Người yêu dấu - Chương 03
nhạt hối hả bướcvào phòng ngay khi Sebastian rời đi.
Chiếc khăn trùm đầu màu trắng tinh của bà ta làm nổi bật khuôn mặt tròn xoe,
quanh đôi mắt nâu thân thiện đã xuất hiện vài nếp nhăn.
“Tôi tên là Grazide, thưa phu nhân. Tôi được phân
công làm người phục vụ cho cô.”
Juliana không quen với việc có người phục vụ cho
mình nhưng nàng vẫn mỉm cười.
Grazide bận rộn với việc tháo dỡ những cái rương của
Juliana. “Phu nhân, tôi chưa từng nhìn thấy thứ gì đẹp như thế này.” Bà ta chuyển
ngọn đèn dầu lại gần những chiếc váy trải trên giường để xem xét kĩ hơn tay nghề
thủ công làm ra những chiếc váy đó.
“Tu viện nổi tiếng về kĩ năng thêu thùa, Grazide ạ.
Tôi may mắn vì sự hào phóng mà cha tôi mang lại.”
“Tôi ước gì được một nửa tài năng này, thưa phu nhân.”
Cái nhìn của bà ta trông thật thảm não. “Nhưng tất cả chúng ta đều không thể
cùng là sơn ca, phải không ạ? Có vài người trong chúng ta phải mãi mãi là chim
sẻ.” Những lời bình luận của Grazide làm nàng mỉm cười. Tuy nhiên những hành động
tiếp theo của bà ta làm nàng bị sốc. Người đàn bà tháo lớp vải lanh buộc trên
chiếc mũ không vành của nàng và gỡ nó ra khỏi những vòng hoa cài tóc của
Juliana, sau đó cúi xuống và túm lớp vải của chiếc áo choàng của nàng và bắt đầu
kéo nó qua đầu nàng.
Những lời phản đối của Juliana không có gì hơn là một
tiếng thì thầm nhỏ, nhưng nàng giật lớp vải lại và giữ chặt lấy nó trong những
nắm tay.
Grazide nhăn nhó trong sự lúng túng. “thưa phu nhân,
cô phải thay bộ trang phục đi đường đi chứ ạ.”
“Tôi có thể tự làm được.”
“Nếu cô muốn thế, thưa phu nhân,” bà ta nói, nhưng
cùng lúc đó bà ta cầm lấy trang phục đang bị túm chặt trong tay Juliana. “Chúng
ta có thể làm cùng nhau.” Bà mỉm cười một nụ cười hân hoan và ấm áp.
Juliana cảm thấy như một chiếc lá trong cơn bão vậy.
“Chúng tôi đều đang chờ đợi cô, thưa phu nhân,” bà
nói khi kéo chiếc váy qua đầu Juliana. “Đã lâu lắm rồi từ khi lâu đài hạnh phúc
có một đôi tình nhân trẻ. Tại sao ư, lần cuối cùng là khi phu nhân của chúng
tôi còn sống và bà đã mất nhiều năm trước. Ngài John- cha của đức ngài - đã già
khi ông ra đi 5 năm trước.”
Chiếc váy đã tháo ra được đặt cẩn thận lên giường.
“Langlinais là một nơi đẹp tuyệt vời, thưa phu nhân. Tôi đảm bảo cô sẽ thích sống
ở đây. Tại sao ư, ông chủ của chúng tôi là người đốc công tốt bụng và rộng rãi
nhất. Con trai của tôi cũng được ban cho một công việc và hiện đang là thợ mộc
của lâu đài.” Bà ta chỉ ngừng nói một chút để hỏi Juliana thích mặc bộ váy nào
hơn.
Juliana chỉ cho bà ta.
“Và lễ chúc mừng.” Grazide vung vẩy trong không khí.
“Trời, mọi người đều được mời tham dự. Tất cả 50 người giúp việc trong lâu đài.
Có cả những người hát rong và nhạc sĩ, thưa phu nhân, và một bữa tiệc cạnh
tranh với bất kì bữa tiệc nào khác vào thời của ngài John. Ôi, những ngày đó thật
tuyệt, phu nhân Juliana. Chúng tôi đã làm lễ chúc mừng trong hầu hết các dịp. Lớn
nhất là khi Ngài John phong tước hiệu hiệp sĩ cho hai người con trai.” Bà ta thở
dài, đặt hai tay lên hông, và nhìn vào khoảng không như thể để xác nhận lại sự
kiện lớn đó.
Sự im lặng đó không kéo dài lâu.
“Nhưng tôi e rằng những ngày đó đã qua rồi. Ông chủ
không còn khuyến khích khách đến với Langlinais nữa. Ngài ấy giữ nó cho mình.
Nhưng cô vẫn có thể luôn tìm thấy ngài trên đỉnh tháp phía đông, đang quan sát
chúng tôi.” Bà ta mỉm cười và lắc đầu.
Cuối cùng khi Grazide giúp nàng chui vào trong chiếc
váy sạch sẽ Juliana thấy hết sức ngượng. Bộ váy mát lạnh trên làn da nóng rực của
nàng. Nàng chưa từng ở trần trước người khác từ khi nàng được 5 tuổi và được mẹ
nàng chăm sóc.
“Không có gì xảy ra ở Langlinais mà ngài ấy không biết,
từ số những con gà mái đang nằm ổ đến những mái nhà cần lợp lại. Nhưng, ngài vốn
luôn như vậy, thưa phu nhân, quan tâm đến những người của ngài. À, ít nhất là
như thế khi ngài thôi cư xử ngông cuồng. Họ rẩt thân thiết, ngài và em trai.
Không ai bị gửi đi làm con nuôi, không nghi ngờ gì bởi vì đã có quá nhiều đứa
trẻ bị chết trước khi hai người họ ra đời.” Grazide thở dài. “Cha họ đã dạy họ
trở thành những hiệp sĩ và đã có rất nhiều cô gái khi đó tìm đủ mọi lí do để đến
gần khi họ đang luyện tập.”
Grazide đặt một cái vòng lên tóc nàng, bước lùi lại
để chiêm ngưỡng thành quả của bà ta.
“Nhưng bây giờ cô đã đến Langlinais, thưa phu nhân.
Tôi nghĩ, đôi khi, ngài ấy quá nghiêm nghị. Một cô dâu mới đúng là thứ ngài ấy
cần. Tôi biết nghe có vẻ kì lạ, phu nhân ơi, nhưng có thể ngài ấy quá mộ đạo.
Chúng tôi hiếm khi gặp ngài, khác với việc nhìn thấy ngài trên ngọn tháp. Nhưng
tôi biết ngài sử dụng phần lớn thời gian trong nhà nguyện.”
Sự đồng tình, trong một thoáng, làm ngực Juliana nặng
như chì. Vậy anh ta đã nói dối sao? Có thật anh ta không phải là một kẻ cuồng
tín.
Nàng đứng dậy, để cho Grazide buộc cái áo choàng
không tay qua vai nàng. Những bông hoa màu vàng và đỏ tươi thêu trên đó chắc chắn
giúp cho chiếc áo có thể dựng lên mà không cần hỗ trợ.
“Cô trông như một nàng công chúa vậy, thưa phu
nhân.” Grazide nói. Bà ta mỉm cười với nàng, rõ ràng là rất hài lòng.
Thoáng một cái, Grazide rời đi, và căn phòng trở nên
quá tĩnh lặng. Juliana ngồi lên chiếc ghế dài đặt trước cửa sổ, chiếc áo choàng
cuộn lên khi nàng ngồi xuống.
Nàng đã được phục sức cho lễ ăn mừng đang được tổ chức
bên dưới phòng ăn lớn. Ở đó, vị lãnh chúa và người vợ mới sẽ nhận lời chúc mừng
từ các nông nô, các hiệp sĩ của lâu đài, các vị khách và những người quyền cao
chức trọng được mời tới một dịp quan trọng như thế này. Liệu anh ta có tới đón
nàng không? Hay anh ta sẽ đợi cho đến khi sự vắng mặt của họ làm cho những lời
phỏng đoán lan rộng hơn? Những bản balát đầy sức sống về Sebastian của
Langlinais và sự nôn nóng của anh ta sẽ được cất lên để làm tăng tính hợp pháp
cho hôn lễ của anh ta chứ?
Juliana nhìn về phía chiếc giường. Lí do mà chồng
nàng không muốn lên giường cùng nàng là gì?
Bây giờ đây, nàng ước rằng nàng chưa bao giờ đọc Ars
Amatoria của Ovid. Nàng đã tự bào chữa nó là để chuẩn bị cho đêm tân hôn của
nàng. Thay vì thế, bài thơ về nghệ thuật ái tình chỉ càng làm nàng thêm tò mò.
Vì vậy, tác phẩm thi ca cổ mà nàng đọc và làm nàng kinh ngạc, với những lời lẽ
vẫn có thể khuấy động cảm xúc thậm chí sau nhiều năm tháng như vậy.
Thuật yêu đương (Ars Amatoria) là bộ sách gồm ba cuốn
viết theo thể văn vần, của nhà thơ La Mã danh tiếng tên đầy đủ là Publius
Ovidius Naso, nhưng phương Tây thường gọi tắt là Ovid. Hai cuốn đầu (viết trong
khoảng năm 1 trước Công nguyên tới năm 1 đầu Công nguyên) chủ yếu bàn về nghệ
thuật quyến rũ, cám dỗ, chinh phục phụ nữ, giữ chân người tình để họ khỏi bỏ
rơi đàn ông. Cuốn thứ ba nhằm hướng dẫn phụ nữ cách quyến rũ đàn ông sao cho hiệu
quả nhất.
Đến với em, người yêu dấu, và hãy ban cho em một nụ
cười. Để vẻ ngọt ngào quay về trên đôi môi anh. Hãy cầm bàn tay em đặt lên ngực
anh để em có thể cảm nhận được sự sống của anh, và khát khao cùng với nó.
Ngọn đèn dầu yếu dần trong đêm. Nàng bước lại bên cửa
sổ, nhìn xuống khu vườn. Một ngọn đuốc đựợc cắm lên giá soi sáng con đuờng bộ.
Ánh sáng và âm nhạc, cùng với tiếng cười thoáng qua và màn đêm đang đón chào những
người tham dự cuộc vui.
Có mùi vị của nỗi cô đơn mà nàng không hề mong đợi.
Thứ gì đó trong thoả thuận lạ lùng này mà nàng đã không làm sao nghĩ ra được.
Sẽ dễ dàng hơn rất nhiều nếu nàng chỉ việc quay về
tu viện. Tại đó, nàng sẽ được phép dùng phòng viết một giờ mỗi ngày, và dù rất
hiếm nhưng trong những dịp đặc biệt nàng có thể dụ dỗ bà tu viện trưởng chơi một
ván cờ. Trong tu viện, không cần đến sự có mặt của đàn ông. Phụ nữ không quan
tâm đến tình yêu. Hay là có cảm giác lo sợ với lời đề nghị bí ẩn.
Sẽ khá hợp lý nếu nàng tiếp tục ngồi một mình trong
đêm và suy ngẫm về tương lai. Nhưng nàng là Juliana Chuột nhắt, luôn bị bóng tối
làm cho kinh hãi. Nàng quay lại với chiếc ghế dài và ước gì ngọn đèn dầu sáng
hơn.
Sebastian quỳ trong Nhà nguyện. Một ngọn nến lẻ loi
trên bàn thờ đá toả ánh sáng dịu dàng lên hình dáng của chàng. Đầu chàng cúi thấp,
trán tì lên thanh chắn bằng gỗ bao quanh thánh đường. Hai cánh tay chàng giang
rộng, hai bàn tay ghì chặt lấy lớp gỗ thô cứng. Bộ áo choàng tu sĩ màu đen đan
bằng len thô của chàng dài qua cả cổ tay và loà xoà trên mặt sàn đá.
Sau lưng chàng khu nhà nguyện đơn sơ hoàn toàn trống
trải và im ắng. Tiếng cười đùa vọng lại đằng sau cánh cửa khung sắt quả thật là
sự trớ trêu đáng mỉa mai nhất. Một buổi lễ chúc mừng ca ngợi cuộc hôn nhân của
vị lãnh chúa vùng Langlinais. Nhưng họ sẽ không bao giờ kết hợp thật sự với
nhau.
Thanh gỗ hằn sâu vào trán chàng, những giằm gỗ cứa
vào da chàng. “Lạy chúa,” chàng nói. Không có gì đáp lại chàng. Không hề có động
tĩnh gì xảy ra. Chúa vẫn làm thinh. Cả đến những tạo vật của ngài cũng vậy. Những
con cú làm tổ gần đó tở ra trang nghiêm và im hơi lặng tiếng. Nếu có một con
chuột đào hang trong nhà nguyện của Langlinais thì sự hiện diện của nó cũng
không được để ý tới.
Chiếc mũ trùm ngả xuống trên vai chàng, khuôn mặt
chàng để lộ ra. Chỉ có bóng tối, thâm trầm và an ủi, bảo vệ chàng khỏi những
đôi mắt tò mò. Chàng lại cúi đầu xuống, hạ mình một cách miễn cưỡng không phải
vì sự trung thành hay lòng mộ đạo mà bởi một nỗi chán chường không thể diễn tả
bằng lời và sâu thẳm như bầu trời đêm.
Chàng nên cầu nguyện vì lí do gì đây? Xin tha thứ
cho tội sát nhân, thậm chí nhân danh lòng trung thành ư? cho những tội lỗi gây
ra cảnh đổ máu? Hay vì đã thật sự thích thú với những cảnh đó? Có lẽ chàng nên
cầu xin cái chết, sự lãng quên đến nhanh chóng và ngay lập tức. Một sự kết thúc
mau lẹ, như những cái chết mà chàng đã chững kiến trên chiến trường. Thế này chả
là gì so với chiến tranh, không phải sao? Một cuộc chiến đơn độc, với Thần chết
một bên và chàng ở phía đối diện, những đối thủ không cân sức mà kết quả là hiển
nhiên. Chàng đã từng luôn có thể nắm giữ sức mạnh của thần chết trong tay. Với
mỗi ngày trôi qua, khoảng cách càng rút ngắn trong gang tấc, cho đến một buổi
sáng chàng và Tử thần sẽ đững mũi chạm mũi và Sebastian sẽ hít được cả hơi thở
hư vô của chính chàng.
Nhưng chàng không mong nhìn thấy những kẻ thù cũ của
chàng nhỏ nước mắt khóc thương hay khoái trí trước vẻ bề ngoài của chàng. Chàng
đã cưỡi ngựa xông thẳng vào chiến trường mà không hề có một khoảnh khắc thấy sợ
hãi. Chàng đã đứng lên với thanh gươm giơ cao bằng cả hai tay và dự kiến khi
nào thì phải đưa ra những nhát chém chí tử. Đó là cách chết mà chàng ưa thích.
Không phải theo cách này.
“Xin Chúa.” Một lời cầu xin khẩn thiết từ trong yết
hầu.
Hai nắm tay siết chặt thanh chắn thánh đường, đầu
chàng cúi gằm trong lời thỉnh cầu. Chàng không phải loại người tử vì đạo, không
hề tin tưởng vào sự cứu rỗi linh hồn. Đúng vậy, không phải vì sự cứu rỗi cho
linh hồn mà chàng có mặt ở đây? Chàng không còn gì ngoài một cái xác không hồn.
Chàng có thể tự sát bằng chính thanh gươm của chàng hoặc đơn giản hơn là lao xuống
biển, bộ áo giáp của chàng sẽ kéo chàng chìm sâu xuống. Chàng có thể sử dụng những
cây nấm độc hay hàng trăm cách thức khác hứa hẹn những giấc mơ ngọt ngào mà
không bao giờ phải thức tỉnh. Hay tự ném mình xuống từ trên ngọn tháp phía đông
với những tiếng gào thét và nguyền rủa.
Đã quá muộn để hối tiếc vì chàng đã không làm như thế.
Quá muộn để ước mong chàng chưa bao giờ nhìn thấy vợ chàng. Nhìn thấy Juliana.
Chàng bắt chéo hai cánh tay và gục mặt lên đó. Lớp vải
len chà xát vào má chàng.
Những cảm xúc. Chàng sẽ đánh mất điều đó. Ngày tháng
của chàng bây giờ đang được đo đếm, cẩn thận đánh dấu với sự mất đi của cảm
xúc. Mỗi sáng chàng thức dậy và tự kiểm tra lại mình, vuốt một ngón tay lên tấm
ga trải giường để đảm bảo rằng chàng vẫn còn xúc giác. Một ngày nào đó chàng sẽ
bắt đầu nhận thấy sự khác biệt. Ngày đó chàng sẽ rời bỏ thế giới mà chàng đang
sống. Chỉ một vài năm sau thôi, người ta sẽ loan báo tin chàng đã chết. Một cái
chết bí ẩn, một cái chết mà sẽ để lại Juliana được bảo vệ khỏi những tin đồn bẩn
thỉu có thể làm tổn hại tương lai của nàng. Một goá phụ còn trinh trắng.
“Lạy Chúa,” chàng nói một lần nữa, và lần này lời cầu
nguyện không phải cho chàng, mà cho lợi ích của người con gái mà chàng đã triệu
tới bên chàng. Chàng ước mong cho nàng được che chắn khỏi chàng, được bảo vệ khỏi
sức mạnh của quân Templar, tránh xa khỏi những nguy hiểm.
Đó là một lời cầu xin dễ đáp ứng, so với những lời cầu
xin lớn hơn của chàng.

