Nỗi buồn chiến tranh - Chương 08

 

NHIỀU THÁNG VÀ Có LẼ NHIỀU NĂM ĐÃ TRÔI qua. Từng đêm lần hồi,
cần mẫn và do dự, bản thảo tiểu thuyết của Kiên đầy dần lên và dần đến
đoạn kết, song đồng thời cũng như thể mỗi ngày một thêm dang dở. Những
chương sau là những điệp khúc của các chương trước. Những khung cảnh và
những tình tiết đã có tự phần đầu rốt cuộc lại đang chờ Kiên ở phần
chót. Tuy nhiên ấy là bởi dòng trôi của tiểu thuyết này nó như thế, tự
nó chứ không phải tự Kiên. Tác phẩm tự nó cấu trúc nên thời gian của nó,
tự định hướng, chọn luồng và tự chọn lấy một bến bờ. Còn Kiên anh chỉ
là người viết, bền bỉ và lặng lẽ hòa nhập thân phận mình vào cộng đồng
số phận các nhân vật. Nói chung anh hết sức thụ động, hầu như trở thành
bất khả tri trước các trang viết của chính mình. Mạch truyện nó thế nào
thì buông thẻo như thế, anh như hoàn toàn cam chịu cái lô giốc bí ẩn của
trí nhớ và trí tưởng tượng.

Bắt đầu vào tiểu thuyết, ánh đuốc
'hồi ức đã đưa Kiên lạc sâu trong mê cung, vòng vo trong muôn ngóc ngách
rồi lại dẫn anh về với những rừng rậm hoang vu của thì quá khứ. Lại
sông Sa Thầy, đèo Thăng Thiên, truông Gọi Hồn, hồ Cá Sấu... những địa
danh tù mù như tên tuổi sông núi của cõi âm. Rồi lại cuộc đời chiến đấu
của trung đội trinh sát với những khúc buồn vui tình đồng đội, những
thống khổ thời trận mạc hòa cùng bao lạc thú tuổi trẻ. Và theo dòng tiềm
thức con đường của tiểu thuyết lại nhập vào với chặng đường hành hương
sau chiến tranh của đội thu nhặt hài cốt tử sĩ, chặng đường xa nối những
nấm mồ bộ đội tản mát vương rắc trên hầu hết khắp liền non cao Cánh Bắc
Tây Nguyên. Quá trình tập hợp lại những nhân vật đã chết làm nên cuộc
sống của từng trang bản thảo. Có thể nói không khí truyện của Kiên là
bầu không khí của những khu rừng tăm tối, ngùn ngụt tử khí và lam
chướng, mờ mịt bóng yêu tà. Những di vật và những bộ xương mủn nát được
vớt lên từ đáy những rừng cây ấy.

Cũng từ bóng tối của rừng sinh
ra những huyền thoại, những truyền thuyết về cuộc đời của những người
lính thường, những người làm nên thi hứng, làm nên cốt truyện, cho Kiên
giọng văn, nhịp điệu câu chữ và cả nhịp sống của từng từ. Có thể thấy
trước là chẳng mấy người trong số các nhân vật của cuốn tiểu thuyết được
như Kiên sống đến ngày thắng lợi. Ngay từ đầu họ đã phải hành động
quyết liệt để không lập tức bị nhận chìm tăm tích vào những huống cảnh
chiến trận kinh hoàng, những cảnh huống mà cầu trời cho đừng bao giờ có
ai đó trên đời này lại một lần nữa phải lâm vào. Họ bị cái chết rình
rập, săn đuổi, xô dồn vào thế mất còn chỉ trong nháy mắt và trong tấc
gang. Họ bị giết từng người một hoặc là hàng loạt, bị bắn gục tại chỗ
hay bị thương mất máu chết dần, chưa kể tới bao nhiêu kiểu đọa đày khác,
chưa kể những cơn ác mộng hủy diệt tâm hồn và lột trần nhân tính.


lẽ rất ít người cầm bút đương thời nào chứng kiến nhiều cái chết và
thấy phải nhiều xác chết đến như Kiên. Vì thế sách anh đầy rẫy tử thi.
Những xâu lính Mỹ trẻ măng mình mẩy không chút sây sát, ngồi ngả đẩu vào
vai nhau thiu thiu giấc ngủ ngàn năm dưới những ngách hầm ngầm bị tống
thủ pháo. Những lính dù trang phục vằn vện nằm phơi nắng trong các lùm
bụi lúp xúp ven rừng Kờ Leng, thản nhiên trương phình lên, thản nhiên
chịu đựng lũ ruồi, bầy dòi và mùi da thịt khắm lặm của mình. Và ai đã
đọc Kiên thì đều có dịp hình dung những trận mưa cẳng chân, bàn tay rơi
lịch bịch lẹt bẹt xuống đồng cỏ voi bên bờ sông Sa Thầy vào lúc rạng mơ
sau suốt một đêm B52 liên tục chần. có thể tận mắt ngắm sườn đồi Xáo
Thịt sau ba ngày huyết chiến nom y hệt một mái nhà lợp bằng thây người.
Có thể thậm chí giật bắn mình khi thấy một người lính nọ đạp phải mìn
nhảy cẫng lên ngọn cây như được chắp cánh... Những cái chết "của Kiên"
đa dạng, nhiều màu vẻ, giàu sắc khí và sinh động hơn người. Anh như thể
là một người lính không còn sống từ trong lòng đất và từ trong các giấc
mơ lên tiếng kể cho ta nghe về sự sống chết; kể về phút lìa đời và thậm
chí kể về cuộc đời sau khi đã bị giết.

- Các bạn hãy tin tôi:
trong lòng cái chết không phải là địa ngục khủng khiếp - một linh hồn
trong truyện đã nói như thế với những người sống - Trong lòng cái chết
vẫn là cuộc sống, dĩ nhiên là một kiểu khác của cuộc sống kia. Trong
lòng cái chết ta có được sự bình yên, sự thanh thoát và tự do chân
chính. . .

Đối với Kiên thì người chết vừa mơ hồ vừa sâu xa hơn
người sống. Họ cô đơn, trầm lắng và kỳ diệu, như ảo ảnh. Và đôi khi
hương hồn người chết trận hóa thành những âm thanh chứ không phải là
những hình bóng. Bản thân Kiên thì chưa từng nhưng anh em khác trong đội
hài cốt thì đã từng nghe thấy người chết đàn và hát. Chuyện xảy ra ở
chân đèo Thăng Thiên họ bảo thế... Khi bóng tối vùi kín rừng cây trong
hẻm núi thì từ đáy rừng phủ lá mục tiếng hát thì thào dâng lên, có cả
tiếng đàn ghi-ta hòa theo nữa hoàn toàn hư, hoàn toàn thực "... Năm
tháng vinh quang khổ đau bất tận...", lời và giai điệu bài ca vô danh ấy
giản dị và huyền bí nên mỗi người nghe ra mỗi khác, song không ai là
không nghe thấy. Cuối cùng, sau mấy đêm lắng nghe người ta đã định vị
được chỗ đất có hồn' người. Trong tấm tăng bó xác xương cốt đã hóa mùn
cả, riêng cây đàn ghi ta tự tạo của người chết thì còn nguyên vẹn.

Chẳng
biết có phải là do hư cấu thêm không mà người ta kể rằng khi vốc xương
mủn và cây đàn vừa được đưa lên từ đáy huyệt thì tất cả những ai có mặt
đều nghe thấy vang lên trong lòng rừng những âm điệu bi tráng của bài ca
ấy. Sau đó thì vĩnh viễn tắt bặt. Bài ca chắc là đã mãi mãi lìa bỏ khu
rừng.

Tất nhiên đấy là một huyền thoại. Hình như có bao nhiêu nấm
mồ vô danh và bộ xương đã mất lai lịch thì có bấy nhiêu huyền thoại cùng
với hằng hà dị bản hợp lại thành kho tàng những truyện truyền kỳ về sự
nghiệp thiêng liêng đau khổ của người lính chống Mỹ, một sự nghiệp vừa
được ghi nhớ vĩnh hằng vừa không ngừng bị lãng quên.

Kiên nhớ: ở
thung lũng Mo Rai bên bờ sông Sa Thầy một hôm tổ của anh đào trúng một
ngôi mộ kết. MỘ nổi lên như một đụn mối lớn trên vuông đất cao gần dốc
bờ sông. Chỗ này ngay giữa mùa mưa lũ cũng không bị ngập. Thế nhưng thật
khó lòng mà hiểu nổi nguyên nhân vì sao mặc dù chẳng trong quan ngoài
quách, chẳng ướp thuốc tẩm dầu, thi thể người chết lại sống như thế. Nằm
trong một cái túi nilông dày giống bao đựng xác của quân Mỹ nhưng trong
suốt, người chiến sĩ như là vẫn còn đang thở, mắt nhắm lại ngủ say,
khuôn mặt đẹp đẽ trẻ trung vẻ trang nghiêm trầm mặc, da thịt tuồng như
còn ấm, bộ đồ tô châu thậm chí còn nguyên độ bóng và nếp là. Nhưng chỉ
phút chốc cái túi đã đục trắng, mù mịt như dây khói, rồi sau đó như chói
lên một đạo hào quang và một cái gì đấy vô hình đã siêu thoát. Màu
trắng đục tan nhanh, cái túi xẹp xuống và trong đó bày ra trọn vẹn một
bộ hài cốt màu vàng sạm. Kiên và mọi người sững lặng, xúc động đến bàng
hoàng. Không ai bảo ai tất cả đều quỳ xuống, đưa cao tay lên với theo
bóng hồn thiêng liêng người đồng đội đã về thần. Đúng lúc bấy giờ trên
vòm trời bao la, cuồn cuộn gió mây miền cánh Bắc, một đàn thiên đường
cánh đen vừa từ hướng biển lên, đội hình chữ V đều tăm tắp, nhịp nhàng
vỗ cánh, thong thả và trang trọng bay vượt qua miền núi non trùng điệp.

- Nhưng mà nếu không lần ra được tên tuổi của họ thì cuộc đời chúng ta sẽ mãi mãi bị cái chết của họ đè nặng.

Đội
trưởng thu nhặt hài cốt của sư đoàn, một trợ lý chính sách đã lâu niên,
trọn cả binh nghiệp chôn chặt vào độc một nhiệm vụ lo khâm liệm và mai
táng, vẫn thường nói thế như là đưa ra một lời nguyền cho anh em trong
đội.

Nhưng chẳng cần đến lời nguyền ấy thì cũng như Kiên hầu hết
anh em ở đội hài cất đã ra khỏi chiến tranh với một tâm hồn tràn ngập
bóng tối tang thương, oan khốc của bao nhiêu là cuộc đời còn hoặc đã mất
sạch tên tuổi.

"- Tên tuổi anh ta tôi không biết, chỉ biết anh ta
là lính của liên đoàn 6 biệt động quân; người Nam hay Bắc hay Trung
cũng chả biết vì anh ta chỉ rên, rên thì dân xứ nào cũng một giọng như
nhau. Tay Phán, một trinh sát của trung .đoàn 24, quê ở Hải Phòng, kể
cho Kiên nghe - Bấy giờ là cuối mùa mưa đầu mùa khô năm 69, một mùa mưa
ra sao chả cần phải nói, anh cũng biết rồi đấy. Đại đội của anh ta và
đại đội của tôi sống mái với nhau một trận mưa hòa máu ở đầu lối lên đèo
Thăng Thiên. Chẳng thắng chẳng thua, cả hai đều tan nát nhừ tử. Và bất
chấp trong tầm pháo có cả đồng minh, tụi Mỹ từ trên đèo nã đại bác xuống
suốt hai giờ liên tục. Ngớt pháo, Con ma ào tới bỏ bom. Tôi nhào vào
một hố 155, kịp thoát lượt bom phát quang. Rồi bom bi nổ xay nổ nghiến.
Tôi nằm chết dí. Và chính lúc đó thì anh ta lộn sấp xuống uỵch đè lên
tôi như súc gỗ. Điên lên vì sợ tôi rút dao thí liền hai nhát vào ngực áo
rằn ri, vào bụng một nhát nữa, rồi vào cổ. Anh ta kêu ằng ặc, giãy đành
đạch, mắt trợn lên. Bấy giờ tôi mới biết là anh ta bị thương từ trước
lúc ăn dao. Mảnh bom chém lìa một bàn chân, người đầm đìa máu, miệng anh
cũng ứa máu, hai tay run bần bật ôm lấy chỗ ruột đang phòi ra nghi ngút
hơi nóng. Tôi chẳng biết làm thế nào, nom khủng khiếp quá và thương tâm
quá. Tôi nhét ruột vào bụng cho anh ta, rồi xé áo để băng. Nhưng toàn
những vết thương tàn bạo. Máu chẳng cầm được bao nhiêu. Phải nói là anh
ta khỏe như voi, người khác thì hết ngáp rồi nhưng anh ta càng lúc càng
to miệng rên rỉ, nước mắt tuôn ròng ròng. Tôi run sợ đến thấu tim, và
xót thương nữa. Khi đó trận oanh tạc đã dứt. Không còn tiếng súng cá
nhân, chỉ còn tiếng mưa mỗi lúc một mau "- Mày nằm đây một lát nhé" -
Tôi lay vai anh ta bảo - "Tao lên tìm ít vải và bông băng. Sẽ quay lại
ngay". Anh ta ngừng rên và chớp chớp mắt nhìn tôi, mặt ướt ròng ròng
nước mưa, nước mắt với máu, tôi leo lên khỏi hố. Khu rừng nát bét. Ta
địch đều đã dạt ra khỏi vùng bị bắn phá. Tìm quanh tìm quẩn mãi, tôi
nhặt được một túi cứu thương còn đầy bông băng. Lập tức quay trở lại với
anh ta... Nhưng, tôi ngu quá! - Phát rên lên. Lắc đầu. Im lặng một lúc
rồi lại rầu rĩ kể - Tôi ngu quá? Trời đã tối sập. Mưa lụt trời. Rừng thì
sụp đổ, ngổn ngang cây cối bị đốn hạ và đáy rừng tanh bành hàng trăm hố
bom, hố pháo. Cái hố của tôi với thằng ngụy ở dưới đó đâu rồi? Trời thì
mưa kinh khủng là mưa. Nước tràn từ núi xuống réo oà ồ. Rừng tối đen
lại rất mau. Ngụy ơi! Ngụy ơi! - Tôi gọi, lồng lên chạy tìm cuống quít.
Ngã òm xuống một hố, thấy rằng nước đã qua đầu gối, nghĩa là nếu ngồi
thì ngập ngực... Mưa ngất trời. Nghĩ đến cảnh ngộ của anh ta lòng tôi
đau đớn cuồng thắt. Suốt đêm tôi mò mẫm lăn lộn lần tìm. Càng lúc càng
hụt hơi, kiệt sức, bất lực. Sáng ra, mưa có phần ngớt, những cảnh tượng
bày ra trước mắt làm tôi sầm tối mặt mày. Tất cả các hố bom, hố pháo đều
là những huyệt nước đầy phè. Kinh hoàng, tôi lao đầu chạy, có nhẽ khi
ấy tôi đã phát rồ. Cứ tưởng tượng cái chết từ từ man rợ không kém cái
chết của người bị sa hố lầy đã đến với anh ta: nước ngập bụng dâng lên
vai, tới cổ, chấm cằm, chạm vành môi, rồi nhân trung, kề ngang hai lỗ
mũi... Và bắt đầu sặc. Anh ta hẳn là hy vọng kinh khủng tôi sẽ hiện lên ở
giây chót... Nhưng thậm chí. . . Và rốt cuộc thì anh ta đã ngồi chết
như thế ở cái hố nào? Bao năm qua, cứ nhìn cảnh mưa lũ là tim tôi lại
như bị thọc dùi. Tôi nhớ tới con người ấy, nhớ tới sự ngu ngốc bạo tàn
của tôi. Thà rằng tôi giết phứt ngay anh ta. Đằng này. . . là người thì
không ai đáng phải chịu một nhục hình như tôi đã bắt anh ta phải chịu'.

Không
biết rằng đến nay, sau bấy nhiêu năm sống bình yên, lòng Phán đã nguôi
được hay chưa nỗi dằn vặt? Cái người ngồi chết trong hố nước có còn ngoi
ngóp nổi lên trong tâm trí anh không? - Kiên vẫn thường hỏi vậy như là
tự hỏi mình.

Nỗi buồn chiến tranh trong lòng người lính có cái gì
tựa như nỗi buồn của tình yêu, như nỗi nhớ nhung quê nhà, như biển sầu
lúc chiều buông trên bến sông bát ngát. Nghĩa là buồn, là nhớ, là niềm
đau êm dịu, có thể làm cho người ta bay bổng lên trong thời gian quá
khứ, tuy nhiên với điều kiện không được dừng nỗi buồn chiến trận lại ở
cụ thể một điểm nào, một sự việc nào, một con người nào, bởi vì khi dừng
phắt lại thì không còn là nỗi buồn nữa mà là sự xé đau trong lòng, và
nhất là đừng có nhớ chạm tới những cái chết. Cho đến mãn đời Kiên còn
nhớ tới Quảng, người tiểu đội trưởng đầu tiên của mình. Bấy giờ là mùa
khô năm 66, chiến dịch Đông Sa Thầy, và Kiên còn là lính mới, lần đầu dự
trận. Suốt ba ngày đêm ác liệt quần nhau với bọn Ngựa bay, Kiên theo
sát Quảng, được Quảng lẫn dắt, kèm cặp và thực chất là che chắn cho.
Đứng, nằm, lăn, bắn, vọt tiến, chạy, nhất nhất Kiên theo Quảng. Nhưng
rồi Quảng bị đốn ngã trên đường vận động chiến, khi toàn đại đội đang
băng qua vùng rừng le dưới đồi 300 để áp sát bọn Mỹ đang từ trực thăng
đổ xuống. Một trái cối 106 nổ tung gần như dưới chân, nhấc Quảng lên,
quăng bổng theo đường vòng cung rồi giáng quật xuống. Kiên quỳ cạnh anh,
luống cuống không biết băng thế nào. Bụng rách trào ruột. Nhưng tiều
đáng sợ là xương xẩu dường như gãy hết, mạng sườn lõm vào, tay lủng
liểng, và hai đùi tím ngắt. Thế mà Quảng chỉ lịm đi một lúc. Có lẽ vì
quá đau đớn nên tỉnh lại ngay. Vốn là một dân chài quê Móng Cái, Quảng
cực khỏe, to cao, thô thiển và tốt bụng, tính tình liều lĩnh, trầm lặng,
giờ đây anh rống lên:

- Đừng chạm vào tao . . . đừng băng nữa . . . Oa ô. . . đừng. . . a...

Kiên vẫn loay hoay tìm cách bó nẹp hai đùi của Quảng.

- Thôi ôi thôi. . . Giời ơi . . . ? Quảng nấc, mép ứa máu. Lịm đi một lát, Quảng cựa cựa đầu và lại mở mắt.

- Kiên... Kiên... -Kiên? Bắn anh đi em... - Quảng khóc khe khẽ và gầm lên hung tợn - Bắn?

- Kiên, tao hạ lệnh cho mày giết tao mau! Trời ơi? Trời ơi bắn đi mà em, bắn? bắn! Mẹ mày chứ, bắn đi, giời?!

Trận
đánh rung chuyển rừng cây. Kình? Kình! Kình! ' Cối nã dồn dập. Tiếng
reo hò dội tới qua màn khói. Kiên run cầm cập nhưng vẫn cố băng bó cho
Quảng. Vừa gắng gượng nhẹ tới quá mức có thể Kiên vừa âm thầm hy vọng có
thể là tiểu đội trưởng sẽ ngất đi mà nhãng khỏi cái đau rùng rợn đang
dày xéo cả lên chính cả bản thân Kiên. Nhưng cái chết như muốn nhất định
bắt Quảng phải tỉnh để chịu đến cùng sự hành hạ cua nó.

Lát sau
lại một trận pháo nữa dập tới cấp tập trong vài phút, xé toang vạt rừng
thưa và lấp đầy đất lên hai người. Mãi sau Kiên mới moi được Quảng lên:
Vẫn sống, vẫn tỉnh, mồm ứa máu nhưng còn thở, sủi bong bóng đỏ, mắt mở
trừng như muốn mà không nhắm lại được Và môi vẫn mấp máy gượng nói. Kiên
cúi sát xuống, nghe:

- Thương anh đừng bắt lê lết mãi... Anh khổ
quá rồi, xương gãy hết cả, ruột nữa... đứt hết... - Cái giọng lào thào
lí nhí như thể tiếng của loài kiến mà đầy vẻ tâm

tình của Quảng làm Kiên rùng rợn, ớn lạnh - Cho anh được chết đi... một phát thôi mà... là xong... nào?

Kiên giật mình. Bất ngờ, cực lẹ thu hết tàn lực, Quảng đưa cánh tay chưa gãy lên rút thoắt quả u-ét Kiên cài bên hông.

-
Nào . . . ! - Quảng cao giọng hầu như đắc thắng, hoan hỉ và cả cười lên
nữa, ha ha, khàn khàn dễ sợ - Ha hà... nào, lùi mau! Kiên, lùi xa ra,
nào! Hà hà... ha ha ha

ha. . . Kiên nhỏm dậy lùi, lùi, lùi, mắt
dán vào cái mỏ vịt và vụt quay lưng, lao đầu chạy, chạy lướt qua cái lùm
le gãy nát ngút khói. Ha ha ha... Tiếng cười cuồng loạn nức nở rượt sát
sau lưng... ha ha ha ha...

Tôi nghĩ, có lẽ là loài quỷ rừng hay
cười mà người Triêng gọi là ma ỏm. Hay là quỷ cùi? Nhưng không phải
người cười là cái chắc. Rũ rượi. Sằng sặc. Vọng ra dưới đồi 300.

Chín
năm sau, một người trong tổ hài cốt, khi nghe thấy tiếng cười điên rồ
vọng lên từ phía đồi 300 bên bờ sông Sa Thầy, vào buổi chiều tối đã ngỡ
rằng mình nghe thấy yêu quái. Anh ta hồi hộp kể. Mọi người xúm quanh, sa
sầm.

- Chỉ cất lên trong chốc lát, nhưng tiếng cười làm tôi lạnh
hết người. Nhưng mà tôi cứ thử liều lần về hướng phát ra tiếng cười.
Chợt gặp một cái tràng hẹp khoanh một khoang giữa rừng. Mẹ kiếp, và tôi
thấy gì... một túp lều Thoảng gió qua tôi ngửi thấy mùi khét và mùi sắn
nướng. Nghĩa là người. Nhưng... Các cậu hiểu không, trước cửa lều trong
ánh nhá nhem tôi thấy một hình thù lồm xồm lông lá, đúng hơn là râu tóc
quá dài, cởi trần, trần truồng đang ngồi trên một thân cây đổ nhìn thẳng
về chỗ bụi cây tôi đang núp. Và tôi thấy, một quả lựu đạn các bạn ạ ở
trong tay hắn. Tôi bò lui. Hình như có làm động cành cây nên con ma để ý
hơn, nó đứng lên, chăm chú nhìn, và đi tới. Tôi bật lên vùng chạy. Lập
tức tiếng cười kinh dị khi nãy lại cất lên đuổi theo tôi.

- Hay là "xà niên"? - Một người phỏng đoán.

-
Nhưng xà niên sao lại có vũ khí, với lại họ đâu có ở lều cũng không
phải tàn tích của một bản làng nào vì chẳng hề có vết tích nương rẫy nào
ngoài cái rẫy tự giác của lính ta. Mà nhất là người không ai cười như
thế.

- Hay là thằng Tùng, anh Kiên?

- Tùng nào?

- Tùng
điên chứ Tùng nào, ở vệ binh trung đoàn ấy, anh quên à. Nó hóa điên và
bỏ vào rừng khi trung đoàn mình về chốt gần ngã ba đường 90 hồi năm 71
ấy. Rất gần khu vực này.

- À, Tùng. . . nhớ rồi . Cũng chả biết
chừng, thằng đó lên cơn toàn cười. Nghe rất ớn. Người ta bảo rằng trong
rừng có những mạch suối ma, uống phải nước của những mạch đó có thể mắc
đủ thứ bệnh, kể cả bệnh điên. Nhưng Tùng thì điên do bị một viên bom bi
lọt vào não, bác sĩ trung đoàn bảo thế.

Kiên nhớ là lần ấy trung
đoàn bộ bị oanh tạc. Nhiều người chết và bị thương. Riêng Tùng hoàn toàn
lành lặn. Chỉ có điều là Tùng kêu đau đầu lắm. Y tá cho thuốc cảm,
chẳng thuyên giảm, càng đau. Rồi một buổi đêm các lán của cả trung đoàn
bộ bị lay thức vì tiếng cười của Tùng. Phải rồi, chuyện đó xảy ra ở vùng
này đây. Mọi người tổ chức vây lùng để đưa Tùng về cứu chữa. Nhưng
người bệnh lẩn tránh rất tài. Thỉnh thoảng từ một lùm cây anh ta bật
cười như để chọc giỡn mọi người, nhưng mà tiếng cười ảo não và thương
tâm vô cùng. Vờn đuổi, truy sục cả tháng trời rồi đơn vị đế mất dấu tích
của Tùng. Cậu ta mất hút vào rừng thẳm. Người ta bảo rằng, viên bi đã
không chịu nằm yên ở một góc não mà trườn chạy, luồn lách đưa cơn điên
vào tất cả những ngõ ngách trong đầu óc Tùng. . .

 

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3