Tay cự phách - chương 04a
Chương 4
Thứ bảy là ngày phiên chợ ở Cape Town. Đường phố
đông nghẹt người mua bán mong tìm được các món hàng giá hời, gặp gỡ bạn bè và
người yêu. Người Boer và người Pháp, binh sĩ mặc những bộ quân phục màu sắc sặc
sỡ, các bà người Anh mặc váy viền đăng ten, áo choàng có diềm đăng ten xếp nếp,
hoà lẫn với nhau trong các cửa hiệu tạp hoá dựng lên trong công viên ở
Braameonstain, Park Town và Burgerdorp. Mọi thứ đều được bán ở đấy: bàn ghế, ngựa,
xe và trái cây tươi. Người ta có thể mua áo dài, bàn cờ, thịt, sách viết bằng
mười hai thứ tiếng khác nhau. Vào ngày thứ bảy, Cape Town là một phiên chợ ồn
ào, nhộn nhịp.
Banda chậm rãi đi xuyên qua đám đông, thận trọng
không nhìn mặt người da trắng. Như vậy thật quá nguy hiểm. Đường phố chật ních
người da đen, Ấn Độ và da màu, nhưng thiểu số người da trắng thống trị. Banda
ghét bọn họ. Đây là đất đai của anh, còn người da trắng là người “uitlander”
(ngoại quốc). Có nhiều bộ lạc ở Nam Phi: người Basutos, Zulus, Bechnuarias,
Matemele – tất cả đều là người Bantu cả. Chữ Bantu cũng là do chữ “Albantu”, có
nghĩ là “nhân dân” mà ra. Nhưng những người Barolongs – bộ tộc của Banda – là
thuộc hàng quý tộc. Banda còn nhớ câu chuyện bà nội kể về vương quốc rộng lớn của
người da đen đã một thời cai trị Nam Phi. Vương quốc của họ, thế giới của họ.
Thế mà bây giờ họ bị nô lệ hoá bởi một nhúm chó rừng da trắng. Người da trắng
đã đẩy họ vào lãnh thổ mỗi lúc một nhỏ dần, cho đến khi sự tự do của họ đã bị
xói mòn. Bây giờ, lối sống duy nhất mà người da đen có thể tồn tại là xảo quyệt,
bề ngoài thì có vẻ khuất phục nhưng bên trong thì khôn ngoan, ranh mãnh.
Banda không biết mình bao nhiêu tuổi vì người da đen
không có giấy khai sinh. Tuổi của họ được tính theo truyền thuyết của bộ lạc:
các cuộc chiến tranh và chiến đấu, ngày sinh và ngày chết của đại tù trưởng,
các sao băng, băng tuyết và các vụ động đất, con đường mòn của Adam Kok, cái chết
của Chaka và cuộc cách mạng giết hại gia súc. Nhưng tuổi tác của Banda không có
gì quan trọng. Banda biết rằng anh là con trai của một tù trưởng và anh có nhiệm
vụ phải làm một việc gì đó cho dân tộc của anh. Ý tưởng về sứ mệnh này của anh
khiến anh bước đi cao hơn, thẳng người hơn trong một lát, cho đến khi anh bắt gặp
cặp mắt nhìn của người da trắng.
Banda bước hối hả về ngoại ô thị trấn, tức khu vực
dành cho người da đen. Những ngôi nhà to lớn và những cửa hiệu hấp dẫn nhường
chỗ cho những cái lán bằng thiếc, mái che và túp lều lụp xụp. Anh đi xuống còn
đường đất, nhìn qua vai để có thể chắc chắn rằng không có ai đang theo dõi anh.
Anh đi đến một cái lán gỗ nhìn quanh quất một lần cuối cùng, gõ hai tiếng trên
cánh cửa và bước vào bên trong. Một người đàn bà da đen gầy còm ngồi trên một
chiếc ghế ở góc phòng, đang may một chiếc áo. Banda gật đầu chào bà ta rồi tiếp
tục đi vào buồng ngủ ở phía sau.
Anh nhìn xuống hình thù đang nằm trên chiếc ghế bố.
Sáu tuần sau đó, Jamie McGregor đã tỉnh lại, thấy
mình đang nằm trên chiếc ghế bố trong ngôi nhà lạ. Ký ức trở lại với anh dồn dập.
Anh lại đang ở vùng Karroo, thân thể bị gãy, hoàn toàn bất lực. Rồi những con
kên kên…
Rồi Banda bước vào trong căn phòng bé nhỏ, Jamie biết
rằng hắn đến để giết anh. Van der Merwe đã biết được, bằng cách nào đó, rằng
Jamie vẫn còn sống, cho nên lão sai đầy tớ của lão đến giết anh cho xong việc.
Jamie cất tiếng khàn khàn: “Tại sao chủ anh không
đích thân đến đây?”
“Tôi không có chủ nào hết”.
“Van der Merwe đó. Hắn sai anh đến đây, phải không?”
“Không, hắn muốn giết cả hai chúng ta, nếu hắn biết
được”.
Câu nói này đối với anh thật là vô lý. “Tôi đang ở
đâu thế này? Tôi muốn biết tôi đang ở đâu?”
“Ở Cape Town”.
“Không thể thế được, tôi đến đây bằng cách nào?”.
“Tôi đem anh đến đây”.
Jamie nhìn chằm chằm vào đôi mắt đen láy một hồi lâu
trước khi anh có thể thốt ra lời, “Tại sao?”.
“Tôi cần anh. Tôi muốn trả thù”.
“Anh muốn…?”.
Banda xích lại gần hơn: “Không phải trả thù cho tôi,
tôi không quan tâm đến bản thân tôi. Van der Merwe hiếp em gái tôi. Nó chết khi
sinh đứa con của hắn. Em gái tôi lúc ấy mới mười một tuổi”.
Jamie ngả người xuống giường choáng váng, “Lạy
Chúa”.
“Từ ngày nó chết, tôi vẫn cố tìm một người da trắng
có thể giúp cho tôi. Tôi tìm thấy anh ở chuồng ngựa vào đêm hôm ấy, khi tôi góp
tay cùng bọn chúng đánh đập anh, anh Gregor ạ. Chúng tôi vứt anh trong vùng
Karroo. Tôi được lệnh phải giết anh. Thế rồi tôi bảo với bọn chúng rằng anh đã
chết rồi, sau đó tôi tìm cách trở lại để cứu anh thật sớm. Nhưng tôi đến hầu
như quá trễ”.
Jamie không thể ngăn chặn một cái rùng mình. Một lần
nữa, anh tưởng chừng như đang ngửi thấy mùi hôi hám của những con chim kia đang
rỉa thịt anh.
“Những con chim ấy đã bắt đầu làm thịt anh. Tôi liền
vác anh lên một chiếc xe bò và giấu anh trong nhà của đồng bào tôi. Một vị thầy
thuốc của chúng tôi gắn lại cho anh các xương sườn, sửa lại chân cho anh thẳng
và săn sóc các vết thương cho anh”.
“Thế rồi sau đó ra sao?”.
“Có một chiếc xe bò chở đầy bà con của tôi lúc ấy
đang chuẩn bị lên đường đến Cape Town. Chúng tôi chở anh đi theo. Anh bị mất
trí hầu như suốt thời gian ấy. Mỗi khi anh thiu thiu ngủ, chúng tôi lại lo lắng
không biết anh có tỉnh dậy hay không?”.
Jamie nhìn vào mắt con người đã suýt giết anh. Anh
phải suy nghĩ thêm nữa, không thể tin vào con người này được. Thế nhưng chính hắn
đã cứu mạng anh. Banda muốn nhờ tay anh giết Van der Merwe. Như vậy lợi cả hai
đàng. Jamie suy nghĩ như vậy. Hơn bất cứ thứ gì trên đời này, Jamie muốn Van
der Merwe phải trả giá đắt cho những gì hắn đã làm với anh.
“Được rồi”, Jamie nói với Banda, “Tôi sẽ tìm cách trả
thù cho hai chúng ta”.
Lần đầu tiên anh thấy nụ cười loé trên mặt Banda, “Hắn
phải chết chứ?”.
“Không”, Jamie nói, “Hắn sẽ sống”.
Jamie ra khỏi giường bệnh lần đầu tiên vào buổi trưa
hôm ấy, đầu óc choáng váng và yếu ớt. Chân anh chưa hoàn toàn lành hẳn. Anh bước
đi hơi cà nhắc. Banda cố giúp đỡ anh.
“Thả tôi ra, tôi có thể đi một mình”.
Banda đứng nhìn trong khi Jamie thận trọng bước
ngang qua căn phòng.
“Tôi muốn có một cái gương soi”, Jamie nói, “Chắc mặt
tôi bây giờ trông kinh khủng lắm. Không biết bao lâu rồi mình chưa cạo râu nhỉ?”.
Banda trở lại với cái gương soi. Jamie đưa nó lên mặt.
Trước mặt anh là một bộ mặt hoàn toàn xa lạ. Tóc anh đã bạc trắng như tuyết. Bộ
râu quai nón của anh màu trắng, mọc thật dày và bù xù. Mũi anh đã bị gãy, sống
mũi bị lệch sang một bên. Mặt anh đã già đi hai mươi năm. Có những vệt sâu lõm
dọc hai má và một cái sẹo xám xịt ở ngang cằm. Nhưng sự thay đổi lớn nhất là
đôi mắt anh. Đó là đôi mắt đã nhìn thấy sự đau đớn, cảm thấy quá nhiều và thù hằn
quá sâu đậm. Anh thong thả đặt tấm gương xuống.
“Tôi muốn đi dạo một lát”, Jamie nói.
“Xin lỗi, Jamie McGregor, không thể làm như vậy được”.
“Sao lại không?”.
“Người da trắng không đi đến vùng này trong thị trấn
giống như người da đen không đi vào những nơi của người da trắng. Những người
hàng xóm của tôi không biết có anh ở đây. Chúng tôi đem anh đến đây vào ban
đêm”.
“Thế làm sao tôi ra khỏi đây?”.
“Tôi sẽ đưa anh đi ngay tối nay”.
Lần đầu tiên Jamie nhận ra rằng Banda đã liều mạng
giúp anh rất nhiều. Bối rối, Jamie nói “Tôi không có tiền, tôi cần có một công
việc làm”.
“Tôi đã tìm được một việc ở bến tàu. Ở đó họ cũng
đang cần người”. Anh rút từ trong túi ra một ít tiền đưa cho Jamie, “Đây này”.
Jamie cầm lấy tiền: “Tôi sẽ trả lại anh sau”.
“Anh cứ trả lại cho em gái tôi sau này”, Banda nói.
Vào lúc nửa đêm, Banda dắt Jamie ra khỏi lán, Jamie
nhìn quanh quất. Anh đang ở giữa một khu nhà tồi tàn, lụp xụp, một rừng lán lợp
tôn, rỉ sét và mái che làm bằng những tấm ván mục nát và vải bao rách. Đất bùn
lầy vì trận mưa vừa qua xông lên một mùi khó thở. Jamie tự hỏi vì sao những con
người như Banda lại có thể sống suốt đời ở một nơi như thế này. “Chẳng phải là
có một vài…”.
“Đừng nói chuỵên”, Banda thì thầm, “hàng xóm của tôi
có tính tò mò”. Anh dắt Jamie ra khỏi khu nhà ở rồi chỉ “Trung tâm thị trấn ở về
hướng này. Tôi sẽ gặp lại anh ở bến tàu”.
Jamie đến ở tại chính ngôi nhà trọ mà anh đã tạm trú
khi mới đến đây từ nước Anh. Bà Venster đứng sau bàn viết.
“Tôi cần một phòng”, Jamie nói.
“Tất nhiên rồi”, bà tủm tỉm cười nhe một chiếc răng
vàng, “Tôi là Venster”.
“Tôi biết”.
“Làm sao mà anh biết được một chuyện như thế?”, bà hỏi
một cách duyên dáng, “Chắc là bạn bè của anh kháo nhau chứ gì?”.
“Bà Venster ạ, bà không nhớ tôi sao? Tôi đã ở đây
năm ngoái mà”.
Bà nhìn kỹ khuôn mặt đầy sẹo, cái mũi gãy và mái tọc
bạc của Jamie nhưng không nhận ra một nét quen thuộc nào cả. “Tôi không bao giờ
quên một khuôn mặt, anh bạn thân mến ạ. Tôi chưa gặp anh bao giờ cả nhưng không
vì thế mà chúng ta không trở thành bạn thân của nhau được. Bạn bè vẫn gọi tôi
là Dee Dee, thế còn tên anh là gì?”.
Jamie trả lời không suy nghĩ. “Travis, Ian Travis”.
Sáng hôm sau Jamie đi tìm công việc ở bến tàu.
Viên đốc công bận rộn nói: “Chúng tôi cần những cái
lưng rất khoẻ. Vấn đề trở ngại là anh quá lớn tuổi, không thích hợp với các loại
công việc này”.
“Tôi chỉ mới mười chín tuổi…”, Jamie định nói như vậy
nhưng anh đã ngừng lại. Anh nhớ cái khuôn mặt trong gương ấy, anh liền nói, “Cứ
cho tôi thử làm xem”.
Anh bắt đầu làm phu khuân vác với số tiền chín
shillings một ngày. Công việc của anh là bốc dỡ trên các tàu cập bến. Anh nghe
nói rằng Banda và những người da đen khác chỉ nhận được sáu shillings một ngày.
Gặp được cơ hội đầu tiên, anh liền kéo Banda ra một chỗ riêng rồi nói. “Tôi có
chuyện muốn nói với anh”.
“Đừng nói ở đây, McGregor ạ. Có một nhà kho để trống
ở cuối bến tàu. Khi nào xong ca, tôi sẽ đến gặp anh ở đấy”.
Banda đang chờ đợi khi Jamie đến nhà kho bỏ trống.
“Anh hãy nói cho tôi nghe về lão Salomon Van der
Merwe”, Jamie nói.
“Anh muốn biết chuyện gì?”.
“Tất cả mọi chuyện”.
Banda nhổ phẹt một cái. “Hắn đến Nam Phi từ nước Hà
Lan. Do những câu chuyện tôi nghe được thì vợ hắn là một người đàn bà xấu xí,
nhưng giàu có. Bà ta chết đi vì một căn bệnh nào đó, rồi thì Van der Merwe lấy
hết tiền bạc của bà ta đi đến Klipdrift mở một tiệm bách hoá. Hắn trở nên giàu
có nhờ lối lừa lọc những kẻ đi tìm kim cương”.
“Giống như hắn đã lừa tôi chứ gì?”.
“Đó chỉ là một trong nhiều cách thôi. Những người
may mắn đào được kim cương đi đến gặp hắn để có được tiền khai thác mỏ, nhưng
lão Van der Merwe đã phỗng tay trên, làm chủ các mỏ ấy trước khi họ phát hiện”.
“Có người nào tìm cách kiện lại hắn không?”.
“Làm thế nào được? Các nhân viên phụ trách trong thị
trấn đã ăn lương của hắn. Luật pháp quy định rằng nếu trong thời hạn năm mươi
ngày mà không lo liệu việc khai thác mỏ kim cương ấy xem như để trống. Nhân
viên ở đấy mách bảo cho Van der Merwe biết, thế là hắn ta chộp ngay lấy. Còn có
một mánh khoé khác nữa. Vùng đất có quyền khai thác phải đóng cọc ở đường biên
giới bằng những cái cọc chĩa thẳng lên trời. Nếu các cọc ấy bị đổ xuống, những
kẻ khác có thể nhảy vào, đòi quyền sở hữu tài sản ấy. Thế cho nên, khi nào tìm
được vùng đất khai thác mà hắn thích, lão Van der Merwe cho người đến nơi đó
vào ban đêm, rồi đến sáng hôm sau các cọc ấy đều nằm dài trên mặt đất cả.
“Lạy Chúa!”.
“Lão ta đã ăn thông với tên phục vụ ở quán rượu tên
là Smit. Smit giới thiệu những người có vẻ đang khai thác kim cương đến gặp lão
Van der Merwe. Những người này ký hợp đồng hợp tác với lão Van der Merwe, và nếu
họ tìm ra kim cương thì lão ta cướp tất cả làm của riêng. Nếu họ gây rắc rối
thì hắn có nhiều người được hắn trả lương để thi hành các mệnh lệnh của hắn”.
“Tôi biết rõ chuyện đấy rồi”, Jamie nói vẻ tức giận,”
Còn gì nữa”.
“Hắn là một tên ngoan đạo điên cuồng. Bao giờ hắn
cũng cầu nguyện cho linh hồn những kẻ tội lỗi”.
“Thế còn con gái của hắn thì sao? Chắn hẳn cô ta
cũng có liên quan đến việc này?”.
“Cô Margaret ấy à? Cô ta sợ ông bố đến phát khiếp.
Cô ta chỉ nhìn một người đàn ông thôi, lão ta cũng giết cả hai”.
Jamie quay lưng lại, bước xuống cánh cửa, nhìn xuống
bến tàu. Anh còn có nhiều điều phải suy nghĩ nữa. “Chúng ta sẽ nói chuyện về
ngày mai”.
Sống ở Cape Town, Jamie bắt đầu ý thức được sự phân
biệt giữa người da đen và người da trắng. Người da đen không có quyền lợi gì
ngoài những quyền mà những kẻ có quyền hành ban cho họ. Họ bị lùa vào trong những
khu vực gọi là “ghetto” dành cho người da đen và chỉ được phép rời nơi ở để làm
việc cho người da trắng.
“Làm sao mà anh chịu được cảnh ấy?” Jamie một hôm hỏi
Banda.
“Con sư tử đói giấu móng vuốt của nó. Chúng tôi sẽ
thay đổi tất cả những cái ấy một ngày nào đó. Người da trắng chấp nhận người da
đen vì chúng cần các bắp thịt của họ, nhưng rồi đây chúng phải học cách chấp nhận
đầu óc của họ nữa. Chúng càng dồn chúng tôi vào chân tường, lại càng phải sợ
hãi chúng tôi vì biết rằng một ngày kia sẽ có thể có sự kỳ thị và hạ nhục theo
chiều ngược lại. Chúng không chịu đựng được cái tư tưởng ấy. Nhưng chúng tôi sẽ
tồn tại nhờ có Isiko”.
“Isiko là ai vậy?”.
Banda lúc lắc cái đầu. “Không phải là “ai” mà là
“cái gì”. Thật khó giải thích, Jamie McGregor ạ. Isiko là cội rễ của chúng tôi.
Nó là cảm giác thuộc về dân tộc đã từng nhường cái tên của nó cho con sông lớn
Zambezzi. Cách đây nhiều thế kỷ, tổ tiên của tôi đã đi vào nước sông Zambezzi
trần truồng, xua những đàn gia súc về phía trước. Những kẻ yếu nhất bị mất tích
làm mồi cho những xoáy nước và những con cá sấu hung dữ. Nhưng những kẻ sống
sót nhô lên, ra khỏi con sông và trở nên mạnh mẽ, cương cường hơn. Khi một người
Bantu chết, Isiko đòi hỏi những thành viên trong gia đình hắn phải rút lui vào
trong rừng để cho những người còn lại trong cộng đồng không phải chia sẻ nỗi
đau của họ. Isiko là sự khinh miệt mà người ta cảm thấy đối với một tên nô lệ
khúm núm, khuất phục. Nó là niềm tin tưởng rằng một con người có thể nhìn thẳng
tận mặt bất cứ ai, rằng hắn không có giá hơn hay thua kém bất cứ một người nào
khác. Anh có nghe nói đến John Tengo Jabavu chưa?” Banda nói tên ấy với vẻ kính
cẩn.
“Không”.
“Rồi anh sẽ được nghe”, Banda hứa, “Anh sẽ được
nghe”. Rồi Banda chuyển sang một đề tài khác.
Jamie bắt đầu cảm thấy càng lúc càng mến phục Banda.
Thoạt tiên, hai người vẫn có ý e dè lẫn nhau. Jamie cần phải có thời gian mới
tin cậy được kẻ đã suýt giết chết anh. Còn Banda cũng cần phải có thời gian để
tin cậy kẻ thù truyền kiếp – một người da trắng. Không giống như phần đông những
người da đen anh quen biết, Banda là một kẻ có học.
“Anh đi đến trường học ở đâu vậy?”.
“Không ở đâu cả. Tôi làm việc từ khi còn bé. Bà nội
tôi dạy cho tôi học. Bà làm việc cho một thầy giáo người Boer. Bà học đọc, học
viết vì vậy bà có thể dạy lại cho tôi học đọc, học viết. Tôi chịu ơn bà nội về
đủ mọi thứ”.
Một buổi chiều ngày thứ bảy, sau giờ làm việc, Jamie
lần đầu tiên được nghe nói đến sa mạc Namib trong vùng Nemaqualand. Anh và
Banda cùng ngồi trong nhà kho vắng vẻ trên tàu, cùng chia sẻ với nhau món thịt
linh dương hầm mà mẹ Banda đã nấu. Thật là ngon tuy nó hơi nặng mùi với Jamie
nhưng anh ăn sạch bát thịt nhanh chóng, rồi nằm tựa lưng trên cái bao cũ căn vặn
Banda.
“Anh lần đầu tiên gặp Van der Merwe vào lúc nào vậy?”.
“Khi tôi làm việc ở bãi kim cương trong sa mạc
Namib. Lão làm chủ bãi biển ấy với hai người hợp tác khác. Lão vừa mới cướp được
chỗ đất ấy từ tay một tên thăm dò kim cương nên muốn xuống đó để thăm viếng”.
“Nếu Van der Merwe giàu có như thế, tại sao hắn vẫn
làm việc ở cửa hàng bách hoá?”.
“Cửa hàng ấy chỉ là cái mồi nhử thôi. Nhờ thế lão mới
nhử được bọn thăm dò kim cương đến với lão. Rồi lão trở nên giàu có mãi”.
Jamie nhớ lại trước đây anh đã bị hắn lừa gạt dễ như
thế nào. Lúc ấy anh là một cậu con trai ngây thơ tin tưởng một cách quá dễ
dàng. Anh còn nhớ đến khuôn mặt trái xoan của Margaret khi cô ta nói, “Cha tôi
có thể là người sẽ giúp đỡ anh”. Thoạt tiên, anh ngỡ cô ta chỉ là một đứa trẻ
con, nhưng rồi sau đó anh chợt chú ý đến bộ ngực cô ấy và… Jamie đột nhiên vụt
đứng dậy, một nụ cười nở trên mặt, môi anh hếch lên làm cho vết sẹo ở ngang cằm
nhăn nhúm lại.
“Anh kể cho tôi nghe trong trường hợp nào anh đến
làm cho Van der Merwe”.
“Một hôm hắn đến bãi biển với cô con gái. Lúc ấy cô
ta chừng mười một tuổi. Tôi đoán rằng cô ta không muốn ngồi một chỗ nên đi xuống
nước chơi, thế rồi nước thủy triều dâng lên, cuốn cô ta ra xa. Tôi liền nhảy xuống
nước, kéo cô ấy lên. Lúc ấy tôi còn là một đứa con trai ít tuổi nhưng tôi nghĩ
rằng lão Van der Merwe sẽ giết tôi”.
Jamie nhìn Banda chằm chằm, “Tại sao vậy?”.
“Bởi vì tôi đã choàng tay xung quanh người cô ấy.
Không phải bởi vì tôi là người da đen đâu mà là vì tôi là đàn ông. Hắn không chịu
được ý nghĩ rằng có người đàn ông nào lại dám sờ lên người con gái hắn. Một người
nào đó cuối cùng đã xoa dịu được hắn, và nhắc nhở hắn rằng tôi đã cứu mạng sống
cho con gái hắn. Sau đó, hắn đưa tôi về Klipdrift làm đầy tớ cho hắn”. Banda do
dự một lát rồi nói, “Hai tháng sau, em gái tôi đến thăm tôi”, giọng nói của
Banda trở nên trầm tĩnh. “Nó cùng tuổi với con gái lão Van der Merwe”.
Jamie không thể góp một lời nào.
Cuối cùng Banda phá tan sự im lặng. “Lẽ ra tôi phải ở
lại sa mạc Namib. Công việc ở đó dễ dàng. Chúng tôi bò dọc theo bãi biển để nhặt
kim cương, rồi bỏ vào trong những hộp thiếc đựng mứt”.
“Khoan đã. Anh bảo rằng kim cương có sẵn ở đấy, trên
mặt cát, hay sao?”
“Đúng vậy, anh McGregor ạ. Nhưng nếu anh có ý định
gì trong đầu thì hãy quên đi. Không ai có thể lại gần bãi kim cương đó đâu. Nó ở
trên bể và ở đó sóng cao đến hàng chục thước. Bọn chúng cũng không cần phải
canh gác bờ bể nữa. Nhiều người đã cố gắng lẻn đến nơi ấy bằng đường bể, nhưng
rồi tất cả đều bị giết bởi sóng hay đá ngầm”.
“Chắc là có cách nào khác đi vào trong đó chứ?”
“Không. Sa mạc Namib chạy dài xuống tận đại dương”.
“Thế chỗ đi vào bãi kim cương thì sao?”
“Có một chòi canh và dây kẽm gai. Bên trong hàng rào
là bọn bảo vệ với súng và những con chó có thể xé xác người ta ra từng mảnh.
Chúng nó lại có một thứ thuốc nổ mới gọi là mìn. Mìn được chôn ở khắp các bãi
kim cương. Nếu anh không có một bản đồ về bãi mìn ấy thì anh sẽ bị nổ tung ra
thành từng mảnh vụn”.
“Bãi kim cương ấy lớn bao nhiêu?”.
“Nó chạy dài chừng ba mươi lăm dặm”.
Ba mươi lăm dặm kim cương nằm trên mặt cát… Trời ơi!
“Anh không phải là người đầu tiên bị xúc động bởi mỏ
kim cương ở Namib và anh cũng không phải là người cuối cùng. Tôi đã từng nhặt
lên được những thứ gì còn sót lại của những kẻ đã đến nơi đó bằng thuyền rồi
sau đó bị xé xác ra từng mảnh bởi đá ngầm. Tôi cũng thấy những gì các bãi mìn ấy
đã gây ra cho những kẻ đặt sai bước chân, và cũng chính tôi nhìn thấy những con
chó ấy xé toạc cổ họng người ta ra như thế nào. Hãy quên nó đi, anh McGregor ạ.
Tôi đã ở đấy rồi, không có đường vào và cũng chẳng có đường ra – ấy là tôi muốn
nói “ra mà vẫn còn sống”.
Jamie không thể nào chợp mắt được đêm hôm ấy. Anh tưởng
tượng đến ba mươi lăm dặm cát trải đầy những viên kim cương to lớn thuộc quyền
sở hữu của Van der Merwe. Anh nghĩ đến biển cả, những mỏm đá lởm chởm, những
con chó thèm khát giết chóc, những tên bảo vệ và mìn chôn dưới đất. Anh không sợ
nguy hiểm; anh không sợ chết. Anh chỉ sợ chỉ chết trước khi trả được món nợ với
Salomon Van der Merwe.
Ngày thứ hai sau đó, Jamie đến hiệu bán bản đồ để
mua bản đồ vùng Namaqualand. Có một bãi biển ngoài khơi Nam đại tây dương giữa
Luderitz về hướng bắc và cửa sông Orange ở phía Nam. Vùng này được ghi bằng chữ
đỏ: “Spergebiet”, có nghĩa là “vùng cấm”.
Jamie nghiên cứu từng chi tiết mảnh đất này trên bản
đồ, xem đi xem lại bản đồ ấy. Có ba ngàn dặm bể từ Nam Mỹ đến Nam Phi, và không
có gì ngăn cản sóng bể, cho nên tất cả sự hung dữ của chúng đều trút cả lên những
tảng đá ngầm ở bờ bể Nam Đại Tây Dương. Bốn mươi dặm về phía Nam, xuống đến bờ
biển, là bãi cát trống trải. Hẳn đó là nơi mà những kẻ khốn nạn đáng thương ấy
đã thả những chiếc thuyền con của họ để đi vào vùng đất cấm, Jamie nghĩ thầm.
Nhìn lên bản đồ, anh hiểu ngay vì sao bờ bể ấy không cần được canh gác. Các mỏm
đá ngầm ấy khiến cho một cuộc đổ bộ không thể nào thực hiện được.
Jamie bắt đầu chú ý đến chỗ ra vào mỏ kim cương. Theo như Banda cho biết, vùng này được rào bằng dây kẽm gai và được bọn bảo vệ vũ trang đi tuần hai mươi bốn giờ trên hai mươi bốn. Ở chỗ ra vào có một tháp canh. Và cho dù người ta có len lỏi qua được tháp canh ấy, còn có bãi mìn và chó săn nữa.
Ngày hôm sau gặp Banda, anh hỏi: “Anh bảo rằng có một bản đồ vẽ bãi mìn ấy, phải không?”
“Ở sa mạc Namib à? Bọn bảo vệ có bản đồ ấy để dẫn dắt các công nhân đi làm việc. Mọi người phải đi thành một hàng dài, vì vậy không ai bị nổ lên”. Mắt Banda mơ màng như nhớ lại một kỷ niệm, “Một hôm, chú tôi đi trước tôi, bỗng ông vấp phải một hòn đá, rồi ngã xuống trên một quả mìn chôn dưới đất. Sau đó, không còn gì sót lại của ông ấy nữa để đưa về nhà”.
Jamie rùng mình.
“Ngoài ra còn có một thứ sương mù ở bể nữa, gọi là “mis” anh McGregor ạ. Có bị mắc vào thứ sương mù ấy ở Namib, người ta mới biết được nó như thế nào.. Nó cuồn cuộn trên đại dương rồi thổi ngang qua suốt cả sa mạc dài đến tận dãy núi, xoá nhoà mọi thứ. Nếu bị mắc vào trong đó, anh không còn dám cựa quậy nữa. Có bản đồ về bãi mìn thì cũng vô ích thôi bởi vì anh không thấy mình đi đâu cả. Mọi người đành phải ngồi yên tại chỗ cho đến khi sương mù tan ra.”
“Nó lâu chừng bao nhiêu?”
Banda nhún vai: “Có khi hàng giờ, cũng có khi hàng ngày”.
“Banda này, anh có thấy bản đồ về bãi mìn ấy bao giờ chưa?”
“Chúng giữ kỹ lắm”, một vẻ lo âu thoáng trên mặt anh. “Tôi bảo cho anh một lần nữa, không ai thoát ra nổi cái mà anh đang suy nghĩ đâu. Thỉnh thoảng cũng có một công nhân cố gắng đem một viên kim cương ra một cách lén lút. Có sẵn một cái cây đặc biệt để treo cổ họ. Đó là một bài học cho những ai muốn ăn cắp kim cương của công ty”.
Mọi thứ đều có vẻ không thực hiện được cả. Ngay cả nếu anh tìm cách đi vào được mỏ kim cương, anh cũng không thể nào tìm cách thoát ra được. Banda đã nói đúng. Anh phải quên chuyện ấy đi.

