Chiến hữu - Chương 16.2

Tôi trèo khỏi xe và len lén theo con đường nhỏ trong vườn đến gần cửa sổ. Ngọn đèn đêm vẫn thắp sáng. Tôi thấy Pat nằm trên giường, nhắm mắt. Trong một giây, tôi lo rằng nàng đã chết. Rồi tôi thấy cánh tay mặt của nàng nhúc nhích. Nàng xanh mướt như tàu lá. Nhưng máu đã thôi chảy. Rồi tay nàng lại động đậy. Cùng một lúc, Jaffé, trong giường của tôi, mở mắt. Tôi lùi lại. Tôi cảm thấy an lòng; ông ấy biết rõ việc làm của mình.
"Tớ nghĩ chúng ta nên rút lui, Otto," tôi nói với Koster; "đừng để cho ông ấy biết là chúng ta theo dõi."
"Trong nhà ổn cả?" Otto hỏi.
"Dựa vào những gì tớ trông thấy, ổn cả. Giáo sư ngủ say đúng mức. Trong trận oanh kích vẫn ngon giấc; nhưng nếu có một con chuột gậm nhấm ba-lô, sẽ choàng tỉnh lập tức."
"Cậu tắm biển không?" Koster nói. "Không khí trong lành." Anh vươn vai.
"Cậu tắm đi," tôi nói.
"Tắm đi mà," anh kèo nài.
Bầu trời xám rẽ ra, lộ những vệt cam - đỏ long lanh. Dọc theo chân trời, bức màn mây vén lên, ngoài xa kia là màu xanh da táo trong sáng.
Chúng tôi nhảy tòm xuống nước và bơi. Biển xám và đỏ.
Rồi chúng tôi trở vào. Fraulein Muller đã thức. Bà đang hái rau mùi tây trong vườn. Bà bắt đầu khi tôi trò chuyện. Một cách vụng về, tôi cố lựa lời xin lỗi, hôm qua tôi đã văng tục quá nhiều.
Bà rấm rức khóc. "Tội nghiệp. Cô ấy đẹp quá, và trẻ quá."
"Cô ấy sẽ sống tới một trăm tuổi," tôi nói, phật ý vì bà khóc lóc như thể Pat sắp chết tới nơi. Pat nào có sắp chết. Buổi sáng lạnh, sức sống mà biển nhanh chóng quất vào tôi, nói với tôi như thế. Pat không thể chết. Nàng chỉ chết nếu tôi đánh mất trái tim. Koster có mặt ở đây -- tôi có mặt tại đây: là chiến hữu của Pat ... chúng tôi sẽ chết trước nàng. Chừng nào chúng tôi còn sống, nàng sẽ qua khỏi. Trong quá khứ, đã như thế. Nếu Koster còn sống, tôi sẽ sống. Và do đó, nếu chúng tôi còn sống, Pat không thể nào chết.
"Con người phải tuân theo số mạng," bà già nói, và gương mặt nâu, nhăn nhúm như quả táo khô nhìn tôi, trách móc. Rõ ràng, bà muốn trả lời câu chửi thề của tôi.
"Tuân theo?" tôi nói. "Tại sao lại phải tuân theo? Chẳng ích gì. Ta phải trả giá đắt cho mọi thứ trong đời, hai lần, ba lần. Vậy cớ sao ta phải tuân theo?"
"Vâng, tuân theo -- là điều tốt nhất."
Tuân theo! còn lâu tôi mới tuân theo, tôi thầm nghĩ. Có nhiều thứ hỗ trợ cho ta. Tranh đấu, tranh đấu, là điều duy nhất trong cuộc chiến này, nơi mà, dù sao chăng nữa, cuối cùng ta cũng sẽ đến. Tranh đấu cho những gì bé bỏng mà ta yêu quý. Khi nào được bẩy mươi tuổi, họa may ta có thể tính tới việc đầu hàng.
Koster trò chuyện với bà. Chẳng mấy chốc, bà đã mỉm cười và hỏi anh muốn ăn trưa món gì.
"Cậu thấy chưa," Otto nói. "Đó là phần thưởng của tuổi già. Nước mắt và nụ cười -- mau thay đổi nhau. Không tiếc hận. Một điều đáng cho ta học hỏi," anh trầm ngâm nói.
Chúng tôi đi vòng quanh nhà. "Cô ấy ngủ thêm phút nào hay phút đó," tôi nói. Chúng tôi trở lại vườn. Fraulein Muller đã dọn điểm tâm. Chúng tôi uống cà phê đen nóng. Mặt trời dâng cao, và không khí ấm áp. Những phiến lá ướt lấp lánh trong nắng. Từ biển vọng lại tiếng kêu của bầy hải âu.
Fraulein Muller đặt một bó hoa hồng lên bàn. "Chúng ta sẽ tặng cho cô ấy," bà nói. Hoa hồng thơm mùi thơ ấu và những bức vách trong vườn.
"Cậu biết không, Otto," tôi nói, "tớ có cảm tưởng như chính tớ đã mắc bệnh ... Tớ không còn là mình nữa. Lẽ ra tớ phải bình tĩnh hơn. Điềm đạm hơn. Một người càng bình tĩnh càng được việc."
"Người ta không thể lúc nào cũng giữ được bình tĩnh, Bob. Tớ cũng bị một vài lần như thế. Càng lớn tuổi người ta càng sợ hãi. Như một tay cờ bạc, luôn luôn sẽ thua những canh bài mới."
Cửa mở. Jaffe bước ra trong bộ pyjamas. "Ổn cả rồi," ông ra hiệu, khi thấy tôi lóng ngóng sắp làm ngã bàn ăn. "Tốt như đã mong mỏi."
"Tôi có thể vào chưa?"
"Chưa. Bà giúp việc còn ở trong ấy. Lau rửa và những chuyện lặt vặt khác."
Tôi rót cà phê cho giáo sư. Dưới nắng, ông hấp háy đôi mắt và quay sang Koster. "Thực ra, tôi phải cám ơn cậu mới đúng. Nhờ cậu, ít ra tôi cũng được một ngày sống ở thôn quê."
"Nhưng giáo sư có thể về quê thường xuyên mà," Koster nói. "Xa thành phố một đêm, sáng hôm sau quay về."
"Có thể, có thể," Jaffé đáp. "Thế cậu chưa nhận ra rằng chúng ta đang sống trong thời đại tự - ngược đãi? Có nhiều thứ người ta có thể làm, thế nhưng lại không -- và vì sao, chỉ có trời mới biết. Hiện thời, công việc đã trở nên quan trọng một cách khiếp đảm, tôi đoán, có lẽ vì có quá nhiều người thất nghiệp, đến mức công việc tiêu diệt hết mọi thứ. Địa điểm này đáng yêu làm sao! Thế mà đã nhiều năm tôi chưa trở lại. Tôi có hai chiếc xe, một căn nhà mười phòng và rất nhiều tiền để phung phí ... và tôi đã làm gì với số tiền ấy? Nó có nghĩa lý gì so với buổi sáng mùa hè thôn dã này? Công việc, công việc, công việc... một nỗi ám ảnh kinh hoàng -- và luôn luôn với ảo tưởng rằng cuối cùng tình huống sẽ thay đổi. Và chẳng bao giờ có thay đổi. Kỳ cục quá, phải không, có người lại sống một cuộc đời như thế?"
"Bác sĩ y khoa, theo tôi, là một trong số rất ít những người biết sống để làm gì," tôi nói. "Lấy thí dụ, một thư ký ngân hàng, thì sao?"
"Anh bạn thân mến," Jaffé trả lời, "là một sai lầm nếu ta cho rằng tất cả mọi người đều có sở thích giống nhau."
"Vâng," Koster nói. "Nhưng chẳng mấy khi người ta lại có một nghề nghiệp như ý."
"Thật vậy," Jaffé đáp. "Rất khó." Ông gật đầu với tôi. "Bây giờ, cậu vào được rồi. Nhưng nương nhẹ một chút, -- đừng chạm tới cô ấy và đừng để cô ấy nói nhiều nhé ... "
Nàng nằm giữa mấy cái gối, yếu ớt, như bị thương. Gương mặt trắng bệch; quầng mắt trũng sâu, thâm và làn môi tái nhợt. Chỉ có cặp mắt to và sáng. Rất to và rực sáng ...
Tôi cầm tay nàng. Lạnh và dịu oặt.
"Pat thương," tôi vụng về nói và suýt nữa đã ngồi xuống cạnh nàng khi tôi bất chợt nhìn thấy bên cửa sổ, gương mặt bì bì của bà giúp việc đang lom lom nhìn vào.
"Chị đi chỗ khác, được không?" tôi nói, bực tức.
"Tôi phải đóng màn cửa," bà nói.
"Được rồi, vậy kéo màn xong rồi đi đi."
Bà kéo hai cánh màn vàng khép lại. Tuy thế bà vẫn chưa chịu bỏ đi. Bà chậm chạp dùng kẹp, ghim chúng khít vào nhau.
"Này chị," tôi nói, "đây không phải là kịch trường. Làm ơn biến đi."
Bà quay lại, cao ngạo. "Chừng nào kẹp xong tôi mới đi --- mà lúc đó, chưa chắc nữa."
"Em có nhờ bà ấy kéo màn không?" tôi hỏi Pat.
Nàng gật đầu.
"Ánh sáng làm đau mắt em không?" tôi hỏi.
Nàng lắc đầu. "Tốt nhất, hôm nay anh đừng nhìn em rõ quá ..."
"Pat," tôi hoảng hốt, "em không được nói! Nhưng nếu đó là điều em muốn ..."
Tôi mở cửa ra ngoài, bà giúp việc rồi cũng biến mất. Tôi trở vào. Tôi không còn bực bội nữa. Tôi lại hài lòng với bà giúp việc; chính vì bà, tôi đã trải qua những giây phút đầu tiên an lành. Bởi nhìn Pat nằm ở đó như thế, quả thật chẳng dễ dàng.
Tôi ngồi cạnh giường. "Em sẽ sớm bình phục, Pat ạ."
Nàng mấp mấy đôi môi. "Ngày mai, anh có nghĩ như thế không?"
"Có lẽ ngày mai chưa được đâu, phải thêm vài ngày nữa. Rồi em sẽ ngồi dậy và chúng mình sẽ lái về nhà. Đáng lẽ chúng mình đừng nên tới đây, không khí quá khắc nghiệt với em --"
"Vâng," nàng thì thào. "Nhưng em không có bệnh, Robby. Chỉ là một tai nạn thôi --"
Tôi nhìn nàng. Có thực là nàng không biết, vừa rồi, nàng đã đỗ bệnh? Hay nàng không muốn biết? Tròng mắt của nàng đưa qua đưa lại không ngừng. "Anh không cần phải e sợ --" nàng khẻ nói.
Thoạt tiên tôi không hiểu nàng muốn nói gì và tại sao lại đặc biệt quan trọng là tôi không cần phải lo sợ. Tôi chỉ nhận thấy rằng nàng đang bức rức khó chịu, ánh mắt chứa đựng một vẻ phiền muộn, cấp bách lạ lùng. Rồi một ý nghĩ thình lình nảy ra. Tôi hiểu nàng đang nghĩ gì; nàng tưởng rằng tôi gớm sợ nàng vì nàng đang có bệnh.
"Trời ơi, Pat," tôi nói, "có phải đó là lý do, có lẽ thế, khiến em không bao giờ nói cho anh biết điều gì?"
Nàng không trả lời, nhưng tôi thấy đúng như tôi nghĩ.
"Thật bậy bạ," tôi nói; "thế em cho anh là hạng người gì, hở?"
Tôi cúi xuống. "Em nằm im một chút; không được cử động." Tôi hôn nàng. Môi nàng khô và nóng.
Khi đứng lên, tôi thấy nàng khóc. Lặng lẽ không thành tiếng, với đôi mắt vẫn mở to, và gương mặt bất động. Chỉ nước mắt trào ra, ướt đẫm.
"Trời ơi, Pat ---"
"Em sung sướng lắm," nàng nói.
Tôi đứng đó, nhìn nàng. Chỉ một chữ thôi, nhưng tôi chưa bao giờ nghe ai nói lên chữ ấy theo cách đó. Tôi đã biết phụ nữ, nhưng họ chỉ là những mối tình thoảng qua, những cuộc phiêu lưu, đôi khi là một giờ vui vẻ, một đêm cô đơn, chạy trốn bản thân, chạy trốn tuyệt vọng, chạy trốn trống vắng. Và tôi chẳng mong muốn một điều gì khác hơn, bởi tôi đã học được rằng, ta không thể tin tưởng vào bất cứ điều gì ngoại trừ bản thân, và chiến hữu, có lẽ. Giờ đây bỗng nhiên tôi hiểu ra, với một người, tôi có thể là một thứ gì đó, đơn giản chỉ vì tôi có mặt ở đấy, và người ấy hạnh phúc vì sự hiện diện của tôi. Diễn tả như thế nghe đơn sơ mộc mạc; nhưng nếu nghĩ kỹ, ta sẽ thấy đó là một cái gì mênh mông, bao la vô cùng tận. Cái đó có thể bẻ gẩy và biến đổi một người. Cái đó là tình yêu và tuy thế, lại còn là một điều khác hơn-- một điều dựa vào đó, người ta có thể sống. Một người không thể sống chỉ vì tình yêu. Nhưng sống cho một người khác, có lẽ ...
Tôi muốn nói một câu gì đó, nhưng không thể. Thật khó tìm lời diễn đạt khi chúng ta thật sự có một điều để nói. Cho dù chúng ta có biết những từ ngữ thích hợp, chúng ta cũng e thẹn không thốt nên lời. Tất cả chữ nghĩa này thuộc về các thế kỷ khác, đã qua. Thời đại của chúng ta không có ngôn từ để mô tả cảm xúc của nó. Chúng ta chỉ có thể nói năng cụt ngủn, thô thiển -- mọi cách khác đều như giả tạo.
"Pat," tôi nói, "cô bé can đảm thương mến --"
Ngay lúc đó Jaffé bước vào. Ông lập tức hiểu hết sự tình. "Hạnh kiểm tốt dữ a," ông gầm gừ. "Tôi đoán mò vậy mà."
Tôi sắp sửa viện vài lý do để bào chữa, nhưng ông đã đuổi tôi khỏi phòng mà không cần phải làm ầm ỷ gì hơn.

Báo cáo nội dung xấu