước.

- Có tịch giật mình rồi.

Tôi chạy lại, nhảy bổ lên trên bác Tư Tình đấm vào lưng thùm
thụp. Bác la lên :

- Trời ơi, nó giết tui, nó giết tui. Hỡi ơi, còn gì tấm thân
già này nữa. Em Lan ui, ở lại, anh đi…

Bác nói lối một câu vọng cổ, tôi buồn cười quên cả giận.

Cả đoàn năm người kể cả tôi ngồi quây quần chung quanh nồi
cháo loãng bốc khói trên chiếc chiếu rách trải trên nền đất nện.

- Sáng mai mình nghỉ buổi sáng cho khỏe. Trưa ăn cơm xong
lên đường. Tôi hỏi chỗ rồi. Xã trên đi xe của mình mất có khoảng hai tiếng đồng
hồ. Đi ghe gần hơn mất độ một tiếng. Kẹt cái xe, chớ miệt này đi ghe sướng nhứt.

Tôi ngẩng đầu lên ngạc nhiên, hỏi trong lúc miệng lúng búng
đầy cháo :

- Mai đi rồi. Con thấy còn nhiều người coi hát lắm mà.

Bác Bảy Viễn cười lạt :

- Ai đâu mà nhiều. Loe hoe mấy mạng người lớn, còn con nít
choi choi không. Tụi nó đào đâu ra tiền để coi hát. Coi cọp thì có. Ế quá, thôi
cũng làm lơ cho tui nó coi cho có vẻ xôm tụ hát mới có hứng. Không có tụi nó ai
làm quân lính. Mầy ngủ gục biết gì.

Bác quay sang ba tôi hỏi tiếp :

- Nhưng xóm này coi thu cũng được đó chớ ?

Mẹ tôi thở dài :

- Thì cũng cháo rau qua ngày. Đắp đổi cũng xong.

Bác Tư Tình ăn xong, đẩy cái bát dơ sang một bên, rít một
hơi thuốc trầm ngâm :

- Kiếp tằm thì phải nhả tơ chớ biết làm sao. Đôi lúc cũng muốn
về Sài Gòn đổi nghề, nhưng…

Mẹ tôi trả lời, giọng buồn so :

- Nghề gì cũng chết đói bác ơi, không nhà, không cửa, tứ cố
vô thân. Có xin vô làm mấy gánh lớn thì cũng làm công cho người ta, bị trên
chèn dưới ép. Đó là nói cái hồi vợ chồng tui còn trẻ mà đã vậy đó. Chớ bây giờ
thì hơi tàn rồi. Bây giờ thì thiên hạ chỉ cần những người trẻ trung, vừa hát vừa
nhảy choai choai chớ tụi mình dở người dở ngợm, khó lắm.

Ba tôi cũng tiếp :

- Thiệt tình, tui không thích làm công cho người ta anh Bảy,
anh Tư à. Cái máu của tui là máu nóng, máu thích giang hồ, không muốn bị cột
chân cột cẳng. Cái khó nếu mình trở về Sài Gòn hoặc tỉnh lớn là ở chỗ đó. Cái
xe lam này, mấy rương đồ này, xóm làng, đình, trường này ngó quen thân mà dễ chịu.
Mấy cái đó dính liền tui như vợ với con. Thôi thì cứ kiếm ăn như bây giờ mà có
tự do. Đó anh Bảy thấy không, anh thích uống rượu là mình uống, thích hát là
hát, đau thì nghỉ, không lo không sợ. Còn anh Tư, muốn cương tuồng là cương. Hổng
ai phạt anh, hoặc cúp tiền ăn, tiền cháo nào ráo trọi. Đói cùng đói, no cùng
no. Phải không anh Tư, phải không anh Bảy.

Bác Tư Tình, bác Bảy Viễn nhìn ba tôi gật đầu cười :

- Vì vậy tụi tui mới đi theo anh chớ.

Mẹ tôi quay lại hỏi ba tôi :

- Xóm trên có đông không anh ?

- Xóm trên là xóm nào ?

- Xóm mà ngày mai mình dọn qua đó.

- Nghe nói cỡ vài trăm nóc nhà. Cũng được. Chớ có khi mình
hát ở mấy xóm chỉ lèo tèo chục nhà đó thì sao.

Bác Tư Tình gục gặc đầu :

- Kể ra cũng lắm nỗi thăng trầm anh Bảy hả !

Bác Bảy cười nhìn tôi, lúc đó đang gà gật tựa đầu vào gối mẹ
:

- Cái thời vượng nhứt là thời thằng Hiệp mới sinh ra đó. Ôi,
nghĩ lại mà bắt ham. Bà con chòm xóm xúm coi hát không biết mệt. Mình xuống câu
vọng cổ hoặc câu xề nào là bà con vỗ tay nườm nượp, liệng bạc giấy lên thưởng tứ
tung. Sướng ghê.

- Chẳng bù cho bây chừ. Cái thời gạo châu củi quế, chiến
tranh mà, sống đến bây giờ được là vững lắm rồi.

Mẹ tôi vuốt tóc tôi, giọng bà vương một chút gì vừa vui, vừa
tiếc, vừa nhớ :

- Tui thì nhớ hoài cái xã Tam Hiệp.

Ba tôi cũng cười, giọng người bỗng dưng sảng khoái lạ thường
:

- Hồi má thằng Hiệp đẻ thằng Hiệp đó mà.

Bác Bảy cười nhẹ :

- Chính tui chạy đi kêu mụ chớ ai. Thiệt cái xóm gì đâu mà tốt
bụng không bằng.

Xã Tam Hiệp. Đấy là tên một cái xã mà tôi được nghe nhắc lại
nhiều lần đến thuộc lòng. Sở dĩ ba má tôi và các bác Bảy, bác Tư ai ai cũng chú
ý đến cái xã có cái tên Tam Hiệp là bởi nhiều lý do. Trước hết Hiệp tên tôi,
chính là lấy từ cái chữ sau của tên Tam Hiệp. Điều đó chứng tỏ sự liên lạc mật
thiết giữa xã Tam Hiệp và đoàn hát của chúng tôi. Số là thuở ba tôi và má tôi mới
lấy nhau, hai người lập nên đoàn hát nhỏ này và đi lưu diễn cùng các xã thôn ấp
xa xôi. Thời ấy việc đi lại dễ dàng hơn bây giờ nhiều vì an ninh được bảo đảm
hoàn toàn. Lại nữa, gặp thời buổi sung túc, ba má tôi cùng hai bác Tư, bác Bảy
đủ sống với số tiền thu được sau mỗi buổi hát. Đồng bào thôn ấp hồi đó thích
xem hát, xem cải lương vô cùng. Vì vậy đoàn hát của ba má tôi đi đến thôn ấp
nào, dân chúng cũng ủng hộ đông đảo. Được mấy năm sung sướng như thế, cả đoàn
dành tiền mua được chiếc xe lam cũ để chuyên chở cho nhanh và để giờ giấc di
chuyển được tự do hơn. Có chiếc xe lam cũng đỡ lắm chớ. Thứ nhất, nó đỡ được
tay chân khỏi mang vác đồ đoàn, thứ hai nó có thể làm chỗ ngủ tạm cho vài người
trong đoàn trên đường lưu diễn. Chiếc xe lam được tậu vào lúc má tôi bắt đầu
mang thai đứa con đầu tiên, chính là tôi bây giờ. Không có gì khác lạ xảy ra nếu
sáu bảy tháng sau đó, bụng của má tôi không to lên như mọi người đàn bà có thai
khác. Bởi cái sự bình thường đó đã làm hại đoàn hát. Với cái thai lớn đó, má
tôi hết còn giấu giếm gì được, dù là bộ đồ rộng thùng thình của bà hoàng hậu.
Chả lẽ má tôi đóng vai cô thôn nữ mà lại có cái bụng to vượt mặt hay sao. Kẹt
nhất là cả đoàn chỉ có mỗi má tôi là nữ. Không còn ai có thể thế chỗ má tôi được.
Có lần ba tôi hóa trang đóng vai một công chúa, nhưng đám khán giả nhà quê tinh
mắt ở dưới đã khám phá được, thế là một tràng la ó diễn ra khiến không ai có thể
cất tiếng hát được. Bác Bảy đành ra sân khấu xin lỗi và trả tiền lại cho khán
giả.

Thời kỳ đó là thời kỳ xám của đoàn hát. Bao nhiêu tiền dành
dụm đều tiêu sạch. Ba tôi lo lắng vô cùng vì không kiếm được tiền để lo cho má
tôi sanh nở. Đoàn hát không dám diễn tuồng nữa. Bác Tư và ba tôi bèn đổi ra
cách khác, hoặc độc diễn cải lương, nghĩa là ca vọng cổ không thôi như người ta
hát tân nhạc vậy. Hoặc là soạn vở kịch ngăn ngắn chỉ có hai người diễn chọc cười.
Diễn xong, cầm mũ rảo quanh đám khán giả để mong họ ủng hộ chút tiền.

Cứ thế, chiếc xe lam di chuyển lần lần đến một xã lạ thưa
người. Đất đai tương đối trù phú, những con rạch nước xám đục nổi bùn chằng chịt.
Đấy là xã Tam Hiệp. Khi đến nơi, nhìn những mái nhà lá thưa thớt, đoàn hát thất
vọng. Ở những nơi đông đảo gấp ba gấp bốn ở đây mà đoàn cũng không thu được tiền
huống hồ cái xóm bé nhỏ và trầm lặng này. Mà quả thật vậy, buổi hát đầu tiên của
chúng tôi chỉ lèo tèo dăm ba khán giả. Không đủ để mua gạo nấu một nồi cháo
loãng. Nhưng trong phút túng cùng, không ai dám chê tiền dù chỉ một đồng. Cả
đoàn ra công diễn tuồng. Để có vai nữ, ba tôi biến cải nhân vật trong tuồng là
người đàn bà mang thai. Song vì vậy mà tai nạn xảy ra. Má tôi ngất xỉu trên sân
khấu vì quá mệt nhọc. Trò đời Tái ông mất ngựa quả thật không ngoa. Tình trạng
bi đát của ba mẹ tôi cùng đoàn hát đã giúp khám phá được tấm lòng thương yêu
đùm bọc đồng bào của những người dân quê Tam Hiệp. Đám khán giả ít oi kia không
đòi lại tiền vì vở tuồng không trọn như những khán giả nơi khác, mà họ xúm lại
tìm cách cứu tỉnh mẹ tôi. Một người chạy vụt đi. Rồi tiếng mõ lốc cốc. Không đầy
nửa giờ sau, hầu như cả làng đều xúm tới. Một ông lang ta và một bà mụ được mời
đến. Bà mụ bắt mạch, rờ bụng và đoán chắc mẹ tôi sẽ sanh trong vòng đêm nay.

Một gia đình nông dân gần đó mời cả đoàn hát nghỉ đêm tại
nhà họ và chờ giờ mẹ tôi sanh. Đêm đó, tôi mở mắt chào đời không phải trên chiếc
xe lam như ba tôi thường nghĩ mà trong một mái nhà ấm áp. Bà mụ đã không lấy một
cắc bạc nào. Ông lang ta cắt biếu mẹ tôi hai thang thuốc cùng cho nghệ, gừng.
Sáng tinh sương hôm sau, một dân làng ghé ngang qua biếu mẹ tôi nửa chục trứng
gà. Cả ngày, hết người này đến, lại người khác đến, người cho cái áo nhỏ, kẻ
cho cái quần, kẻ cho tô cháo, trách cá kho tiêu mặn, chai nước mắm, một ít gạo
đỏ. Tôi ra đời trong hơi ấm của cả vật chất lẫn tinh thần. Mẹ tôi, ba tôi chỉ
biết rơm rớm nước mắt để cám ơn mọi người. Tối hôm đó, người cùng bác Tư, bác Bảy
hát tặng bà con cô bác xã Tam Hiệp những bài vọng cổ mùi mẫn, các điệu hát hay
khác. Mẹ tôi nhắc lại là chưa bao giờ bà nghe ba tôi cùng bác Tư, bác Bảy hát
hay như vậy.

Chúng tôi nấn ná trong làng được hơn một tháng, thì từ giã.
Giá như ba tôi và đoàn hát cứ ở lại vài tháng nữa cũng được. Nhưng ba tôi là một
người tự trọng. Ông bảo không nên lạm dụng lòng tốt của người ta quá đáng.
Nhưng lòng tốt của người dân xã Tam Hiệp quả không phải dễ quên. Đó là hành
trang tinh thần mà mọi người trong đoàn hát đã mang theo suốt chục năm trời lưu
diễn. Mỗi khi đói khó, kiếm ăn chật vật, chúng tôi lại nhớ về xã Tam Hiệp để ngầm
an ủi mình. Cái tên Hiệp dính vào đời tôi là một hãnh diện và biết ơn.

Mẹ tôi đã thổi tắt chiếc đèn dầu từ lúc nào. Tôi không biết
câu chuyện giữa ba mẹ tôi và bác Tư, bác Bảy về các xã ấp mà đoàn hát tôi sắp sửa
dọn đến ra sao, bởi đầu óc tôi cứ nghĩ mãi về cái xã Tam Hiệp tuyệt vời.

Hình như làng xóm đã ngủ yên cả. Gió thốc bốn phía vào gian
đình trống nghe lành lạnh. Những chiếc chiếu mỏng dùng làm buồng hóa trang,
thay quần áo được hạ xuống trải la liệt trên nền đất. Ba tôi nói giọng ngái ngủ
sau một cơn ngáp dài :

- Thôi đi ngủ chớ, để sáng còn dậy kịp.

Bác Tư, bác Bảy hình như cũng buồn ngủ lắm rồi. Cứ thế bác
lăn queo trên chiếu, với tay lấy chiếc rương để gối đầu. Và khi mẹ tôi đỡ tôi
lên xe lam, tôi đã nghe tiếng bác ngái rõ to như nhịp cưa gỗ.

Tôi nằm day lưng về phía lòng mẹ. Ánh sáng trăng loáng như sữa
tràn vào lòng me, nhuộm trắng cả một phần tóc mẹ. Một chéo lá dừa đung đưa cái
bóng đậm trên nền trắng đó. Tôi đưa tay nghịch với cái bóng dừa cùng bóng tay
mình, đồng thời lắng nghe những âm thanh vọng lại trong cái khoảnh khắc tịch mịch
của một đêm trăng nhà quê. Những âm thanh quen thuộc gồm hàng trăm tiếng kêu của
các loại sinh vật từ lòng đất đưa lên, trên ngọn dừa đưa xuống, và cả tít trên
bầu trời đêm thăm thẳm với hàng hà sa số ngôi sao sáng rỡ.

*

* *

Khi tôi thức giấc, thì xe đang di chuyển ra khỏi xã. Ánh nắng
ban mai làm cay nồng hai mắt. Trên đầu tôi là hai bàn chân lỏng khỏng của bác
Tư Tình đong đưa theo nhịp lúc lắc của chiếc xe. Bác Bảy ngồi cạnh tôi ngủ gà
ngủ gật. Mẹ tôi thì đang bận chuyện trò với ba tôi lái xe ở phía trước. Chiếc
xe kêu rêu từng tiếng lọc cọc xóc xách trên những mô đất gập ghềnh. Tôi kêu nhỏ
:

- Mẹ.

Bác Bảy tỉnh ngủ nhìn tôi cười :

- A, đã ngủ dậy. Chết cha, hết phần ăn sáng rồi.

Tôi nghe hết phần sáng, lòng mất vui. Lệ thường của đoàn hát
là vậy. Nồi cháo nấu buổi sáng không khi nào đủ cho mọi người. Nên kẻ nào vắng
mặt trong bữa ăn thì chắc sẽ không còn phần. Nhưng tôi thì khác chớ. Tôi có mẹ
tôi. Tôi kéo giật tà áo bà gọi nhỏ :

- Mẹ !

Mẹ tôi quay lại cười cười. Bà lấy từ trong cái bị nhỏ ra một
trái bắp nấu đã nguội, đưa cho tôi, rồi lại quay sang ba tôi nối tiếp câu chuyện
bỏ dở và chắc là quan trọng lắm.

Lúc bụng no, tôi mới bò ra gần chỗ bác Bảy ngồi để ngắm cảnh.
Con đường nhỏ men theo dòng rạch được ngăn bờ bởi những đám dừa nước lau lách rậm
rì. Bên kia là những cánh đồng lúa xanh màu. Lúa đã qua khỏi thời kỳ mạ non.
Màu xanh đậm hơn và mạnh mẽ hơn vương vương trong gió. Trời trong xanh. Xa tít
tận chân trời vẫn là màu xanh mát. Nắng sưởi làn da tôi ấm nồng lên. Những mạch
máu căng đầy. Tôi say say ngửi thở mùi hương của cây cỏ ướt đang bốc hơi trong
nắng ban mai.

- Đoàn người tưng bừng về trong cơn gió, hồn như đám mây trắng
lửng lơ, giang hồ không bờ không bến đẹp như kiếp bô hê miên.

Tiếng hát của bác Bảy vang vang từ trên trần xe, tỏa ra bừng
bừng hăng hái. Tôi bỗng nhiên hát theo, rập ràng :

- Ánh dương lên, một đoàn thanh niên, giục nhau đi từ khi nắng
sớm...

Tiếng hát to, mạnh của chúng tôi làm ngạc nhiên cả đàn bò
đang ăn cỏ bên kia đường. Chúng dừng ăn, ngẩng đầu, nghiêng một tai lắng nghe.
Một con trong đàn cất tiếng kêu theo, giọng ồm ồm. Tôi cười vang. Mẹ tôi nhìn
tôi cười :

- Cha, sáng nay cu cậu khỏi học nên cười hoài. Sướng há.

Tôi đỏ mặt nhìn mẹ :

- Con thích xe cứ đi hoài à.

- Đi hoài có mà cạp đất mà ăn. Chú mầy lãng xẹt hà.

Tôi nguýt bác Tư một cái rõ dài. Bác tưởng tôi không biết gì
hết. Nhưng mà tôi đã nói thật lòng tôi mà. Đúng vậy, tự nhiên tôi thấy thích
thú trong việc di chuyển qua những chặng đường dài. Từng làng xóm, từng con đường,
cái gì cũng mới cũng lạ, cũng gợi trong tôi óc tò mò.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.