Chiếc vòng thạch lựu - Chương 06-07

VI

Phải khó khăn lắm mới buộc được đại tá Pônamarep ngồi vào
bàn chơi pôke. Ông ta nói rằng mình không biết chơi bài này, và nói chung không
chấp nhận những trò may rủi, dù là để vui đùa, rằng chỉ thích và chơi khá giỏi
loại bài vintơ. Nhưng cuối cùng ông ta không cưỡng nổi những lời nài nỉ và đồng
ý ngồi vào bàn.

Lúc đầu mọi người phải bày vẽ, chữa lỗi cho đại tá; nhưng
ông ta nắm vững khá nhanh những luật lệ của trò chơi pôke, và chỉ sau hơn nửa
giờ tất cả các thẻ điểm đã nằm hết ở trước mặt ông ta.

- Như thế không được! – Anna nói với vẻ mặt phụng phịu một
cách hài hước. – Ít ra cũng phải để cho mọi người hồi hộp một tí chứ.

Có ba vị khách - Xpesnicốp, đại tá và viên phó tỉnh trưởng,
một người Đức tẻ ngắt, lịch sự và hơi dở tính – là thuộc loại người mà Vêra gần
như không biết phải làm gì với họ, phải tiếp đón ra sao. Nàng lấy bộ vintơ cho
họ và mời Guxtap Ivanôvich ngồi vào bàn. Từ đàng xa Anna nhìn nàng và khép mí mắt
lại tỏ vẻ biết ơn. Vêra lập tức hiểu ngay. Tất cả mọi người đều biết rằng nếu
không kéo được Guxtap Ivanôvich ngồi vào bàn chơi bài, ông ta sẽ quanh quẩn bên
cạnh vợ, nhe hàm răng thô kệch trên khuôn mặt như chiếc đầu lâu và làm hỏng tâm
trạng sảng khoái của vợ.

Còn bây giờ tối vui đang trôi qua dễ chịu, tự nhiên và sôi nổi.
Gienni Reite đệm đàn cho Vaxiutrôc hát khe khẽ những bài hát dân ca Italia trữ
tình và những bài hát phương Đông của Rubinstein. Giọng của Vaxiutrôc nhỏ nhẹ
nhưng chuẩn xác, mềm mại và êm dịu. Gienni Reite là một nhạc sĩ rất khó tính
nhưng bao giờ nàng cũng sẵn sàng đệm đàn cho Vaxiutrôc hát. Vả lại người ta còn
đồn rằng chính anh đang đeo đuổi Gienni.

Trong góc phòng, ngồi trên chiếc đi văng mềm, Anna đang ra sức
làm duyên làm dáng với chàng sĩ quan khinh kị binh. Vêra đi đến gần bên và mỉm
cười đứng nghe.

- Ấy không, ấy không, anh đừng cười, - Anna vui vẻ nói và
nheo nheo cặp mắt người Tacta đáng yêu và nghịch ngợm của mình nhìn chàng sĩ
quan. - Tất nhiên anh cho việc phi như bay trước các chiến đoàn kỵ binh hoặc vượt
chướng ngại vật mới là lao động vất vả. Nhưng anh hãy thử xem những lao động của
chúng tôi. Đáy, vừa rồi chúng tôi đã kết thúc cuộc dạ hội xổ số. Anh nghĩ là dễ
dàng lắm à? Phì! Người chen chúc… khói thuốc lá ngột ngạt… những người quét
sân, xà ích, tôi không biết còn những loại người gì gì nữa… Và tất cả đều bám
riết với những lời kêu ca, khiếu nại… Suốt cả ngày quay như chong chóng. Mà sắp
tới lại còn một buổi dạ hội để giúp những người phụ nữ lao động trí óc túng thiếu,
rồi một đêm vũ hội trắng nữa…

- Và ở đó tôi hi vọng rằng chị sẽ không từ chối tôi một điệu
nhảy madurka chứ? – Bakhơtinxki nói chen vào, khẽ nghiêng người, khua cựa giầy
dưới ghế ngồi.

- Cám ơn anh… Nhưng điều khốn khổ nhất là một cái trại… Anh
hiểu không, một cái trại cho những đứa trẻ hư hỏng…

- Ôi, tôi rất hiểu. Có lẽ đấy phải là một cái gì buồn cười lắm?...

- Thôi đi, anh cười những chuyện đó mà không thấy xấu hổ à?
Nhưng anh có hiểu điều bất hạnh của chúng tôi là ở chỗ nào không? Chúng tôi muốn
tìm chố nương náu cho những đứa trẻ bất hạnh với những tâm hồn đầy rẫy những
thói quen xấu xa và những khuyết tật di truyền, muốn sưởi ấm chúng, vuốt ve an ủi

- Chà!...

- … Và nâng cao đạo đức của chúng, đánh thức dậy trong lòng
chúng ý thức về trách nhiệm… Anh có hiểu tôi nói gì không? Và thế là hàng ngày
người ta mang đến cho chúng tôi hàng trăm hàng nghìn đứa trẻ, nhưng trong số
chúng không có lấy một đưa nào hư hỏng cả. Nếu như hỏi bố mẹ chúng là con họ có
hư hỏng không, anh thử tưởng tượng xem, họ lại còn tự ái! Dù có đặt giải thưởng
cho người nào mang được một đứa trẻ hư hỏng đến!

- Anna Nicôlaepna, - viên sĩ quan khing kị binh thận trọng
và nghiêm trang cắt ngang lời nàng, - giải thưởng để làm gì? Cứ lấy không tôi
đây này! Tôi thề thật đấy, không ở đâu tìm ra được một đứa trẻ hư hỏng hơn tôi
đâu.

- Anh có thôi đi không! Không thể nào nói chuyện nghiêm túc
với anh được, - Anna cười to và ngửa người ra sau thành ghế, mắt ánh lên lấp
lánh.

Công tước Vaxili Lơvôvich, ngồi sau chiếc bàn tròn lớn, đang
chỉ cho chị gái, tướng Anôxôp và em rể xem cuốn an bom hài hước với những bức
tranh do chính tay anh vẽ. Cả bốn người cười rất thoải mái và điều đó dần dần
thu hút những người khách không chơi bài cũng đến xem.

Tập an bom này như một sự bổ sung, minh hoạ cho những câu
chuyện hài hước của công tước Vaxili. Với một vẻ thản nhiên không gì lay chuyển
nổi, anh giở cho mọi người xem, thí dụ. “Lịch sử các câu chuyện tình của tướng
Anôxôp gan dạ ở Thổ Nhĩ Kỳ, Bungari và các nước khác”, “Cuộc phiêu lưu của
chàng công tử bột, công tước trẻ tuổi Nicôlai – Bulat-Tuganôpxki ở Môngtê
Caclô” và v.v…

- Bây giờ các vị sẽ thấy “Đoản thiên tiểu sử” của bà chị
Liutmila Lơvôpna yêu quý của chúng ta, - anh vừa nói vừa ném nhanh một cái nhìn
hóm hỉnh về phía chị gái. - Phần thứ nhất - Thời thơ ấu. “Cô bé lớn lên tên gọi
Lima”.

Trên tờ an bom là hình một cô bé được cố ý vẽ theo cách thể
hiện của trẻ con, mặt nhìn nghiêng nhưng lại có hai con mắt, với những đường gấp
khúc thay cho đôi chân thò ra dưới váy và hai bàn tay giăng ra với những ngón
xoè rộng.

- Nhưng có ai bao giờ gọi tôi là Lima đâu, - Liutmila
Lơvôpna cười.

Phần thứ hai, Mối tình đầu. Chàng kị binh thiếu sinh quân quỳ
dâng thiếu nữ Lima bài thơ sản phẩm sáng tạo của chính mình. Trong bài thơ quả
có những câu đẹp như châu ngọc:

Ôi đôi chân của em tuyệt đẹp

Là hiện thân nỗi khao khát thiên đường!

Và đây là hình ảnh xác thực của đôi chân đó.

Còn đây là cảnh chàng thiếu sinh quân dụ dỗ tiểu thư bỏ nhà
cha mẹ trốn đi. Đây là cảnh đi trốn. Còn đây là khoảng khắc nguy kịch: người
cha nổi giận đuổi theo những kẻ chạy trốn. Chàng thiếu sinh quân mất tinh thần
đổ mội tội lỗi lên đầu nàng Lima:

Em cứ mải phấn son mất cả hàng giờ.

Nên nay bị đuổi theo trốn đâu cho thoát…

Thôi em muốn làm gì mặc xác

Còn anh, tếch bụi rậm đây.

Sau câu chuyện của tiểu thư Lima, tiếp theo là thiên tình sử
mới: “Nữ công tước Vêra và chàng điện báo viên say nàng đắm đuối”.

- Thiên trường ca đầy cảm động này chỉ mới được minh hoạ bằng
bút mực và bút chì màu, - Vaxili Lơvôvich tuyên bố với vẻ trang trọng. - Lời
còn đang trong quá trình sáng tác.

- Cái này hình như là mới, - Anôxôp nói. - Trước đây tôi chưa
được xem.

- Tác phẩm cuối cùng đây. Món hàng mới nhất của thị trường
sách báo.

Vêra khẽ chạm tay vào vai chồng.

- Thôi đừng anh, - nàng nói.

Nhưng Vaxili Lơvôvich hoặc là không nghe thấy, hoặc là không
cho những lời của nàng có ý nghĩa gì quan trọng.

- Phần mở đầu thuộc về thời kì tiền sử. Vào một ngày tháng
năm tuyệt đẹp, nàng tiểu thư tên là Vêra nhận được một bức thư gửi qua bưu điện
vẽ hình hai con chim câu hôn nhau ở đầu trang. Đây là bức thư, còn đây là hai
con chim câu.

Bức thư chứa những lời tỏ tình cháy bỏng được viết bất chấp
mọi mẹo luật chính tả. Nó được mở đầu như sau: “Ôi nàng tiên tóc vàng tuyệt mĩ,
nàng là biển lửa sục sôi gào réo trong ngực tôi. Cái nhìn của nàng như một con
rắn độc siết chặt lấy trái tim đau khổ của tôi” và v.v… Cuối thư là dòng chữ ký
khiêm tốn “Theo nghề nghiệp tôi là điện báo viên khốn khổ nhưng tình cảm của
tôi xứng đáng với cảĐức ông Giocgiơ. Tôi không dám để lộ hết tên họ thật của
mình – e rằng nó quá sỗ sàng. Tôi chỉ ký bằng những chữ cái đầu: P.P.G. Mong
nàng hãy trả lời cho tôi theo bưu điện “poste restante”. Ở đây, thưa các ngài,
có thể thấy bức chân dung của chính chàng điẹn báo viên được hoạ lại rất thành
công bằng bút chì màu.

Trái tim của Vêra bị xuyên thủng (đây là trái tim, còn đây
là mũi tên). Nhưng, như một tiểu thư đoan trang và gia giáo, nàng trình bức thư
lại cho cha mẹ đáng kính của nàng, đồng thời cho cả người bạn từ thời niên thiếu,
vị hôn phu của mình, là chàng Vaxia Sêin trẻ tuổi đẹp trai. Đay là hình minh hoạ.
Tất nhiên, sau này ở đây sẽ có lời đề bằng thơ cho các bức tranh.

Vaxia Sêin vừa khóc vừa đưa trả lại chiếc nhẫn đính hôn cho
nàng Vêra. “Ta không dám ngăn cản hạnh phúc của em, - chàng nói, - nhưng cầu
xin em hãy đừng có quyết định dứt khoát ngay. Em hãy ngẫm nghĩ, hãy so sánh,
hãy tự kiểm tra mình và thử thách anh ta. Ôi, em bé bỏng ơi, em còn chưa hiểu hết
cuộc đời và như con bướm sắp lao vào lửa bỏng. Còn ta – than ôi! – ta đã biết
cái thế giới này giả dối và lạnh lùng. Em hãy nhớ rằng cái loại người điện báo
viên này hấp dẫn thật đấy nhưng đầy xảo trá. Họ rất khoái chí khi bằng vẻ đẹp
kiêu hãnh và những cảm xúc giả tạo của mình lừa lọc được một con mồi ngây thơ
nào đấy và sau đó sẽ cười nhạo rất tàn nhẫn”.

Rồi nửa năm trôi qua. Trong điệu vũ quay cuồng của cuộc đời,
nàng Vêra đã quên đi kẻ ngưỡng vọng mình và lấy chồng là chàng Vaxia trẻ tuổi đẹp
trai. Nhưng chàng điện báo viên không quên nàng. Và đây là chàng bôi bồ hóng ăn
mặc giả làm người thông ống khói để được vào phòng khách của công tước phu nhân
Vêra. Các vị thấy đấy, dấu vết của năm ngón tay và đôi môi để lại khắp nơi:
trên thảm, trên gối, trên tường, và thậm chí cả trên sàn nhà.

Và đây là chàng giả mặc làm bà già thôn quê đến xin làm chân
rửa bát trong bếp. Nhưng sự tinh ý của lão đầu bếp Luca đã buộc chàng phải tháo
chạy.

Và đây, chàng ở trong nhà thương điên. Còn đây, chàng cắt
tóc đi tu. Nhưng ngày nào chàng cũng gửi đến cho Vêra những bức thư đắm đuối.
Và nơi nào những giọt nước mắt của chàng nhỏ xuống, nơi đó chữ nhoè đi thành những
vệt mực loang lổ.

Cuối cùng chàng chết, nhưng trước khi tắt thở, chàng còn di
chúc lại chuyển cho Vêra hai chiếc cúc áo của người điện báo viên và một lọ nước
hoa đựng đầy những giọt nước mắt của chàng…

- Này các ngài ơi, có ai muốn uống trà không? – Vêra
Nicôlaepna hỏi to.

VII

Buổi hoàng hôn mùa thu kéo dài đã cháy lụi. Dải ráng đỏ rực
cuối cùng, hẹp như một khe nhỏ loé lên giữa mặt đất và đám mây màu xám biếc ở
cuối tận chân trời cũng đã tắt. Bây giờ không còn trông rõ cả mặt đất, cả cây cối,
cả bầu trời. Chỉ có những ngôi sao rất to trên đầu nhấp nháy rung rung là mi giữa
màn đêm, và luồng ánh sáng màu xanh lam của ngọn hải đăng rọi thẳng lên cao như
một cây cột mảnh mai và lan toả trên vòm trời đen thành một vòng tròn sáng đục
sóng sánh như sương. Những con bướm đêm đập cánh lao vào mấy chiếc chụp nến bằng
kính. Những cánh hoa hình sao của khóm thuốc lá trắng trước vườn toả mùi nồng
hơn từ trong bóng tối và hơi đêm mát lạnh.

Xpesnicôp, viên phó tỉnh trưởng và đại tá Pênamarep đã về từ
lâu, họ hứa khi đến bến tàu điện sẽ cho ngựa quay lại đón viên tướng chỉ huy
trưởng pháo đài. Những người khách còn lại ngồi cả ngoài hiên. Mặc dù Anôxôp ra
sức phản đối, hai chị em Vêra và Anna vẫn bắt ông phải mặc áo bành tô và quấn
chân bằng một tấm mền ấm. Trước mặt Anôxôp là chai rượu vang đỏ Pômmard mà ông
rất ưa thích, còn ngồi hai bên là Vêra và Anna. Họ ân cần chăm sóc viên tướng
già, rót đầy thứ rượu vang nặng, đặc sánh vào chiếc cốc cao mảnh của ông, cắt
phó mát, đưa diêm cho ông… Viên chỉ huy trưởng pháo đài nheo nheo mắt khoan
khoái.

- Chà à… Mùa thu, mùa thu, mùa thu, - ông nhìn ngọn nến cháy
đỏ, lắc lư đầu vẻ tư lự, nói. – Mùa thu. Và ông cũng đã đến lúc phải về rồi, ôi
tiếc thật! Những ngày đẹp trời vừa mới bắt đầu. Giá như được sống mãi ở đây,
trên bờ biển này, yên tĩnh, thanh thản…

- Thì ông sống ở đây với chúng cháu đi, - Vêra nói.

- Không được, cháu yêu ạ, không được. Việc quân mà. Hạn phép
hết rồi… Giá được như thế thì tốt quá. Còn phải nói! Cháu xem kìa, mùi hoa hồng
mới thơm chứ… Ở đây cũng nghe thấy. Còn mùa hè nóng nực thì không có loài hoa
nào thơm cả, chỉ có mỗi cây keo gai trắng… mà nó lại có mùi kẹo quả.

Vêra rút từ trong bình hoa ra hai bông hồng nhỏ, một màu hồng
nhạt, một màu đỏ tươi, cài vào khuyết ve áo bành tô của ông.

- Cảm ơn cháu, Vêroska, - Anôxôp nghiêng đầu xuống cổ áo,
hít hít bông hoa, rồi bỗng nở một nụ cười già nua đầy cảm động.

- Ông còn nhớ lần đơn vị ông đến Bucarext và chia ra ở trong
các nhà dân. Một hôm đang đi ngoài phố ông bỗng nghe mùi hoa hồng rất đậm. Dừng
lại, ông trông thấy một lọ pha lê tuyệt đẹp đựng tinh dầu hoa hồng đặt giữa hai
người lính. Họ đang bôi nó lên ủng và lên cả ổ khoá nòng súng. “Các anh có cái
gì thế này?” – Ông hỏi. – “Thưa ngài, không hiểu một loại dầu gì đấy ạ. Chúng
tôi bỏ vào cháo, nhưng không ăn được, cay quá, còn mùi thì lại rất thơm”. Ông
cho họ một đồng rúp và họ sẵn lòng đưa lọ dầu cho ông. Dầu chỉ còn chưa đầy một
nửa lọ, nhưng theo giá thì ít nhất cũng phải được trên hai mươi đồng tiền vàng.
Mấy anh lính rất hài lòng, nói thêm: “Thưa ngài, ở đây còn có một loại đậu Thổ
Nhĩ Kỳ nữa, dù có đun nấu bao nhiêu, cái của quỷ quái này cũng không chịu chín ạ”.
Thì ra đó là hạt cà phê. Ông bảo bọn họ: “Cái này bọn Thổ Nhĩ Kỳ mới dùng được
thôi, chứ với lính ta thì chẳng được ích lơị gì”. Thật may là họ còn chưa ăn
thuốc phiện. Ở mấy chỗ, ông thấy nhiều viên thứ thuốc này bị dẵm trong bùn.

- Ông ơi, ông nói thật nhé, - Anna hỏi, - ông có cảm thấy sợ
khi vào trận đánh nhau không ông?

- Kể cũng lạ, Annesca ạ, vừa sợ lại vừa không. Mà sợ cũng là
điều dễ hiểu thôi. Các cháu đừng tin kẻ nào nói rằng không sợ và tiếng đạn rít
đối với hắn ta là bản nhạc du dương nhất. Kẻ đó hoặc là bị bệnh tâm thần, hoặc
là ba hoa nói khoác. Ai cũng sợ như nhau cả. Chỉ có điều người này vì sợ mà co
rúm mình lại, còn kẻ khác thì biết làm chủ bản thân. Và cháu thấy đấy, cái sợ
thì trước sau cũng chỉ là một, nhưng mức độ biết làm chủ mình qua thực tế càng
lớn dần lên: và từ đó mà có những người anh hùng, gan dạ. Thế đấy. Nhưng có một
lần ông sợ đến suýt chết đấy.

- Ông ơi, ông kể đi. - cả hai chị em đồng thanh nói.

Cho đến tận bây giờ họ vẫn say mê nghe những câu chuyện của
Anôxôp như thời còn thơ ấu. Anna thậm chí còn vô tình choãi khuỷu tay lên bàn hệt
như một đứa trẻ và kê cằm lên hai bàn tay để ngửa chồng lên nhau. Trong câu
chuyện, chậm rãi, thật thà đến thơ ngây của viên tướng già, có một vẻ đẹp thật ấm
cúng. Và cả lối nói của ông dùng để kể lại những hồi ức chiến đấu của mình cũng
vô tình mang một vẻ vụng về, lạ lẫm, hơi nhuốm sắc thái sách vở. Dưòng như ông
đang kể theo một khuôn mẫu cổ xưa và dễ thương nào đó.

- Câu chuyện này rất ngắn thôi, - Anôxôp bắt đầu kể. – Nó xảy
ra ở Sipca, vào mùa đông, sau khi ông bị dập thương vào đầu. Bốn người sống
trong một căn nhà đất. Và chính ở đấy đã xảy ra cây chuyện khủng khiếp đối với
ông. Một buổi sáng, khi ngủ dậy, ông chợt nghĩ rằng mình không phải Iacôp, mà
là Nicôlai, và ông không thể nào dứt bỏ cái ý nghĩ đó được. Nhận thấy rằng mình
như sắp phát điên lên, ông liền hét gọi mọi người mang nước đến đắp vào đầu, và
lúc đó ông mới tỉnh táo lại.

- Cháu cứ hình dung, bác Iacôp Mikhailôvich ạ, hồi đó bác đã
chinh phục được bao nhiêu là phụ nữ, - nữ nghệ sĩ dương cầm Gienni Reite nói. -
Thời trẻ hẳn bác phải đẹp trai lắm.

- Ô, ông của chúng ta bây giờ cũng còn rất đẹp trai! – Anna
kêu to.

- Đẹp trai thì không đâu, - Anôxôp thản nhiên mỉm cười. –
Nhưng người ta cũng không chê bỏ ông. Và vẫn ở Bucarext ấy đã xẩy ra một chuyện
cảm động. Khi quân đội Nga tiến vào thành phố, dân ở đấy bắn đại bác ở quảng
trường để chào đón, và do đó có khá nhiều cửa sổ bị vỡ kính. Nhưng ở những nhà
nào trên cửa sổ có đặt các cốc đựng đầy nước thì lại không việc gì cả. Tại sao
ông biết được điều đó? đầu đuôi là thế này. Khi đến căn nhà người ta phân cho
ông để trú lại, ông trông thấy ở đó có một lồng chim thấp đặt trên bệ cửa sổ,
trong lồng là một chiếc bình pha lê lớn đựng nước trong suốt có những con cá vàng
bơi lội, còn giữa chúng là một con chim hoàng yến đậu trên thành gỗ bắc ngang.
Chim hoàng yến ở trong nước! – ông ngạc nhiên, nhưng xem kỹ thì thấy rằng chiếc
bình có đáy rất rộng và lõm sâu vào giữa, đến mức con chim hoàng yến có thể bay
vào và đậu thoải mái trong chỗ lõm đó. Sau sự việc này ông mới thấy là mình
không nhanh ý tí nào.

Vào nhà, ông trông thấy một cô gái Bungari rất xinh đẹp. Ông
đưa cho cô ta giấy phép đến ở nhà, nhân tiện hỏi tại sao kính cửa sổ ở đây vẫn
nguyên vẹn sau đợt bắn đại bác. Cô ta giải thích rằng đấy là nhờ nước, rồi giải
thích luôn cả chuyện chim hoàng yến nữa – lúc bấy giờ ông quả là người kém
thông minh. Và thế rồi giữa câu chuyện ánh mắt đôi bên gặp nhau, giữa hai người
như có một dòng điện chạy qua, và ông cảm thấy rằng mình đã yêu, yêu ngay lập tức,
nồng cháy, không cưỡng nổi.

Viên tướng già ngừng lời và thận trọng nhấp từng ngụm rượu
vang màu sẫm.

- Nhưng rồi bác tỏ tình với cô ta chứ? – Gienni Reite hỏi.

- Hừ -ừm… tất nhiên, tỏ tình… Nhưng không phải bằng lời. Mà
việc đó như sau…

- Ông ơi, chắc ông không bắt chúng cháu phải đỏ mặt đấy chứ?
– Anna mỉm cười ranh mãnh, nói chêm vào.

- Không, không đâu, câu chuyện hết sức đứng đắn. Các cháu thấy
đấy, ở khắp nơi dừng lại trú quân, người thành phố bao giờ cũng có những thái độ
dè dặt ít nhiều đối với quân đội Nga, nhưng ở Bucarext dân địa phương lại đối xử
rất thân mật, và một hôm khi ông đưa viôlông ra kéo chơi, các cô gái lập tức diện
quần áo vào và nhảy múa luôn. Rồi từ đó thành lệ, ngày nào cũng vậy.

Một lần, vào buổi tối, trong khi mọi người đang nhảy múa dưới
ánh trăng, ông đi lên mái hiên nhà ngoài, nơi cô gái Bungari của ông vừa vào
khuất. Trông thấy ông, cô ta làm bộ như đang chọn xếp lại những cánh hoa hồng
khô mà dân ở đó thu trữ hàng bao tải. Nhưng ông đã ôm lấy cô ta, ghì sát vào ngực
mình và hôn liền mấy cái.

Từ đó, cứ mỗi lần mặt trăng hiện lên trên bầu trời sao là
ông lại vội đến với người yêu của mình và quên đi tất cả những bận rộn lo toan
ban ngày. Cho đến khi đơn vị phải rời khỏi đó, hai người thề nguyền sẽ yêu nhau
suốt đời, rồi chia tay nhau mãi mãi.

- Chỉ có thế thôi ạ? – Liutmila Lơvôpna thất vọng thốt lên.

- Thế các cháu còn muốn gì nữa nào? – Viên tướng già hỏi lại.

- Không, Iacôp Mikhailôvich ạ, ông tha lỗi cho cháu, nhưng đấy
chưa phải tình yêu, mà chỉ là chuyện quan hệ ngẫu nhiên của một sĩ quan quân đội…

- Ông cũng chẳng biết nữa, cháu yêu quý ạ, thật đấy, ông
không biết đó là tình yêu hay một tình cảm gì khác…

- Ôi không… Ông ơi, ông nói đi… thế chẳng lẽ ông chưa bao giờ
yêu bằng một tình yêu thật sự sao? Một tình yêu, ông biết không, mà…mà… tóm lại…
một tình yêu thiêng liêng, trong trắng, mãi mãi… không trần tục… Chẳng lẽ ông
chưa yêu sao?

- Chà, đúng là ông không biết trả lời các cháu ra sao đây, -
viên tướng già lúng túng đứng dậy khỏi ghế. – Có lẽ là ông chưa yêu. Hồi đầu
thì không có lúc nào để yêu cả: tuổi trẻ, chơi bời, cờ bạc, chiến tranh… Lúc đó
ông thấy dường như cuộc đời, tuôỉ trẻ, sức khoẻ sẽ vô tận, không bao giờ kết
thúc… Đến khi nhìn lại, thì thấy mình đã là một đống hoang tàn rồi… Còn bây giờ,
Vêrôsca, cháu đừng giữ ông lại nữa, ông về đây… Này chàng khinh kị binh, - ông
quay sang gọi Bakhơtinxki, - trời ấm, ta đi bộ ra đón xe của chúng ta đi.

- Để cháu đi cùng với ông, ông ạ, - Vêra nói.

- Và cháu nữa, - Anna tiếp thêm.

Trước khi đi, Vêra bước đến bên chồng và nói khẽ:

- Anh vào xem… trên bàn em, trong hòm ấy, có một chiếc hộp đỏ,
trong đó có bức thư.

Anh đọc đi.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.