Từng Thề Ước (Tập 2) - Chương 07 - Phần 1
Chương 7:
Đời đời xin nguyện
làm huynh đệ [1]
Suốt mấy trăm năm nay,
sao nàng chỉ chìm đắm mải mê với thế giới bên ngoài mà chẳng hề
quan tâm đến Đại ca bên cạnh? Liệu có phải tình thân là điều hiển
nhiên đối với nàng, nên chưa từng nghĩ đến lúc mất đi? Vì sao mãi
tới lúc mất đi rồi, nàng mới nhận ra mình rất quyến luyến Đại ca cơ
chứ?
[1] Trích trong bài Gửi
cho Tử Do từ trong tù kỳ 1 của Tô Đông Pha (1036 – 1101). (ND)
Xương Ý nhận được tin
do Huyền điểu đưa đến, lập tức chạy đến Quy khư, nhưng đã chậm mất hai
ngày.
Lúc báo tin, Thiếu
Hạo cũng chẳng nói cụ thể nguyên do, chỉ mời y đến ngay tức khắc.
Xương Ý ngỡ A Hành xảy ra chuyện nên tức tốc chạy đến, tới nơi, thấy
một lá thuyền con dập dềnh theo làn nước. Thiếu Hạo và A Hành người
ngồi kẻ đứng trên thuyền, y mới thở phào nhẹ nhõm.
Xương Ý nhảy từ trên
lưng Trùng Minh điểu xuống thuyền, cười hỏi A Hành: “Xảy ra chuyện gì
mà giục ta đến ngay thế?”
A Hành vừa mở miệng,
chưa kịp nói tiếng nào, nước mắt đã chứa chan.
Thiếu Hạo đưa hai tay
lên, dưới sự điều khiển của y, mặt nước trước mũi thuyền từ từ dâng
lên, nâng theo cả một cỗ quan tài băng xanh biếc. Bên trong quan tài là
Thanh Dương đang nằm lặng lẽ, hai mắt nhắm nghiền, vẻ mặt an nhiên,
chẳng có chút sinh khí.
Xương Ý gượng cười,
“Đừng dùng rối gỗ lừa ta nữa, huynh biết linh lực của ta kém xa huynh
mà.”
“Y chính là Thanh
Dương đó.”
“Không thể nào! Đại
ca là Hiên Viên Thanh Dương, trên đời này làm gì có ai đả thương nổi
huynh ấy, cả huynh cũng không đánh bại được huynh ấy cơ mà!” Xương Ý
tái mét mặt, nhưng vẫn khăng khăng cố chấp, “Không thể nào! Sao huynh
có thể đem chuyện này ra đùa ta được?”
Nước mắt A Hành lã
chã rơi, phải rồi, Đại ca là Hiên Viên Thanh Dương, là Hiên Viên Thanh
Dương lạnh lùng nhất, hùng mạnh nhất trong thiên hạ, sao có thể chết
được chứ?
Trông dáng điệu của A
Hành, Xương Ý liền quỳ sụp xuống thuyền, trân trân giương mắt nhìn Đại
ca, vẻ mặt đờ đẫn, không khóc lóc, cũng chẳng hề động đậy.
Nhìn biểu hiện của
Xương Ý, Thiếu Hạo càng thêm lo lắng, lần trước nghe nói A Hành tử
vong, chí ít Xương Ý còn biết nổi giận, nhưng lần này, y chẳng hề
phản ứng.
“Xương Ý, Xương Ý,
nếu đệ đau lòng thì cứ khóc lên đi.”
Xương Ý chẳng buồn
để ý mấy lời của y, chỉ thẫn thờ vịn vào quan tài, hồi lâu sau mới
sầm mặt hỏi: “Kẻ nào? Là kẻ nào?”
Thiếu Hạo chẳng cất
nổi nên lời, rốt cuộc ai mới là kẻ giết hại Thanh Dương đây? Là Xi
Vưu, là Hoàng Đế, Là Di Bành, hay chính là y?
Không thấy ai trả lời
mình, Xương Ý quay sang gào lên với A Hành: “ Rốt cuộc là kẻ nào?”
A Hành tái mặt, khóc
không ra tiếng, chẳng dám nhìn vào mặt Tứ ca. Nhìn dáng vẻ của
nàng, Xương Ý cũng dần hiểu ra, “Là Xi Vưu ư?”
“Phụ vương giết chết
Du Võng, Xi Vưu hắn, hắn không cố ý giết chết Đại ca đâu… Đại ca vì
cứu phụ vương nên đã hứng một đòn chí mạng của Xi Vưu.” Lòng A Hành
đã nguội lạnh như tro tàn, giải thích thế nào cũng có ích gì nữa
đâu? Thanh Dương đích thực đã chết dưới tay Xi Vưu kia mà.
Xương Ý ngửa mặt
nhìn trời, tròng mắt đầy những lệ, nhưng y chỉ mở to mắt trừng
trừng nhìn lên, mãi tới khi nước mắt tan đi cả mới thôi. Y còn mẹ,
còn muội muội, y không được phép yếu đuối! Giờ đây y mới hiểu được
tâm tình của Đại ca, vì mẹ, vì y, vì A Hành, Đại ca đã trút bỏ sự
yếu đuối cùng nụ cười rạng rỡ để chọn lấy vẻ lạnh lùng và cứng
cỏi.
Xương Ý bình thản
nói: “Dọc đường tới đây, ta chỉ toàn nhận được tin Hiên Viên đại
thắng, chẳng ai nói Hiên Viên Thanh Dương đã xảy ra chuyện gì cả.”
Thiếu Hạo giải
thích: “Lúc đó tình hình rất căng, quân Thần Nông đang rối loạn, nếu
Hoàng Đế bỏ lỡ thời cơ ấy thì trận chiến lần này xem như công cốc,
bởi thế ngài lập tức dẫn quân tấn công ngay, chỉ kịp biết Thanh Dương
bị trọng thương chứ chưa hay y đã lìa trần.”
Xương Ý thê thảm nghĩ
thầm, Đại ca vì cứu phụ vương mới bị trong thương, ấy vậy mà phụ
vương chỉ chăm chăm dẫn quân công thành, chẳng buồn nán lại bên Đại ca
chốc lát, lẽ nào đối với ông, thiên hạ quan trọng đến thế sao?
“Đại ca thần lực cao
cường, nếu đã muốn cứu phụ vương, ắt phải có chuẩn bị sẵn, sao Xi
Vưu có thể một đòn… một đòn giết chết Đại ca!”
Nghe Xương Ý hỏi, A Hành
cũng sực nghĩ ra, bèn quay sang nhìn chằm chằm Thiếu Hạo, chất vấn: “Mấy năm
nay, tuy thần lực của Xi Vưu tăng vọt nhưng nếu giao chiến trực diện cũng không
thể nào một chiêu giết chết được chàng hay Đại ca!”
Thiếu Hạo chỉ biết đau
đớn làm thinh.
Nỗi kinh hoàng chợt dâng
lên ngập lòng A Hành, nàng lớn tiếng hỏi: “Đại ca và phụ vương nhắc tới chuyện
thuốc độc gì đó, nhưng thiếp nghiệm thi thấy không có độc, rốt cuộc là sao?”
Thiếu Hạo không dám đối
diện ánh mắt nàng, đành cúi gầm mặt, đăm đăm nhìn Thanh Dương, lí nhí: “Để bảo
vệ bản thân, Thanh Dương định bức Hoàng Đế thoái vị, Hoàng Đế phát hiện được,
liền đánh tráo thuốc độc, khiến Thanh Dương uống phải chính thứ nước mà y chuẩn
bị cho Hoàng Đế. Nhưng thật ra đến phút cuối Thanh Dương lại hối hận, y đã lén
đổi vò nước độc, thay vào đó là vò nước bình thường, nào ngờ Hoàng Đế đã phát
hiện từ sớm, liền ra tay đánh tráo vò nước độc trước cả y, lấy gậy ông đập lưng
ông. Khi y thay Hoàng Đế hứng chịu một chiêu chí mạng của Xi Vưu, chất độc đột
ngột phát tác khiến linh lực đứt đoạn…” Thiếu Hạo nghẹn lời, phải hít một hơi
thật sâu, lấy lại bình tĩnh mới kể tiếp được: “Từ khi nhận ra Thanh Dương có ý
khác, Hoàng Đế đã phái Di Bành ngày đêm theo dõi Thanh Dương, hôm đó chính Di
Bành phụ trách trấn giữ đại điện, hắn hẳn cũng biết hết mọi chuyện nhưng thay
vì kịp thời bẩm báo với Hoàng Đế, hắn lại ém nhẹm đi, mượn tay Hoàng Đế hạ độc
Thanh Dương, hung thủ thực sự hại chết Thanh Dương không phải là Xi Vưu, mà là
Di Bành.”
Xương Ý và A Hành nghe
đến ngẩn cả người, hồ vẫn chưa thủng cái vòng luẩn quẩn người hại ta ta hại
người kia.
Hồi lâu, Xương Ý bỗng
kinh hãi hỏi: “Huynh nói Đại ca định đánh độc giết phụ vương ư?”
Thiếu Hạo vội thanh
minh: “Không phải, chất độc đó chỉ khiến Hoàng Đế bải hoải toàn thân, không thể
xử lý triều chính, chứ không chết người. Thanh Dương chưa bao giờ có ý hại chết
Hoàng Đế.”
Xương Ý vặn tiếp: “Đồ ăn
thức uống của phụ vương đều có thầy thuốc kiểm tra, Đại ca lấy đâu ra thứ độc
qua mặt được cả đám thầy thuốc thế?”
Bây giờ A Hành mới hiểu
ra tất cả, nàng chợt thấy hai mắt tối sầm lại, đau đớn và phẫn uất ứ đầy lòng,
thân hình đổ gục xuống, Xương Ý phải cuống quýt đỡ lấy nàng. A Hành trợn trừng
hai mắt nhìn Thiếu Hạo, mấp máy môi mà không sao thốt nổi nên lời, sắc mặt xám
ngoét, cả người cứ thế run lên bần bật.
Thiếu Hạo vuốt nhẹ lên
quan tài của Thanh Dương, khẽ nói: “Là chất độc mà nàng phối chế cho ta đó,
nhưng chuyện này không liên quan gì đến nàng, đây là quyết định của riêng ta và
Thanh Dương thôi.”
Xương Ý kinh hoàng trợn
mắt nhìn A Hành, “Là, là muội… là thuốc độc muội phối chế?”
“A… a… a…” A Hành chẳng
còn nước mắt mà khóc, chỉ biết gào lên thảm thiết, hai tay liên tục đấm ngực
mình, chỉ hận không lóc da xẻo thịt bản thân mình ngay được.
Thiếu Hạo quỳ khuỵu một
gối xuống, ra sức giữ chặt lấy nàng: “A Hành, nghe này! Là do ta, đều tại ta
cả! Tại ta tự mãn, đánh giá thấp Hoàng Đế! Tại ta nhìn nhầm Thanh Dương, ta cứ
ngỡ y cũng giống như ta! A Hành, không liên quan gì đến nàng cả, không liên
quan gì đến nàng mà! Nàng chẳng hay biết gì cả, là ta đã gạt nàng!”
Thiếu Hạo thuật lại vắn
tắt mọi chuyện cho Xương Ý, nói rõ độc dược là mình nhờ A Hành phối chế để hạ
độc Yến Long, nhưng rồi lại lén tuồn cho Thanh Dương.
Xương Ý trừng trừng nhìn
Thiếu Hạo, mắt long sòng sọc, cánh tay bất giác giơ lên.
Thiếu Hạo quỳ sụp xuống
trước quan tài Thanh Dương, “Đệ muốn đánh muốn giết thì cứ đáng cứ giết đi!”
Mấy ngày nay, tuy vẫn ráng giữ vẻ bình thản nhưng thật lòng Thiếu Hạo cũng đau
đớn chẳng kém gì Xương Ý và A Hành, thế nên lúc này y chỉ hy vọng Xương Ý xuống
tay đánh mình.
Xương Ý một chưởng vung
ra đập mạnh vào người Thiếu Hạo, Thiếu Hạo cũng chẳng hề vận linh lực để kháng,
cứ quỳ thẳng tắp trước linh cửu Thanh Dương, mặc cho khóe miệng ứa máu. Đánh được
một chưởng, Xương Ý lại vung tay lên toan bồi thêm chưởng nữa, nhưng nhìn Thanh
Dương an lành nằm trong quan tài như ngủ, y không sao xuống tay được, keng một
tiếng, rút soạt kiếm ra, “Ta phải đi giết Di Bành!”
A Hành vội kéo y lại,
van nài: “Tứ ca, đừng kích động!” Xương Ý rảy mạnh A Hành ra, nhảy lên tọa kỵ
toan đi.
Thiếu Hạo liền quay phắt
lại, nhào tới nắm lấy lưỡi kiếm của Xương Ý, mặc bàn tay ròng ròng máu, một mực
khẩn thiết thuyết phục, “Xương Ý, hiện giờ đệ là con trưởng trong nhà, phải
gánh lấy trách nhiệm trông nom mẹ và muội muội thay Thanh Dương!”
Xương Ý bất giác đưa mắt
nhìn về phía Đại ca, cả người dần dần xụi lơ, giờ đây y đã trở thành con lớn,
không thể kích động như thế được.
Thấy Xương Ý có vẻ xuôi
xuôi, Thiếu Hạo bèn buông mũi kiếm ra, khuyên nhủ: “Nếu Thanh Dương qua đời, Di
Bành ắt hẳn trở thành kẻ duy nhất có thể kế thừa vương vị, hắn được các quan
giúp đỡ, thế lực càng ngày càng bành trướng, đệ chẳng những phải tự lo lấy thân
mà còn phải bảo vệ Luy Tổ, nhất định đừng để sơ sẩy.”
Hơn ai hết, Xương Ý hiểu
Di Bành rất căm hận mẹ của mình, một khi hắn đăng cơ, chắc chắn sẽ không tha
cho họ.
Thiếu Hạo lại nói: “Ta
có kế này may ra áp chế được Di Bành, Thanh Dương cũng đã tán đồng rồi.”
A Hành và Xương Ý đều
dồn mắt về phía y, Thiếu Hạo trình bày: “Chỉ có ta và A Hành biết được dược
tính của thuốc độc mà thôi, Thanh Dương thần lực cao cường, chắc hẳn Hoàng Đế
không tin một đòn của Xi Vưu mà giết được y đâu. Ta đã phong tỏa nghiêm ngặt
tin này, trừ ba người chúng ta, không còn ai biết về cái chết của Thanh Dương
cả.” Thiếu Hạo nhấn mạnh, “Cũng đừng để mọi người biết.”
A Hành và Xương Ý chợt
hiểu ra ý định của Thiếu Hạo, chỉ cần Thanh Dương chưa chết, đám triều thần
cũng chẳng dám về hùa với Di Bành, đây chính là biện pháp hiệu quả nhất để khắc
chế hắn.
Xương Ý còn đang trù
trừ, A Hành đã lên tiếng: “Thiếp đồng ý!” Thấy muội muội tán đồng, Xương Ý cũng
gật đầu.
Thiếu Hạo nói tiếp: “Ta
sẽ viết thư với Hoàng Đế rằng thầy thuốc thấy trong người Thanh Dương vẫn còn
chất độc, thương thế rất nặng, phải ở lại Quy khư bế quan trị thương, ít ra
cũng tranh thủ được một hai trăm năm.”
A Hành hỏi: “Lỡ phụ
vương phái người tới dò xét thì sao? Chúng ta lấy đâu ra Đại ca để đối phó
đây?”
Thiếu Hạo trỏ làn nước
dưới Quy khư, “Người đời thường nói Cửu vĩ hồ là giống giỏi biến hóa nhất, thật
ra còn thứ khác biến hình giỏi hơn Cửu vĩ hồ nhiều. Như nước kia, đựng bầu thì
tròn, đựng ống thì dài, ở trên trời hóa thành mây mưa hơi nước, ở dưới đất hóa
thành sương tuyết sông ngòi, ở trong người chúng ta lại trở thành máu huyết
sinh mạng.”
Nói rồi, Thiếu Hạo lập
tức biến Thanh Dương, giọng nói cử chỉ đều như khuôn đúc, “Ta quen biết Thanh
Dương đã hai ngàn năm, lại tu luyện thủy linh, nắm rõ pháp thuật của đối
phương. Hồi nhỏ chúng ta cũng từng tráo đổi thân phận náo loạn một phen, mọi
người đều nói Thiếu Hạo một mình đẩy lui mười vạn đại quân Thần Nông, thật ra
không đâu, đó là Thanh Dương và ta cùng làm.”
Xương Ý chăm chú nhìn
Thiếu Hạo, thấy y chẳng khác Thanh Dương mảy may nào.
Thiếu Hạo lại tiếp: “Nếu
ngày ngày ở bên, ắt sẽ phát hiện ra, nhưng hiện giờ Thanh Dương đang bị trọng
thương, nói năng cử động đều khó khăn, người đến thăm cũng chỉ có thể nhìn qua
mà thôi, bằng vào thần lực của mình, dẫu là Hoàng Đế đích thân tới đây, ta vẫn
tự tin ứng phó được.”
Bây giờ, A Hành mới hiểu
lời hứa của Thiếu Hạo với Đại ca trước lúc lâm chung, “Từ nay trở đi, ta chính
là Thanh Dương”, chẳng phải một cách so sánh, mà y quả thật đã trở thành Thanh
Dương. Đại ca hiểu ý Thiếu Hạo nên mới yên lòng ra đi.
Xét thấy kế sách của
Thiếu Hạo rất ổn, A Hành quay sang hỏi Xương Ý: “Có nên nói thật cho mẹ biết
không?”
Xương Ý đắn đo một hồi
rồi đáp: “Chúng ta đau khổ đến mấy cũng chẳng bằng phân nửa nổi đau của mẹ đâu.
Vân Trạch qua đời, mẹ đã chết nửa cõi lòng, tới lượt muội chìm dưới đáy Ngu uyên,
nửa cõi lòng của mẹ cũng chết lặng, nếu giờ biết chuyện Đại ca lìa trần, e rằng
mẹ…”
A Hành gật gật đầu rồi
trừng mắt nhìn Thiếu Hạo, vẻ căm hận vẫn hằn lên trong mắt, hồi lâu, nàng mới
buồn rầu nói: “Sau này mọi chuyện đều nhờ cả vào chàng.”
Thiếu Hạo thừ người,
lẳng lặng khôi phục nguyên dạng, triệt tiêu linh lực, để quan tài băng mang
theo Thanh Dương từ từ chìm xuống Quy khư. Xương Ý và A Hành đứng cạnh nhau,
cùng lưu luyến nhìn Đại ca. Y chết đi rồi, nhưng bọn họ vẫn được uy thế của y
bảo vệ.
Hoàng Đế nhận được thư
Thiếu Hạo liền phái Ly Chu, Ứng Long và Xương Phó đưa Luy Tổ tới Cao Tân thăm
Thanh Dương.
Luy Tổ đứng ngoài cửa
động nhìn Thanh Dương đang bế quan trị thương dưới đáy Quy khư, lặng thinh
không nói.
Biết Ly Chu là tâm phúc
của Hoàng Đế, A Hành âm thầm dò xét nét mặt ông ta, nhưng Ly Chu chẳng hề tỏ vẻ
nghi ngờ, chỉ mãi buồn rầu an ủi Luy Tổ.
Ứng Long chợt lo lắng
hỏi: “Thần có thể làm gì cho điện hạ đây?”
Luy Tổ gượng cười đáp:
“Thanh Dương tu luyện thủy linh, Quy khư này lại là cội nguồn vạn thủy, linh
khí dồi dào, hiện giờ chỉ cần kiên trì trị thương thôi.”
Luy Tổ định nán lại ít
ngày, còn Ly Chu và Ứng Long thấy mình chẳng giúp được gì nên muốn xin về Hiên
Viên bẩm báo với Hoàng Đế về tình hình của Thanh Dương.
Trước khi giã biệt, Ứng
Long còn tới gặp riêng Xương Ý để tạ tội, vừa nói được một câu đã quỳ xuống
trước mặt Xương Ý, Xương Ý phải đỡ y dậy, Ứng Long nói: “Nhờ điện hạ chuyển lời
cho Đại điện hạ, nếu không có Đại điện hạ, thần đã chết rũ xương từ lâu rồi,
ngày sau nếu gặp việc gì thần có thể góp sức, xin lập tức báo cáo ngay với
thần.”
Xương Ý vội vàng cảm tạ.
Đợi Ứng Long đi khỏi, y liền kể lại chuyện này với A Hành, nàng nói: “Những bề
tôi như thế trong triều chẳng phải chỉ có Ứng Long, có lẽ đây chính là lý do
Thiếu Hạo muốn Đại ca sống, chỉ cần Đại ca còn đó, bọn họ nhất định sẽ không về
phe Di Bành.”
Mười mấy ngày sau, A
Hành, Xương Ý và Xương Phó cùng đưa Luy Tổ về Hiên Viên sơn. Vừa về đến Triêu
Vân phong, họ chợt thấy Triêu Vân điện hằng ngày vắng vẻ hôm nay lại náo nhiệt
bất ngờ.
Bước vào điện, cả bốn
trông thấy Tam phi Đồng Ngư thị đang sai phái đám thị nữ tra xét khắp nơi, lúc
thì chê chỗ này sơ sài, khi lại nói màu sắc chỗ nọ không hài hòa.
Chu Du luống cuống theo
sau Đồng Ngư thị, tới một hốc tường, bà ta đột nhiên thò tay vào, cầm hộp ngọc
vuông vắn trong hốc lên, “Cái giẻ rách gì thế này? Để đây vướng cả mắt!”
Chu Du nôn nóng, liền
buột miệng la: “Đừng đụng vào!”
Đồng Ngư thị giận giữ
quát: “Ngươi bảo ai đấy hả? Vả vào miệng cho ta!”
Hai ả cung nữ vạm vỡ
nhanh như cắt túm lấy Chu Du, bắt đầu vả miệng. Chu Du chẳng dám phản kháng,
chỉ biết vật nài: “Đại điện hạ đã căn dặn, không ai được đụng vào hộp ngọc đó.”
Đồng Ngư thị phá lên
cười, “Thế hả?” Dứt lời, bà ta đập luôn chiếc hộp xuống đất vỡ tan, mấy mảnh
xương người cháy xém vung vãi cả ra sàn.
Đồng Ngư thị cười nhạt,
nghiến răng toan giẫm lên đó.
“Các ngươi làm gì ở đây
vậy?”
Đồng Ngư thị nghe tiếng
ngẩng lên, Luy Tổ bước vào cửa điện, trông thấy mấy mảnh xương dưới chân Đồng
Ngư thị, sắc mặt chợt tái nhợt.
Xương Ý cố nén giận,
hành lễ với Đồng Ngư thị, “Đó là xương cốt của gia huynh, xin nương nương cẩn
thận giùm.”
Đồng Ngư thị làm bộ áy
náy, “Ai da, ta không biết, thật là có lỗi.”
Nói rồi bà ta vội vã lùi
lại, chẳng những tránh không được mà còn giẫm bừa lên đống xương cốt, khiến mấy
mảnh xương vỡ vụn.
Bà ta liền hốt hoảng tạ
lỗi: “Cái này, cái này… ai, thật thất lễ quá, ta đã bảo đừng ghé qua đây, nhưng
Di Bành lập được công lớn, vừa được phong làm Đại tướng quân, Hoàng Đế thấy ta
thích phong cảnh Triêu Vân phong nên mới gia ân cho ta đi dạo một vòng.” Bà ta
nhặt mớ xương tàn dưới đất, hai tay dâng tới trước mặt Luy Tổ: “Tỷ tỷ, muội xin
lỗi nhé.”
Luy Tổ xám mặt lại,
loạng xoạng muốn ngất đi, Xương Phó phải vội vã chạy tới dìu đỡ.
Xương Ý tức giận đầy
ruột nhưng miệng lưỡi vụng về, không sao đối đáp được với bà ta, chỉ biết giơ
tay toan rút kiếm.
Thấy vậy, A Hành vội giữ
tay y lại rồi bước chân trước mặt Luy Tổ, rút khăn lụa ra, thận trọng nhận lấy
nắm xương tàn đã cháy sém.
Đồng Ngư thị liền cảm
thán: “Ai! Tội nghiệp quá đi mất! Đường đường là một trang nam nhi cao lớn hiên
ngang như rồng như hổ, thế mà giờ chỉ còn nắm xương tàn!”

