Thất lạc cõi người - Chương 05 (phần 2)

 

“Quý khách ơi, dậy thử mà xem này”. Một buổi sáng, cô con gái
đứng ngoài đứng ngoài trà quán, cất giọng lanh lảnh gọi tôi. Tôi bất đắc
dĩ phải thức dậy, bước ra ngoài hành lang.

Cô gái nhỏ rất hưng
phấn, hai má đỏ bừng. Nàng lẳng lặng chỉ tay lên trời. Tôi thử nhìn lên.
Tuyết. Tuyết rơi trên núi Phú Sĩ. Đỉnh núi trở nên trắng tinh, sáng lấp
lánh. Tôi mới nghĩ rằng núi Phú Sĩ nhìn từ đèo Misaka cũng đâu có tệ.

“Tuyệt quá”, tôi nói.

“Chẳng
phải rất tuyệt sao?”, nàng có vẻ đắc ý, dùng ngôn từ rất trau chuốt thế
mà hỏi tôi. Ngồi xổm dưới đất, nàng tiếp tục nói “Không lẽ núi Phú Sĩ
nhìn từ đèo Misaka, vậy mà còn chưa đẹp hay sao?”

Có lẽ tại tôi thường nói với nàng là núi Phú Sĩ nhìn từ đây trông có vẻ thô tục thế nào ấy và nàng cứ mãi ấm ức trong lòng.

Tôi liền nghiêm nghị nói chữa lại “đúng là núi Phú Sĩ mà không có tuyết rơi thì vẫn thô tục đấy”.

Tôi
mặc bộ dotera đi dạo quanh sườn núi, hái đầy hai nắm tay loài hoa
nguyệt kiến thảo(13), đem về trồng ở khu vườn sau của trà quán.

13.
Nguyên văn là tsukimosou, một loài hoa nguyên gốc ở Bắc Mỹ, chiều cao
khoảng 60cm, hoa thường màu vàng. Câu nói của Dazai “Cỏ nguyệt kiến thảo
rất hợp với núi Phú Sĩ” đã thành một câu nói thời danh, được trích dẫn
lại rất nhiều lần.

“Bé này, đây là loài hoa nguyệt kiến thảo
của tôi và năm sau tôi sẽ lại đến đây ngắm hoa nên đừng có xả nước giặt
đồ vào chỗ này nhé”, nàng gật đầu.

Sở dĩ tôi chọn loài hoa này vì
nghe nói hoa nguyệt kiến thảo rất hợp với núi Phú Sĩ. Cái trà quán nơi
đèo Misaka này nằm xa xôi hút nẻo nên thư từ bưu phẩm không đến được. Từ
đỉnh đèo, lên xe buýt đi khoảng nửa tiếng sẽ đến một khu làng lạnh lẽo
dưới chân đèo đúng như tên gọi của nó là Kawaguchi (Hà u: cửa sông). Thư
từ bưu phẩm gửi cho tôi nằm trong bưu điện của làng Kawaguchi này cho
nên cứ khoảng ba ngày một lần, tôi lại phải xuống nhận lấy. Tôi thường
chọn ngày đẹp trời mà đi. Người con gái soát vé xe buýt cũng không giới
thiệu gì về phong cảnh nơi này. Tuy thế, đôi khi chợt nhớ ra, nàng cũng
thuyết minh cho chúng tôi bằng một cái giọng đọc tản văn gần như thầm
thì lơ đãng “đây là núi đỉnh đèo Mitsutoge, kia là hồ Kawaguchi, có loài
cá tên gọi là Wakasagi...”

Sau khi nhận thư từ bưu phẩm nơi bưu
điện Kawaguchi tôi lại lên xe buýt về trà quán. Trên đường về, tôi ngồi
cạnh một người phụ nữ chừng sáu mươi tuổi. Bà mặc một chiếc áo màu nâu
đậm khoác ngoài chiếc kimono. Gương mặt trắng xanh của bà giống hệt mẹ
tôi. Người con gái soát vé xe chợt nói như thể nàng vừa mới nhớ ra “Mọi
người có thấy hôm nay núi Phú Sĩ trông rất rõ không ạ?”. Lời nói chẳng
có vẻ gì là thuyết minh hay cảm thán gì cả. Mọi người khách từ người
nhân viên công ty mang cặp táp đến cô gái geisha mặc áo lụa, tóc búi cao
theo kiểu truyền thống, chiếc khăn tay điệu đàng đưa lên môi, đều khẽ
xoay người nhìn ra ngoài cửa sổ, chăm chú vào đỉnh núi hình tam giác như
thể mới thấy lần đầu, buông lời cảm thán “thế à”, “đúng nhỉ”, làm trong
xe náo động cả lên. Tuy thế, người phụ nữ ngồi kế bên tôi, dường như
đang che giấu nỗi khổ đau nào đó trong tim, không như những người khác,
bà không hề nhìn núi Phú Sĩ mà ngược lại, nhìn chăm chú vào những tảng
đá ven đường. Trông thấy bà lão như vậy, tôi cảm động muốn run lên và
cũng muốn cho bà lão ấy biết rằng tôi cũng như bà, chẳng muốn nhìn ngọn
núi Phú Sĩ thô tục ấy làm gì. Và cho dù bà không nói với tôi nhưng tôi
cũng muốn thể hiện cho bà thấy sự thông cảm của mình với nỗi khổ đau và
cô tịch của bà đang mang chịu. Và như thể muốn cho bà biết điều đó, tôi
ngồi sát lại với bà và cùng nhìn vào những tảng đá bên đường.

Bà lão dường như cảm thấy an tâm về tôi phần nào đó, đưa ngón tay thanh mảnh chỉ vào một chỗ ven đường, và chợt nói bâng quơ:

“A, cỏ nguyệt kiến thảo”

Cho
dù xe buýt đang chạy nhanh nhưng một vùng màu vàng rực của cỏ nguyệt
kiến thảo vẫn cứ mãi in sâu trong mắt tôi cho đến bây giờ.

Đối mặt
với núi Phú Sĩ với độ cao đáng nể 3778 mét, cỏ nguyệt kiến thảo đứng
thẳng hiên không một chút nào dao động, có thể nói cỏ nguyệt kiến thảo
có một sức mạnh phi thường. Quả thật, loài cỏ này rất hợp với núi Phú
Sĩ.

Tháng mười đã trôi qua mà công việc của tôi hầu như không tiến
triển được chút nào. Tôi nhớ con người. Đám mây đỏ rực buổi hoàng hôn
trông như bụng một con chim nhạn, và tôi đứng nơi hành lang lầu hai hút
thuốc một mình. Cố tình tránh nhìn núi Phú Sĩ, tôi ngưng thần nhìn chăm
chú vào những chiếc lá đỏ rừng già, rơi như những giọt máu nào nhỏ
xuống. Và tôi cất tiếng gọi bà chủ trà quán đang quét lá rụng trước sân:

“Này bà, ngày mai chắc đẹp trời đấy nhỉ”

Ngay
cả tôi cũng lấy làm ngạc nhiên trước trước câu nói gần như tiếng reo
vui của mình. Bà chủ ngừng tay chổi, ngước nhìn lên, chau đôi lông mày
như lấy làm lạ, rồi hỏi tôi:

“Ngày mai quý khách không có dự định gì à?”

Nghe vậy tôi cứng lưỡi.

“Chẳng có gì cả”

Bà chủ phá ra cười:

“Ông có vẻ buồn đấy nhỉ. Sao không leo núi mà chơi?”

“Leo
núi thì leo lên rồi phải leo xuống, chán chết. Với lại, dù leo lên núi
nào đi nữa cũng thấy một quang cảnh núi Phú Sĩ giống như nhau. Chỉ nghĩ
thế thôi là tôi đã chùn chân rồi”

Hình như lời tôi nói có vẻ kỳ lạ thì phải. Bà chủ nhà mơ hồ gật đầu rồi lại cúi xuống quét lá vàng rơi.

Trước
khi đi, tôi kéo rèm, ngắm nhìn núi Phú Sĩ qua khung cửa kính. Trong đêm
trăng, núi Phú Sĩ trắng xanh như một tinh thể nước. Tôi thở dài. À,
mình đã nhìn thấy núi Phú Sĩ. Những ngôi sao lớn lấp lánh. Ngày mai sẽ
rất đẹp trời đây. Chỉ vậy cũng là niềm vui trong những ngày sống tăm
tối. Tôi kéo rèm lại và đi ngủ. Nhưng tôi chợt thấy lạ và nghĩ rằng ngày
mai đẹp trời thì có liên quan gì đến mình đâu chứ nhỉ và tự cười khổ sở
trong chăn. Thật là khổ. Công việc của tôi thuần túy chỉ viết văn thôi.
Và dù thỉnh thoảng cũng cảm thấy niềm vui những phần lớn tôi đều thấy
chẳng sung sướng gì. Không chỉ có vậy, nói thật tình những cái gọi là
thế giới quan của tôi hay quan điểm nghệ thuật hay văn học ngày mai hay
cái mới mẻ tân kỳ đều làm tôi phân vân và rất mực khổ sở.

Tôi nghĩ
mình chỉ nắm lấy cái đơn giản, tự nhiên và cố gắng viết ra một cách rõ
ràng cô đọng ra trên mặt giấy. Chỉ có thế mà thôi. Khi nghĩ như thế, đôi
khi hình dáng núi Phú Sĩ trước mắt tôi lại mang một ý nghĩ nào khác
nữa. Hình dáng đó, biểu hiện đó có lẽ là cái đẹp “biểu hiện đơn nhất”
theo như tôi thấy. Dù có đôi lần tôi cảm thấy mình có thể hiểu được một
chút gì đó về núi Phú Sĩ nhưng có nhiều lần khi tôi lặng ngắm cái vẻ đơn
giản vô song của cái hình trụ đứng, cảm thấy quả thật ngọn núi chắc
chắn là tặng vật của Phật Di Lặc. Nhưng cái tặng vật này với vẻ biểu
hiện vô song gần như không thể nào chịu nổi của nó lại khiến tôi nghĩ
rằng có một cái gì sai lệch trong dáng vẻ núi Phú Sĩ. Và sự sai lệch này
một lần nữa làm tôi lạc lối.

Hết sáng đến chiều, tôi ngồi ngắm
núi Phú Sĩ và sống qua những tháng ngày u uất. Khoảng cuối tháng mười,
một đoàn du nữ từ phố Yoshida (hình như một năm họ chỉ có một ngày tự do
thoải mái thế này) kéo nhau lên đèo Misaka bằng năm chiếc xe hơi. Tôi
ngắm họ từ căn gác lầu hai. Từ những chiếc xe hơi, những em gái đủ sắc
màu túa ra như những chú chim bồ câu truyền thư tung bay khỏi tổ. Đầu
tiên vì chưa biết rõ đường đi lối lại, các em nép sát nhau, chen lấn
nhau trong im lặng rồi sau khi nỗi bất an về chỗ lạ biến mất đi, từng
người dáo dác tản ra theo lối rẽ. Vài em thật dịu dàng chọn những bức
tranh bưu thiếp nơi đầu trà quán, vài người chăm chú ngắm nhìn núi Phú
Sĩ. Thật là một quang cảnh tăm tối u buồn không thể nào chịu nổi. Tôi,
một người đàn ông u buồn nơi căn gác tầng hai, đồng cảm với đoàn du nữ
đến mức không tiếc thân mình lại không thể làm gì hơn cho sự sung sướng
hạnh phúc đó của họ. Tôi chỉ còn biết cách ngắm nhìn mà thôi. Đau khổ
thì vẫn cứ khổ đau, cái gì rơi rụng tàn tạ thì cũng phải tàn tạ rụng
rơi. Điều đó chẳng liên quan gì đến tôi cả. Đó là cách cách mà thế giới
này vận hành. Và việc cứ nhìn ngắm cái dáng vẻ của đoàn du nữ một cách
lạnh lùng thờ ơ như thế càng làm tôi cảm thấy khổ đau.

Đành phải
tựa nương vào núi Phú Sĩ thôi. Đột nhiên tôi chợt nghĩ ra điều đó. Này,
phải chăng núi cũng chăm lo cho đoàn du nữ? Với tâm trạng đó, tôi ngước
mắt nhìn lên ngọn núi đang đứng thẳng giữa trời lạnh giá như một ông chủ
đút tay vào túi áo dotera với dáng vẻ hiên ngang, đang cai quản thế
giới này. Khi nương tựa vào ngọn núi, tôi cảm thấy yên tâm và nhẹ lòng
hơn nhiều. Từ bỏ việc ngắm đoàn du nữ, tôi dẫn đứa bé trai mới sáu tuổi
của trà quán cùng với con chó có bộ lông mượt mà tên là Hachi đi dạo
chơi về phía đường hầm gần đèo. Nơi cửa hầm, tôi bắt gặp một du nữ thon
thả, tuổi chừng ba mươi đang mải mê hái hoa không biết chán. Khi chúng
tôi đi ngang qua, nàng vẫn mải mê hái hoa, không liếc nhìn chúng tôi lấy
một cái nào. Hãy chăm lo cho cô gái này nữa nhé, tôi ngoái lại nhìn núi
Phú Sĩ, rồi kéo tay đứa bé, đi sâu vào trong hầm. Không biết phải làm
gì, tôi cố bước những bước dài và để cho từng giọt nước lạnh trên nóc
hầm rơi xuống trên đầu trên cổ.

Vào thời điểm đó, chuyện kết hôn
của tôi bỗng nhiên bị ngưng trệ. Phía gia đình tôi ở quê hoàn toàn không
ủng hộ gì chuyện cưới xin của tôi thành ra tôi cảm thấy rất khó khăn.
Nhưng tôi cũng cứ hy vọng rằng ít ra nhà cũng gửi cho tôi khoảng 100 yên
gọi là để có thể tổ chức một đám cưới tuy nhỏ nhưng cũng đàng hoàng rồi
sau đó chuyện sinh kế gia đình thì dựa vào công việc viết lách của tôi
cũng được. Nhưng sau vài lá thư gửi gia đình, tôi biết chắc rằng sẽ
không có bất kỳ một khoản viện trợ nào cả. Và điều này làm tôi vô cùng
khó xử. Nếu vì vậy mà nhà gái cự tuyệt thông gia thì cũng đành chịu
thôi, nhưng ít nhất mình cũng phải nói rõ ràng mọi chuyện mới được. Tôi
nghĩ vậy và một mình xuống đèo, đi thăm nhà gái ở Kofu. Tôi ngồi đối
diện với bà mẹ và cô con gái nơi phòng khách và nói với họ tất cả. Đôi
khi tôi nói với hai mẹ con như thể đọc diễn văn vậy. Nhưng tôi nghĩ rằng
mình đã nói cạn lời, và rõ ràng minh bạch. Người con gái rất bình tĩnh:

“Như vậy là nhà anh phản đối đám cưới của chúng ta phải không ạ?”, nàng nghiêng đầu hỏi.

“Không,
nhà anh đâu có phản đối”, tôi nói và ấn mạnh lòng bàn tay phải xuống
bàn. “Anh nghĩ là nhà anh nói anh phải tự lo liệu mà thôi”.

“Dạ,
vậy cũng đủ rồi ạ”, mẹ nàng mỉm cười rất cao quý. “Như cậu thấy đấy, nhà
chúng tôi cũng chẳng giàu có gì. Việc tổ chức một đám cưới xa xỉ cũng
sẽ là một điều khó xử đối với gia cảnh nhà chúng tôi. Nhưng chỉ cần cậu
thật lòng thương yêu con gái chúng tôi và nghiêm túc với nghề nghiệp của
mình, đối với chúng tôi thế là quá đủ”.

Tôi quên cả việc cúi đầu
đáp lễ, cứ thừ người nhìn bâng khuâng ra ngoài vườn một lúc lâu. Tôi
thấy mắt mình cứ cay cay. Mình phải thật hiếu hạnh với bà mẹ này mới
được.

Trên đường về, người con gái đưa tôi ra tận bến xe buýt. Vừa đi, tôi vừa chợt hỏi một câu nghe kỳ kỳ:

“Sao em, chúng mình cần thời gian tìm hiểu nhau thêm không?”

“Dạ không đâu, với em như thế đã nhiều rồi ạ”, nàng cười.

“Em không có câu gì hỏi anh sao?”, tôi lại ngớ ngẩn nói.

“À, có đấy”.

Tôi nghĩ mình sẽ thành thật trả lời tất cả những câu hỏi của nàng.

“Trên núi Phú Sĩ giờ này, tuyết đã rơi chưa anh?”

Tôi hơi bất ngờ trước câu hỏi của nàng.

“À, rơi rồi, trên đỉnh ấy...”, tôi đáp lời và ngước mắt nhìn núi Phú Sĩ trước mặt. Tôi cảm thấy kỳ lạ.

“Chẳng
phải ở Kofu này cũng nhìn thấy núi Phú Sĩ hay sao? Em đùa anh đấy à?”,
rồi bỗng lỡ lời “câu hỏi gì ngu ngốc vậy. Em mang anh làm trò cười sao?”

Nàng cúi đầu cười thầm.

“Dạ, tại vì anh ở Misaka mà. Nếu không hỏi về núi Phú Sĩ em nghĩ mình sẽ thất lễ”

Thật là một cô gái kỳ lạ, tôi nghĩ.

Từ
Kofu trở về, tôi bị đau vai đến mức thở không nổi nữa. “Tuyệt thật đấy,
bà chủ à. Misaka này thật tuyệt đấy. Tôi cảm giác như mình trở về nhà
vậy”

Sau bữa tối, bà chủ nhà và cô con gái thay phiên nhau đấm bóp
lưng cho tôi. Tay bà chủ thì cứng và ấn mạnh, còn tay cô gái thì mềm,
ấn chẳng cảm thấy hiệu quả gì cả. Cứ bị tôi nói mạnh nữa lên, ấn mạnh
vào, nàng bèn lấy một thanh củi rồi cứ thế đánh thùm thụp vào vai tôi.
Đúng là nếu không làm như thế thì cơn đau sẽ không thuyên giảm, và tôi
chợt quyết tâm vào chuyện cưới xin ở Kofu.

Sau khi từ Kofu trở về,
hai ba ngày sau tôi cứ thẫn thờ, chẳng muốn làm việc, chỉ ngồi nơi bàn,
viết lảm nhảm, hút bảy tám gói Batto rồi nằm lăn ra, hát đi hát lại bài
“Kim cương cũng mài mới sáng”, cứ vạ vật như vậy, không viết được một
trang tiểu thuyết nào cả.

“Quý khách chắc có chuyện gì không vui ở Kofu à?”

Một
buổi sáng, tôi đang ngồi nơi bàn, tay chống cằm, mắt nhắm lơ mơ, đầu
nghĩ lan man thì cô con gái mười lăm tuổi, vừa lau cái tokonoma(14) nơi
góc phòng, vừa hỏi tôi với vẻ gì cay đắng chua chát.

14. Chỗ
góc lõm vào nơi bức tường, thường để treo tranh và đặt một bình hoa
trang trí thường thấy trong phòng theo kiến trúc Nhật Bản.

“Đúng vậy, thật là tệ”, tôi đáp lời mà không ngoảnh lại.


gái vẫn không ngừng tay, nói tiếp “Chà, tệ quá. Hai ba ngày nay, quý
khách như không viết được gì đúng không? Mỗi sáng cháu hay gom lại những
trang bản thảo của chú lại rồi đánh số thứ tự. Công việc đó thật vui.
Chú càng viết nhiều cháu càng vui. Chú có biếtcháu lén lên gác nhìn chú
đấy không? Lúc đó chú đã trùm chăn mà ngủ mất rồi”.

Tôi thật vui
khi nghe những lời nói đó. Có lẽ nói hơi khoa trương chứ đó thật là
những lời động viên trong sáng làm cho con người ta muốn sống hơn. Cô bé
không đòi hỏi nhận lại điều gì cả. Tôi nghĩ nàng thật đẹp.

Vào
cuối tháng mười, lá cây đều đen thẫm lại, và sau một đêm bão núi rừng đã
khoác một chiếc áo tăm tối mùa đông. Những khách tham quan chỉ lác đác
vài người. Trà quán cũng hoang vu. Đôi khi bà chủ quán dắt đứa con trai
sáu tuổi đi mua sắm đồ ở thị trấn Funatsu dưới chân đèo hay ở phố
Yoshida. Và ngày đó trên trà quán tịch liêu trên đèo này chỉ còn mình
tôi với cô gái nhỏ. Tôi ngồi thẫn thờ trên lầu hai, xuống dạo loanh
quanh nơi trà quán, rồi đến chỗ sân sau nơi cô bé đang giặt đồ mà nói
lớn tiếng:

“Thật chán quá nhỉ”, rồi cười xòa. Nàng vẫn cúi đầu.
Khi thử nhìn vào gương mặt ấy, tôi giật mình. Cô bé đang khóc. Thật là
một tình cảm đáng sợ. Tôi chợt cảm thấy đau khổ, vội đưa mắt nhìn ra con
đường nhỏ ven núi phủ đầy lá rơi và hấp tấp bước nhanh về phía ấy.

Từ
ngày đó, tôi bắt đầu cảnh giác. Hễ khi chỉ còn lại hai người trên trà
quán, tôi cố gắng ngồi yên trong phòng mình nơi lầu hai, không bước chân
ra ngoài. Khi có khách lên trà quán, tôi mới bước xuống nhà, ngồi ở một
góc quán, nhâm nhi tách trà để có thể bảo vệ cô bé. Có lần có một cô
dâu, được hai ông già mặc áo thêu tháp tùng, đi xe hơi ghé trà quán nghỉ
chân. Lúc đó, trong trà quán chỉ còn có mình cô bé. Tôi từ tầng hai
bước xuống, ngồi nơi góc trà quán, phì phèo thuốc lá. Cô dâu mặc áo
kimono kiểu susomoyou, thắt lưng obi thêu kim tuyến, thật đúng là một bộ
lễ phục chính thức đường hoàng. Không biết phải tiếp mấy vị khách kỳ lạ
này như thế nào nên cô bé sau khi châm trà cho cô dâu và hai ông già
xong, đến đứng nấp phía sau tôi mà quan sát cô dâu. Vào ngày chỉ có một
lần trong đời này, từ phía đèo này nàng về làm dâu nhà nào ở Funazu hay
Yoshida. Và trên đường đi nàng ghé vào đây nghỉ chân và ngắm nhìn núi
Phú Sĩ. Thật lãng mạn đến mức buồn cười. Lúc đó, cô dâu bước ra khỏi trà
quán, tiến đến mỏm đá phía trước quán lặng ngắm nhìn núi Phú Sĩ. Nàng
đứng bắt chéo hai chân. Thật là một tư thế can đảm. Tôi đang ngắm nhìn
cô dâu và núi Phú Sĩ với vẻ khâm phục thì bỗng nàng hướng về đỉnh núi và
hét lớn.

Sau l tôi bỗng có tiếng than khe khẽ “aya”. Cô bé ngay
lập tức nhận ra tiếng hét đó. Khi cô dâu đã chiếc xe mọi người đang chờ
và đi xuống núi, tôi mới mỉa mai.

“Nàng đã từng kết hôn. Đây chắc
là lần thứ hai hay thứ ba gì đó. Chắc hẳn chú rể đang chờ nàng dưới chân
núi. Vậy mà nàng lại cho dừng xe nơi đây và ngắm nhìn núi Phú Sĩ. Nếu
là cô gái mới làm dâu lần đầu tiên thì mặt đâu có dày quá thế”


bé cũng tán đồng. “Nàng ta đã hét lớn đấy. Miệng mở rộng như thế kia mà
hét lớn như vậy thì đúng là mặt dày. Chú đừng bao giờ lấy người con gái
như thế làm vợ nhé”

Lời nói của cô bé làm tôi đỏ mặt. Quả thật
thấy mình có lớn mà chẳng có khôn. Nhưng chuyện cưới xin của tôi cũng
dần dần trở nên tốt đẹp. Tôi đã nhờ một vị đàn anh lo liệu giùm. Lễ cưới
tổ chức tuy đơn giản mà nghiêm túc, chỉ gồm hai ba người bà con thân
cận, được tiến hành nơi nhà vị đàn anh này. Tôi cảm thấy mình hứng khởi
như tuổi thiếu niên.

Mới vào tháng 11 mà trên Misaka tiết trời đã lạnh khó mà chịu nổi. Trong trà quán đã phải dùng lò sưởi.

“Qúy
khách à, trên tầng hai lạnh lắm. Mỗi khi làm việc xin quý khách cứ
xuống làm việc bên lò sưởi này đi ạ”, bà chủ quán nói. Nhưng vì tôi
không thể viết trước mặt người lạ nên đành từ chối. Bà chủ lo lắng cho
tôi nên mới xuống thị trấn Yoshida dưới chân đèo mua thêm một cái bàn
sưởi kotatsu(15) nữa. Tôi vùi mình vào trong kotatsu nơi tầng hai, thật
sự cảm động trước tình người nơi trà quán này. Nhưng rồi tôi chợt thấy
việc suốt ngày ngắm núi Phú Sĩ đã hai phần ba tuyết phủ với những cây
khô mùa đông nơi núi đồi gần đó và chịu đựng cái lạnh cắt da cắt thịt
nơi đỉnh đèo Misaka này chẳng có ý nghĩa gì nữa và tôi quyết định hạ
sơn. Trước ngày rời đi, tôi mặc hai lớp áo dotera, ngồi nơi góc trà quán
nhâm nhi một tách trà nóng thì thấy hai người con gái mặc áo lạnh mùa
đông, dường như nhân viên đánh máy thì phải, từ phía đường hầm tiến lại.
Hai người đang cười nói thì nhìn thấy núi Phú Sĩ phủ tuyết trước mặt và
họ đứng sững lại như trời trồng. Rồi sau khi thì thầm to nhỏ với nhau
điều gì đó, cô gái đeo kính, có làn da trắng chạy đến chỗ tôi và mỉm
cười.

15. Một dạng bàn sưởi điện gắn dưới đáy bàn rồi trùm chăn phủ lên, thường được dung vào mùa đông để sưởi chân tay cho ấm.

“Xin lỗi, nhưng anh có thể chụp cho hai đứa một tấm hình không ạ?”

Tôi
không biết phải trả lời sao. Tôi không rành lắm về máy móc, lại không
có sở thích chụp hình gì cả. Mang hai lớp áo dotera, với điệu bộ lôi
thôi lếch thếch mà ngay cả người trong trà quán cũng thấy tôi có vẻ
giống sơn tặc mà lại được hai em gái xinh như mộng, chắc hẳn đến từ
Tokyo nhờ vả chuyện này thật tình tôi khổ sở phát điên. Nhưng rồi nghĩ
lại, thấy hai người này thấy bộ dạng của tôi có vẻ gì đó là chụp hình
được nên mới nhờ chăng. Vì thế, tôi làm bộ thản nhiên, đưa tay nhận lấy
chiếc máy ảnh từ tay cô gái đưa cho lại hỏi nàng về cách chụp như thế
nào rồi run run nhìn vào ống ngắm. Núi Phú Sĩ to lớn nằm giữa khung
hình, dưới chân núi là hai bông hoa nhỏ xíu thắm tươi. Hai em gái đều
mặc áo choàng màu đỏ. Họ đứng khoác tay nhau với vẻ mặt rất nghiêm
trang. Tôi buồn cười quá, tay cầm máy cứ rung rung. Cố nén cười, tôi lại
nhìn vào ống ngắm. Hai bông hoa đỏ lại càng e lệ nghiêm trang hơn. Thấy
khó lấy cảnh này quá, tôi cứ bỏ mặc họ, hướng máy về núi Phú Sĩ mà
chụp. Tạm biệt nhé, núi Phú Sĩ, Người đã chở che tôi rất nhiều. Và tôi
ấn nút.

“Đã chụp rồi đấy”

“Cám ơn anh nhiều ạ”

Hai cô
gái đồng thanh nói. Khi về đến nhà rửa hình ra chắc hai nàng sẽ ngả ngửa
người kinh ngạc. Vì trong hình chỉ thấy núi Phú Sĩ mà thôi, chứ chẳng
thấy bóng dáng mình đâu cả.

Ngày hôm sau, tôi rời đèo Misaka. Tôi
trọ lại một đêm nơi quán trọ rẻ tiền ở Kofu. Sáng hôm sau, khi đứng ở
lan can cáu bẩn nơi phòng trọ, tôi nhìn lên núi Phú Sĩ. Bị núi non trập
trùng che khuất, núi Phú Sĩ chỉ còn thấy được khoảng một phần ba, trông
như thể một cây lồng đèn Trung Hoa(16) vậy.

16. Nguyên văn “Hoozuki”. Loài cây này cao khoảng 60-70cm, lá hình elip, có trái đỏ như lồng đèn Trung Hoa.


Báo cáo nội dung xấu