Airhead 2 - chương 03
BA
tuyệt vời nhất
khi di chuyển bằng máy bay riêng là bạn không
phải có mặt tại sân bay hai tiếng trước giờ khởi hành. Bạn chỉ cần tới trước
năm phút và thậm chí còn không phải đi qua cửa an ninh. Sẽ có riêng một lối đi
đặc biệt cho xe limo của bạn phóng qua tới thẳng chân cầu thang máy bay. Tất cả
những gì bạn cần làm là: chui ra khỏi xe cùng cái túi xách (và chú chó púc,
thoải mái tự do sủa nhặng xị… bởi vì đây là máy bay riêng của bạn… hay nói đúng
hơn là của ông chủ bạn nhưng cũng như nhau cả thôi) và lên máy bay đi thẳng về
chỗ ngồi của mình. Không có ai kiểm tra vé hay chứng minh thư, hay bất cứ loại
giấy tờ tùy thân nào. Họ sẽ chỉ kính cẩn nghiêng đầu chào: “Chào buổi sáng, cô
Howard” và bưng cho bạn một ly sâm-panh (hoặc một ly nước cam vắt nếu bạn chưa
đủ tuổi uống rượu).
Chỉ khoảng năm phút sau là máy bay có thể cất
cánh. Không có tiếp viên hướng dẫn các thao tác an toàn trên máy bay. Không có
tiếng con nít quậy phá, la hét. Không có chuyện phải xếp hành dài để sử dụng
cái toa-lét bé như lỗ kim.
Thay vào đó, bạn có thể thoải mái tận hưởng
trên chiếc ghế bọc da rộng gấp đôi, gấp ba những chiếc ghế thông thường, bàn
nước bằng gỗ cao cấp lúc nào cũng được lau chùi bóng loáng, sóng Wi-Fi luôn đầy
áp 24/24 (thật là nhảm nhí khi nói rằng bạn không thể dùng Wi-Fi hay điện thoại
di động trên không. Bạn hoàn toàn có thể làm điều đó khi sử dụng hãng hàng
không Stark Air), hoa tươi được thay mới thường xuyên, mỗi ghế ngồi kế bên cửa
sổ lại được trang bị một đầu máy DVD hiệu Stark với một thư viện các đĩa phim
mới nhất cho bạn tha hồ lựa chọn.
Bất kỳ ai cũng có thể nhanh chóng thích ứng
với lối sống xa hoa như thế này. Và sẽ cảm thấy khó khăn khi phải quay lại với
các chuyên bay thương mại thông thường. Liệu mình có phải là một kẻ đạo đức giả
không khi mồm thì nói căm ghét Stark Enterprises vì những gì họ làm với mình
(và hàng ngàn hộ kinh doanh nhỏ lẻ khác, đó là còn chưa kể tới môi trường)
nhưng vẫn chọn bay máy bay tư nhân của ngài Robert Stark thay vì mua vé xếp
hàng như những người bình thường khác.
Không sai, lời nói và việc làm của mình đôi
khi toàn đi ngược lại với nhau như thế đấy.
Nhưng nếu làm vậy để mình có thể về với
Christopher – và bắt đầu một cuộc sống mới đầy hạnh phúc bên cậu ấy – sớm hơn
tám tiếng so với máy bay thông thường thì mình cũng sẵn sàng mang cái tiếng đạo
đức giả kia.
Chẳng mấy chốc bầu trời Manhattan đã hiện dần
trước mắt mình, bao trùm bởi những đám mây đen báo hiệu sắp sửa có một trận mưa
lớn. Cho dù thời tiết ở nhà có ảm đạm là vậy nhưng mình vẫn thấy háo hức và rộn
ràng hơn nhiều so với khi đáp xuống hòn đảo nhiệt đới với bãi biển cát trắng
ngày hôm qua.
Mình đang cố nghển cổ ngó ra ngoài cửa sổ xem
có nhìn thấy Công viên Quảng trường Washington và tòa nhà căn hộ nơi gia đình
mình đang sinh sống hay không thì đột nhiên nhận được tin nhắn trên cái máy
điện thoại không-phải-hiệu-Stark. Đây là tin nhắn đầu tiên mình nhận được kể từ
khi mua máy.
S.O.S, Frida viết, Gọi cho em ngay.
Mình lập tức bấm máy gọi cho Frida trước khi
kịp định thần lại xem người vừa gởi tin nhắn là ai. Bởi với cô em gái dở hơi
của mình thì khi cửa hàng Sephora hết bút kẻ mắt cũng sẽ được coi là chuyện
khẩn cấp. Lúc bấy giờ tất cả những gì mình có thể nghĩ tới là Bố. Lên cơn đau
tim. Nói gì thì nói bố cũng đã có tuổi rồi, lại phải sống xa nhà phần lớn thời
gian chỉ vì muốn theo dạy ở Yale. Chị em mình thường chỉ gặp mặt bố vào hai
ngày cuối tuần. Có lẽ ngoài mấy cái bánh Donut và cốc cà phê pha sẵn dùng cho
cả ngày trời, thì bố chẳng bao giờ ăn cái gì cho tử tế. Mình cũng chưa từng
thấy bố chơi thể thao hay ăn bất kỳ một loại hoa quả nào.
“Frida à?” – mình hỏi vội ngay khi nghe thấy
tiếng đầu kia nhấc máy. Ở trên ghế đối diện, Brandon mở trừng mắt ra nhìn mình
đầy hậm hực khi nghe thấy cái giọng khẩn trương của mình. Anh ta ngủ suốt từ
lúc máy bay cất cánh tới giờ. Hoặc cũng có thể là giả vờ ngủ. Nói chung từ sáng
ngủ dậy đã thấy anh ta giữ khoảng cách như vậy rồi. Mình nghĩ sẽ còn lâu anh ta
mới có thể quên đi được chuyện xảy ra tối hôm qua – khi mình từ chối lời đề
nghị quay lại làm bạn gái của anh ta.
Ngay khi phát hiện ra mình đang gọi điện
thoại chứ không phải nói chuyện với anh ta, Brandon lập tức nhắm chặt mắt lại.
“Chuyện gì thế?” – mình vội hỏi Frida, cố
gắng hạ thấp giọng để không làm phiền tới thiếu gia nhà Stark. “Có phải bố có
chuyện gì không? Mọi chuyện ở nhà vẫn ổn chứ?”
“Hở? Không, không phải chuyện của bố” – giọng
Frida ỉu xìu – “Và không, mọi chuyện không hề ổn tẹo nào. Là chuyện về mẹ.”.
“Mẹ làm sao?” – mình trố mắt kinh ngạc. Mẹ ư?
Trước giờ sức khỏe của mẹ vẫn thuộc vào hàng tốt nhất nhà cơ mà nhỉ? Sáng nào
mẹ cũng bơi vài vòng trong phòng tập ở trường. Ngoài sa-lát và ức gà ra mẹ
không ăn gì khác. Cái cách mẹ chăm chút cho sức khỏe một cách thái quá nhiều
lúc làm cho mình phát sợ – “Mẹ không khỏe
“Mẹ vẫn khỏe” – Frida nói – “Về thể chất. Nhưng
về tinh thần thì hơi đáng lo ngại. Mẹ đã phát hiện ra chuyện em tham gia đội cổ
vũ và giờ mẹ đang tìm mọi cách khiến em bị đá ra khỏi đội”.
Mình thả người ra sau ghế, thở phào nhẹ nhõm.
Trong vài giây mình không thể thốt nên lời. Nếu Frida có mặt ở đây chắc mình sẽ
đá cho nó vài nhát can tội nhắn tin không rõ ràng làm cho mình một phen thót cả
tim.
“Chị Emm” – Frida tiếp tục – “Chị phải ghé
qua nhà ngay và nói lý với mẹ đi. Mẹ nói em không được phép đi tham dự buổi cắm
trại của đội cổ vũ”.
“Giờ chị đang trên máy bay” – mình ngó đầu ra
ngoài cửa sổ nhìn dòng nước chảy xiết trên sông Hudson – “Chị vừa phải đi chụp
hình ở đảo Virgin, nhớ không? Vì thế không có cách nào chị có thể về qua nhà
ngay được”. Hơn nữa mình còn có chuyện quan trọng cần giải quyết, hơn là đứng
ra làm trọng tài trong cuộc tranh luận giữa mẹ và em gái.
Mặc dù khả năng Christopher quay lại tìm mình
là không cao bởi hôm nay là Chủ Nhật và công việc duy nhất trong ngày Chủ Nhật
của cậu ta là ngồi lỳ trong nhà chơi game Journeyquest hoặc tới tiệm bán game
xem có game nào mới ra không. Nhưng dù sao mình cũng sẽ ngồi chờ ở nhà, thử vận
may của mình xem sao.
“Trời, giờ mà đã lo tới buổi cắm trại là sao?
Mới đang là tháng 12… Em còn vài tháng cho tới mùa Hè năm sau để thuyết phục mẹ
cơ mà”. Và mất dần hứng thú với cái trò cổ vũ vô bổ này, thay vào đó hướng mối
quan tâm của mình tới những môn thể thao có trí tuệ hơn một chút. Mình nghĩ
trong đầu như vậy thôi nhưng không nói ra thành lời vời Frida.
“Đó là buổi cắm trại kéo dài một tuần sau đợt
nghỉ Đông, nhằm hoàn thiện các động tác và kỹ năng biểu diễn của toàn đội” –
Frida giải thích – “Ở tận Florida cơ. Mọi người trong đội đều sẽ đi. Nhưng mẹ
nói hãy bước qua xác mẹ trước đã rồi hẵng nghĩ tới chuyện tham gia”.
“Không phải chúng ta sẽ tới thăm bà vào kỳ
nghỉ Đông tới sao?” – mình giật mình hỏi lại. Đúng lúc đó con Cosabella, đã
chán ngắm cảnh từ cửa sổ phía bên mình, quyết định nhảy phóc lên lòng Brandon
đang-ngủ-say, để xem phong cảnh phía bên đó có gì hay ho hơn không. Khỏi phải
nói điều đó đã khiến cho anh ta khó chịu tới mức nào, mặc dù mình đã lập tức
quay sang thì thào câu xin lỗi với anh ta ngay rồi đấy.
Một sự lặng kéo dài từ phía đầu dây bên kia,
lâu tới mức mình cứ ngỡ điện thoại đột nhiên mất sóng rồi cơ, cho tới khi Frida
nói tiếp: “À, vâng. Đúng vậy. Nhưng trại cũng phải sau kỳ nghỉ Đông mới bắt đầu
cơ. Nên, chị…”
“Ôi xời tưởng gì…” – mình nói – “Nghe này,
chị sẽ gọi nói với mẹ một tiếng là được chứ gì. Đáng ra mẹ phải thấy vui khi
con gái mình kết thêm nhiều bạn chứ, chưa kể nhờ đó mà dáng vóc của em sẽ ngày
càng đẹp hơn, và quan trọng nhất là môn thể thao ngoại khóa này chắc chắn sẽ
làm cho học bạ của em hơn đứt bạn khác. Đấy là chị đoán thế thôi. Tất nhiên nếu
là chị thì chị vẫn thích môn bóng đá hay tennis hơn, nhưng…”
“Gọi cho mẹ không thôi chưa đủ” – Frida phũ
phàng cắt ngang lời mình – “Chị phải ghé qua nhà cơ. Mẹ cần phải nghe trực tiếp
từ chị mới đủ thuyết phục. Nếu không sẽ không đời nào mẹ chịu để em đi
đâuuuuu…”.
“Được rồi” – mình thở dài – “Chị sẽ ghé qua
sau khi về cất đồ xong, OK? Đằng nào thì chị cũng có chút quà cho mọi người nên
sẽ nhân tiện mang qua luôn” – Mấy vụ mua quà tặng cuối năm của mình giờ đã được
nâng lên một tầm cao mới bởi mình đã có tiền của rủng rỉnh thỏa sức tiêu pha.
Cảm giác mua được món quà mà mình biết bố mẹ vẫn hằng ao ước nhưng chẳng bao
giờ dám mua phải nói là không gì diễn tả nổi. Công nhận cảm giác được tặng quà
cho người khác vẫn tuyệt vời hơn rất nhiều so với khi nhận quà. Mình rất nóng
lòng muốn thấy phản ứng của Frida khi nhìn thấy cái hộp nhung màu đen nhỏ xíu
mà mình mua tặng cho con bé.
Frida chẳng hề có chút phản ứng gì khi mình
nói có quà cho mọi người. Hơi lạ, bình thường muốn bắt cho con bé ngậm miệng
lại chừng một phút thôi cũng còn khó.
Hoặc cũng có thể Frida vẫn chưa hết choáng
váng khi một đứa như mình mà cũng biết đi mua quà tặng cho người khác.
Chắc là thế rồi.
Không thấy con bé nói thêm gì nữa mình nghĩ
có lẽ máy bay đang bay vào khu vực ngoài vùng phủ sóng, nên mình quyết định cúp
máy và đi ra chỗ bạn trai cũ của Nikki Howard bế Cosabella lên.
Mặc Brandon vẫn giữ nguyên vẻ hằn học khó
chịu. Cũng khó trách, Cosabella nhà mình thực sự cần phải huấn luyện lại về
khoảng nghe lời.
Đối với Cosy, chỉ riêng việc nhịn tiểu trên
máy bay đã là một nỗ lực vượt bậc rồi nên vừa xuống khỏi máy bay là nó đã ghếch
chân lên làm một bãi ở ngay chỗ chân cầu thang. Tiếp đó, ngay khi xe limo đỗ
xịch lại trước cửa tòa nhàú Karrl chạy ra mở cửa cho mình thì Cosy đã nhanh
chóng chơi vài bãi nữa quanh mấy chậu cây trên phố 240 Trung tâm. Đúng là
ngượng không để đâu cho hết nhưng thực sự ngoài chỗ đó ra mình cũng không biết
phải cho nó đi giải quyết ở chỗ nào khác.
“Chào mừng cô đã trở về nhà, cô Howard” – chú
Karl mỉm cười nghiêng đầu chào mình. Ngoài trời gió thổi khá mạnh khiến cho bầu
không khí càng trở nên u ám và ảm đạm hơn. Thật khác hẳn so với thời tiết mát
mẻ ở đảo Virgin. Cũng không còn có cảnh cứ năm phút một lần lại có người chạy
ra hỏi xem mình có cần phục vụ thêm gì không nhưng trong khách sạn ở St. John –
“Hy vọng cô đã có một quãng thời gian vui vẻ”.
“Vâng, tuyệt lắm ạ” – mình đáp lại như một
cái máy. Bởi vẫn còn đang luống cuống trước cách xử sự siêu bất lịch sự của
Cosy, như mọi lần. Hiển nhiên chú Karl cũng nhận thấy rõ điều đó nên vội nói
ngay – “Ồ, chuyện đó cứ để tôi, cô Howard. Cô nên vào bên trong cho ấm đi. À,
tôi nghĩ cô nên biết có khách đang chờ cô trong đại sảnh đấy ạ. Tôi không dám
chắc liệu… cô có muốn gặp vị khách này không”.
Tim mình hết đập nhanh rồi lại ngừng đập mất
vài giây mặc dù mình đã tự nhủ với bản thân không thể là cậu ấy được.
Christopher không phải là người sẽ chịu ngồi chờ dưới sảnh khu căn hộ của một
cô gái đợi cô ta về nhà.
Khi mình vào đến sảnh và nhìn thấy bóng mái
tóc vàng mình không thể không mừng thầm Là cậu ấy! Ôi Chúa ơi, là cậu ấy thật
rồi!
Và rồi toàn thân mình bỗng dưng run lập cập,
không sao kiểm soát nổi.
Phản ứng đó thật khó hiểu, khi mà Christopher
và mình trước nay vẫn luôn là bạn-thân-nhất-đời của nhau. Có điểm xấu nào của
nhau mà bọn mình không biết đâu. Vậy mà tự dưng sao mình lại cảm thấy lo lắng
đến thế không biết? Hơn nữa giờ mình đang sống trong thân xác của một người
khác, và cậu ấy không hề biết điều đó, mặc dù mình đã không ít lần ám chỉ xa
gần về điều này. Christopher vẫn mải mê khóc thương cho sự ra đi của mình –
người mà cậu ấy không hề để mắt tới cho tới khi quá muộn – nên không hề nhận
thấy rằng cái chết của mình được báo chí thổi phồng lên một cách thái quá không
cần thiết.
Nhưng sao cả người mình cứ nhũn nhẽo ra thế
này?
Mình thậm chí không dám nhìn về phía đó, bởi
thú thực là mình chẳng biết phải xử lý tình huống này như thế nào nữa. Cuối
cùng mình quyết định làm theo cách Lulu vẫn dạy, giả vờ như không nhận ra có
người đang đợi mình, cứ thang máy mà thẳng tiến. Mình cố gắng ng đầu kiêu hãnh
như Nikki Howard vẫn làm, nhưng trong lòng thì như lửa đốt, chỉ chực vấp ngã
bất cứ lúc nào như Emm Watts mỗi khi gặp chuyện căng thẳng… Cho tới khi một
tiếng con trai trầm ấm vang lên: “Nikki ơi”.
Mình không muốn tỏ ra mừng rỡ. Bọn con trai
vốn ghét điều đó (theo lời Lulu, một chuyên gia về con trai và hẹn hò). Mình
cần phải để cho họ chủ động. Mình cần phải để cho họ hiểu rằng họ là người tự ý
muốn tới đây chứ không phải do mình gọi tới (mà sự thật là thế mà). Mình cần
phải…
“Nikki ơi”.
Khoan đã. Không phải là cậu ấy.
Đó không phải là giọng của Christopher.
Mình quay ngoắt đầu lại tìm kiếm. Đúng là một
anh chàng cao ráo, tóc vàng đang đứng ở sảnh đợi mình thật. Thân hình anh ta
cũng khá chuẩn, như lời Lulu miêu tả qua điện thoại. Và anh ta đang nhìn thẳng
về phía mình.
Nhưng anh ta lại mặc đồng phục hải quân.
Không đời nào có chuyện Christopher chịu gia
nhập quân đội rồi, bởi bố cậu ấy – một giáo sư chuyên ngành Khoa học chính trị
tại Đại học New York – ngay từ nhỏ đã nhồi nhét vào đầu cậu con trai tư tưởng
không tin vào các loại quan chức và quyền lực. Hơn nữa cậu ấy mới chỉ đang học
lớp 11, giống như mình, nên dù có muốn cậu ấy cũng không thể gia nhập hải quân
được.
Gương mặt của người con trai tóc vàng kia
hiện rõ vẻ mặt khó chịu cực độ…
… với mình. Bởi ngoài mình ra đâu còn ai khác
đang đứng ở sảnh đâu.
Khổ ghê, không hiểu trước đây cô nàng Nikki
đã làm chuyện gì thất thố với anh chàng tóc vàng này rồi. Trước giờ mình chưa
hề thấy anh ta.
“Ừm” – mình nhanh chóng nhấn nút gọi thang
máy – “Xin hỏi… Anh đang gọi tôi đấy à?”
Vẻ mặt khó chịu ban nãy nay đã chuyển dần
sang cấp độ căm ghét rồi. Anh ta trông chỉ tầm 20 hoặc già hơn một chút. Trên
đồng phục của anh ta mình thấy có khá nhiều huy chương. Nhưng mình còn bận
tránh ánh mắt không mấy thân thiện kia nên không kịp đọc xem mấy tấm huy chương
đó nói gì.
“Thôi ngay cái trò đó đi được rồi đấy, Nik” –
anh ta sẵng giọng, tiến thẳng về phía mình. Giọng anh ta khá trầm, nghe thoáng
qua có vẻ làân miền Nam – “Cái màn kịch mất trí nhớ kia chỉ có tác dụng với đám
bạn thời trang của em chứ không hiệu quả với anh đâu”.
Mình chớp mắt nhìn anh ta trân trối, sau đó
liếc vội ra phía cửa trước. Chú Karl vẫn đang ở bên ngoài, dọn dẹp bãi chiến
trường của Cosy – trong khi công việc chính của chú ý là ngăn chặn những vị
khách thiếu thiện chí như thế này mới phải. Phải công nhận là anh chàng tóc
vàng này không hề giống mấy gã hippie tóc đuôi ngựa vẫn thường tụ tập trước cửa
tòa nhà đòi tiền nếu không họ sẽ tới tạp chí Ngôi sao bán tin tức về cuộc tình
một đêm với mình ở Vegas hay một thành phố nào khác…
Nếu không vì mục đích giống mấy người kia thì
anh ta tới đây làm gì nhỉ?
“Xin lỗi” – mình nhẩm lại trong đầu bài diễn
văn mình vẫn thường tua đi tua lại suốt mấy tuần vừa qua mỗi khi gặp phải những
người được cho là bạn bè hay họ hàng thân thích của Nikki – “Nhưng chuyện tôi
bị mất trí nhớ là thật và rất tiếc tôi không thể nhớ ra được anh là ai. Có lẽ
anh nên tự giới thiệu về bản thân thì hơn. Tên của anh là…?”
Đôi mắt xanh biếc của anh chàng tóc vàng này
khiến mình nhớ tới ánh mắt của một ai đó, nhưng chịu không nhớ ra nổi là ai. Kiểu
mới thoáng nhìn vào sẽ cảm thấy đây là một người khó gần và khá lạnh.
“Không phải chứ” – anh ta có vẻ như sắp nổi
cáu đến nơi rồi – “Em vẫn định giả ngây giả ngô mất trí nhớ đấy à? Bộ anh là
người dễ bóp mũi đến thế sao? Nên nhớ đây là anh, chứ không phải mấy đám bạn
của em đâu”.
Cái cách anh ta nói như thể trước đây Nikki
đã từng chơi bài mất trí nhớ này với anh ta rồi thì phải. Và rõ ràng là ngay
lần đầu tiên thử sức, cô ta cũng đã bị anh ta lật tẩy.
“Tôi không hề giả ngây giả ngô gì hết” – mình
vênh mặt lên thách thức. Mặc dù mình đang nói dối rành rành ra đó. Mình không
bị mất trí nhớ, chỉ có điều mình không phải là Nikki Howard. Ngoại trừ trên
giấy tờ. “Thực sự tôi không hề biết anh là ai. Nếu anh nhất quyết không chịu
tin lời tôi thì tôi cũng đành chịu, và tốt nhất anh nên rời khỏi đây trước khi
tôi buộc phải làm cái điều mà cả tôi và anh đều sẽ hối hận”.
“Ví dụ?” – anh ta không hề chùn bước – “Gọi
cảnh sát chăng?”
Đó chính xác là điều mình đang tính kêu chú
Karl làm – mặc dù chẳng hay ho gì khi phải làm một việc như vậy với một quân
nhân Hoa Kỳ đang trong thời gian tại ngũ – nên mình im lặng không n thêm lời
nào nữa.
Anh chàng tóc vàng kia lại nheo mắt dò xét
mình thêm một lúc lâu nữa.
“Chúa ơi” – anh ta thốt lên, gương mặt lộ rõ
vẻ mệt mỏi sau cuộc đấu trí vừa rồi – “Em thực sự sẽ làm như vậy sao? Gọi cảnh
sát bắt anh sao?”
“Tôi đã nói rồi” – ơn Chúa, đúng lúc đó cửa
thang máy bật mở – “Tôi chả biết anh là ai. Giờ nếu anh không phiền thì làm ơn…
Tôi vừa đi chụp hình ở xa về, nên mệt vô cùng. Tôi còn rất nhiều đồ phải sắp
xếp…”
Trái ngược với dự đoán của mình, thay vì lặng
lẽ rút lui, anh ta tiến thẳng tới nắm tay mình thật chặt. Chặt tới nỗi cho dù
mình có vùng vẫy đến thế nào đi nữa thì cũng khó mà thoát ra nổi. Vì thế mình
chọn giải pháp đứng im, để bảo toàn cho mấy cái xương cánh tay mảnh dẻ của mình
và Nikki.
Giờ thì mình đã bắt đầu thấy sờ sợ con người
này rồi đấy. Vẫn chưa thấy bóng dáng chú Karl đâu, cả cái sảnh tầng 1 thì vắng
tanh vắng ngắt, không một bóng người. Bình thường chiều Chủ Nhật ở đây lúc nào
chẳng tấp nập người ra vào quán cà phê Starbucks dưới sảnh hoặc tới khu trung
tâm thể thao. Không dưng mà người ta chịu bỏ 10.000 đô la ra để thuê nhà tại
đây. Nhưng anh chàng quái dị tóc vàng với ánh mắt lạnh như băng, trong bộ đồng
phục hải quân này là ai?
“Anh nói thôi ngay màn kịch này đi, Nik” –
giọng anh ta cũng đanh thép không khác gì nắm tay của anh ta. Dưới chân mình,
Cosabella hình như cũng linh cảm được có chuyện chẳng lành nên bắt đầu rên ư ử
đầy lo lắng. Tất nhiên điều đó chẳng hề khiến anh chàng tóc vàng kia bận tâm –
“Em thấy ngượng khi phải thừa nhận là quen biết anh sao? Được thôi, tùy em.
Trước giờ em vẫn luôn như thế mà. Nhưng sao em nỡ đối xử với bà ấy như vậy? Đột
nhiên bà ấy biến mất như vậy mà em không hề mảy may lo lắng chút nào sao? Em
biết là anh không thể theo sát chăm sóc bà mỗi khi có nhiệm vụ dưới tàu ngầm
mà. Và giờ bà ấy đã biến mất. Không ai biết bà đã đi đâu, kể cả hai người bạn
thân nhất là cô Leanne và cô Mary Beth. Họ cũng không hề có tin tức gì của bà.
Đừng có cố tỏ ra là mình vô tội nữa đi Nik, em biết thừa bản thân cũng có một
phần trách nhiệm trong chuyện này mà.”
Cái cách anh ta nhìn mình như thể đang cố
buộc cho mình cái tội mà đến bản thân mình cũng không hiểu nổi là cái gì. Cô
Leanne? Cô Mary Beth? Mà ai đã biến mất mới được chứ? Rút cuộc nhân vật bà ấy
mà anh ta đang nhắc tới kia là ai?
Có vẻ như là một người vô cùng quan trọng với
anh ta. Quan trọng tới mức ánh mắt anh ta nhìn mình lúc này đây không cònùng
nữa, mà tràn ngập cảm xúc.
Thứ cảm xúc mà chúng ta vẫn hay gọi là sự căm
ghét.
Một sự căm ghét cực độ dành cho … mình.
“Ôiiii” – mình vội giơ cánh tay tự do còn lại
lên ngắt lời anh ta – “Anh nói chậm lại một chút được không? Tôi thề là không
hiểu anh đang nói gì. Cô Leanne là ai? Cô Mary Beth là ai? Anh là ai? Và người
phụ nữ bị mất tích anh đang nói tới là ai?”.
Câu hỏi cuối cùng của mình thật không khác gì
một cú đấm trời giáng vào giữa mặt anh ta, bởi anh ta sốc tới độ buông cả tay
mình ra, sau đó lùi lại và bước và ngây người nhìn mình trân trối, như thể đang
quan sát một sinh vật lạ mới được các nhà khoa học phát hiện gần đây.
“Bà ấy là mẹ của em” – vừa nói anh ta vừa chỉ
vào một trong mấy cái huy hiệu đính trên ngực áo, mà giờ mình mới để ý có dòng
chữ HOWARD trên đó – “Và anh là anh trai của em, Steven. Giờ thì em đã nhớ ra
anh rồi chứ, Nikki?”

