Biểu Tượng Một Dòng Họ - Chương 04 - Phần 1
IV
Dịp-lông-mũi được ông
Bá phái qua tàu Tầu thỉnh thầy Giàng Tắc Koóng tìm đất để sang cát cho cụ Hội.
Dịp muốn đi nhưng vẫn vờ:
- Thưa ông, lần làm ma
cho cụ Hội, phải cần pháp sư cao tay để trừ trùng. Còn lần này chỉ là cải cát,
ông tìm thầy ta cho đỡ tốn. Nhiều thầy ta cũng tinh thông địa lý không kém.
Nghe có vẻ người đầy tớ
thật lòng xót cho cái hầu bao của chủ mình. Ông thấy cần phải giảng giải cho nó
nhận thức thấu đáo trọng trách ông giao:
- Tốn mấy cũng phải nhờ
thầy Tầu bằng được. Dỏng tai lên nghe tao phân tích đến ngọn nguồn lạch sông
cho mày hiểu này, không chỉ ngày nay mà từ thượng cổ, dân An Nam mình vẫn mê Tầu.
Đã là hàng, cứ phải hàng Tầu mới là tốt. Mày kể vài món tao nghe.
- Thưa ông, táo Tầu, mực
Tầu, chè tầu.
- Đúng. Lại có những thứ
chẳng phải hàng họ, cũng cứ phải là “Tầu” mới được coi là đích thực. Mày có nhớ
mấy lần con mẹ Duyên thợ dệt gãi ghẻ như phát cuồng?
- Dạ con vẫn nhớ - Dịp
suýt phì cười khi nhớ lại... Toàn thể gia nhân đang quây quần ăn cơm trưa quanh
cái chõng tre chạy suốt ba gian nhà gạo, bỗng nhà Duyên gãi lấy gãi để hết cánh
tay này sang cánh tay kia. Rồi như thấy không còn đủ chỗ xoay sở gãi ngứa, nó
chạy ra sân, vừa kêu “Ối cha mẹ ơi, ối cha mẹ ơi!” vừa cuống cuồng gãi lấy gãi
để. Nó ngồi phệt xuống sân gạch nóng bỏng ngày hè vừa lia lịa mài đít xuống vừa
suýt xoa. Rồi thoắt cái đứng phắt, lao đến mài lưng vào bể nước, đến lúc lưng
toạc da rớm máu mới dừng – Ông ơi, giá nó mọc đủ vài chục tay mới gãi cho thỏa
cơn.
- Ghẻ đến mức ấy thì chỉ
có là ghẻ Tầu. Nào đã hết. Có cả đĩ tầu nữa mới chết chứ. Cũng là đĩ ta thôi
nhưng có nghệ thật tinh kích sướng đàn ông đến độ thành mê thành mẩn tột độ.
“Ăn cơm Tầu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”’. Tây hơn được cái nhà. Nhưng chả ai gọi
“phân tây, đĩ tây, ghẻ Tây”. Vậy là cái anh Tầu vẫn trội hơn hẳn. Các quan hay
mở tiệc bằng cơm Tây, chỉ có vài món ăn được, còn đâu phải nhắm mắt nhắm mũi mà
nuốt. Nhất là cái anh pho mát, chả biết sau này có quen khẩu vị, chứ lần ấy muốn
ọe ngay tại bàn. Thum thủm như cứt. Chưa kể mùi bơ, y hệt mùi bọ xít. Từ vua
chúa đến dân đen đều quen ăn cơm với các món xào, rán, ninh... Ăn cơm Tây phải
ăn bánh Tây(1) thay cơm, ăn mãi bố ai chịu được! Rồi gà để cả con
khoái sơi chỗ nào thì xẻo chỗ ấy, lấy đinh ba đinh tư đâm thịt rồi đưa lên mồm.
Không khéo đánh tuột xuống đất ráo. Tao ấy à, có lấy đòn xăng-tan(2)
bắt tao phải khen cơm Tây thì tao vẫn cứ “thích xơi cơm Tầu”. Rút cuộc đến thầy
thì cũng phải thầy Tầu mới cao tay được.
_______________________________________________
(1)
Bánh mì.
(2)Maison Centrale: trung tâm giam cầm,
tra tấn.
Dịp đưa đẩy, nhằm kích
thêm máu Tầu của chủ:
- Thưa ông, thời buổi
này cũng khối kẻ cố tập giọng lơ lớ “ngổ là ngổ không biết cái lỉ mu ón gì!” để
đóng giả thầy Tầu. Dễ bị lừa lắm. Tiền mất tật mang như chơi...
- Thế... tao mới cho mày
sang Vân Nam tìm thầy Giàng Tắc Koóng.
- Vâng, nghe ông rành rẽ
thế, con thấy vững bụng để mai lên đường – Chỉ “vững bụng” thôi ư? Sao không
nói toạc ra “sướng mê” cho thật lòng. Lần trước đi Tầu, nhờ bản chất ranh ma, Dịp
đã biển lận được lưng vốn kha khá. Ngoài ngón vặt chi ma, anh còn bày ra những
lần nghỉ trọ không cần thiết, ở quán trọ hạng xoàng nhưng lại khai tửu điếm. Rồi
những bữa chén, cố ý tạo ra ách tắc giả tạo để kéo dài hành trình và hành trình
dài ắt tốn kém hơn rồi. Chi phí cho việc làm lợi dòng họ thì ông Bá không bao
giờ khằn khèo. Dịp hiểu tính ông hơn ai, nên tận dụng khai thác triệt để. Lần
đi này kinh nghiệm đục khoét đã dày dạn hơn, nên thu thập sẽ không thể thấp hơn
lần trước. Gần nửa tháng dặm trường cùng Dịp, được chăm lo, cung phụng chu đáo,
thầy Koóng muốn trả ơn Dịp bằng một quẻ tử vi:
- ... Tôi vừa nói anh
tháo vắt, tinh khôn, ranh ma thì chẳng cần xem vân tay cũng biết. Nhưng vân tay
anh cũng đã lộ ra hết đây này – ông dúi ngón tay trỏ vào – Anh ranh ma, ăn người,
nhưng người vẫn phải cầu cạnh anh. Đấy là lợi thế lớn của anh. Anh sống nhờ nó
mới khá được. Anh có thường cắt lông mũi không mà dài thế?
- Dạ, đôi lần để phó cạo
cắt.
- Thôi từ nay cứ để nó
mọc. Chớ cắt. Quẻ nói anh đắc thọ nhờ lông mũi anh có trường đoạn, càng trường
càng thọ. Cắt đi đoạn nào thì giảm thọ đoạn ấy.
- Ối giời ơi – Dịp giãy
nảy – thế thì lão phó cạo cắt mất của em biết bao nhiêu là thọ rồi. Thôi từ
nay, em thề không động đến một cái lông chân, à quên lông mũi nữa.
Thế nên lông mũi Dịp cứ
theo năm tháng mà dài ra, thành hai búi như hai ngòi bút đen xì, thò tới môi.
Từ xa, hai túm lông ấy
đã đập vào mắt người ta. Cái tên Dịp-lông-mũi hình thành. Để mô tả một cách hài
hước người xấu mã, thô nết thì “lông nách một lạng, chè Tầu một hơi”. Còn Dịp
“lông mũi một lạng...”, và hoàn toàn đúng như câu ca, anh uống trà theo kiểu ực
hai ực là nhẵn tách.
Lý do lần này ông Bá lại
thỉnh thầy Koóng là ngoài tay nghề cao nên thầy đã giữ cho việc làm ăn của
trang viên vẫn phát đạt như trước, còn vì lời tiên đoán của thầy – “bà Quỳnh sẽ mất trí”, chỉ sau
tang lễ ít hôm đã thành sự thật. Đôi lúc bà tủm tỉm cười vô cớ, ít chuyện trò với
các em, hay lần ra chỗ vắng ngồi một mình và lầm rầm độc thoại. Bà đặc biệt
thân thiết với cô Mận – một gia nhân chuyên đảm trách việc nấu cơm cho khách khứa
và quét dọn bốn ngôi nhà cùng hai cái sân. Bà gọi Mận vào buồng mình bảo:
- Tao ế chồng. Tao cho
mày làm con nuôi tao. Rồi tao gây dựng chồng con cho mày. Từ rày, hai mẹ con
mình chăm nhau.
- Con được làm con bà
thì phúc nhà con to bằng cái đình.
- “Làm con bà”, bà nào?
Phải nói “làm con bu”.
- Vâng, nhà con đại
phúc, thì mới được bu nhận làm con.
Và đúng như lời phán của
thầy Koóng, cứ mồng một hàng tháng, bà Quỳnh đêm đến đều lui vào buồng, tắt đèn
rồi ngồi xì xầm tới khuya. Ông Bá biết chị mình đang chuyện trò với linh hồn
cha ông. Ông thắp hương, quỳ
trước cửa buồng, cung kính dâng hương ngay trán, mắt nhắm, hướng lòng mình về
các anh linh tiên tổ. Hôm sau, ông săn đón gặp chị để dò hỏi đời sống dưới âm
ra sao. Và đôi lần, nhờ những thông tin của chị mình, ông kịp thời cúng bái,
kêu cầu, nên đã giải tỏa không ít những vụ việc dưới địa phủ, chẳng hạn như em
Còi – em ruột ông Bá, chết non lúc 15 tuổi – bị quỷ sứ bắt oan, vụ bọn xấu đào
chuột suýt chạm long mạch mộ cụ Hội bà.
Tuy vậy, bà cũng gây ra những phiền, thậm chí đau lòng cho ông Bá. Hôm ấy,
quan huyện về kinh lý tại thôn Mây. Được ông Bá mời ghé trang viên “xơi nước”.
Nhè đúng lúc quan đang “xơi nước”, bà đẩy cửa xô vào. Cửa phải đóng kín để người
khác khỏi thấy cảnh quan hút xách bệ rạc. Ông bá vội đẩy bà ra. Thế là bà tru
tréo lên như bị hành hạ oan ức, quan ngớ ra không hiểu đầu cua tai nheo thế
nào. Ông phải giải thích mãi để quan khỏi phải phật lòng. Ông nhanh trí gọi Mận
ra một chỗ:
- Rủ bà ấy vào buồng, bảo biếu bu cái này – ông chìa
tờ một đồng bạc Đông Dương rồi dúi vào tay nó.
Ngoài Mận ra, ở trang viên này, không ai có khả năng trấn an được bà khi dấy
cơn. Như trường hợp vừa rồi, nếu không có cái Mận, có lẽ bà khóc đến mấy ngày.
Một lần khác, bà ru con suốt buổi sáng. Ông Bá nghe rát tai, khó chịu:
- Gốm, hát ăn hay hát để mà hát lắm thế! Be bé cái mồm một tí.
Thế là bà khóc như cha chết và gào đến tận chiều:
- Giời ơi, tôi ru con tôi mà người ta cũng chửi tôi. Thầy ơi về xem thằng
Bá nó chửi con đây này – cứ thế bà vật vã trước bàn thờ tổ. May cái Mận đến kịp,
nó rủ:
- Bu ơi, con thấy đầu bu có trứng chấy đấy. Xuống dưới buồng bu, con bắt
cho.
Bắt chấy xong thấy bà vẫn còn sụt sịt mếu máo, Mận móc đồng xu giắt ở cạp
quần ra:
- Con biếu
bu ăn bánh đúc. Thôi bu nín đi cho con quét sân nào – Thế là êm hẳn. Ông Bá biết
chuyện đó, nên về sau nếu bà chị “ăn vạ” thì lại đưa tiền cho cái Mận. Được con
Mận cho đồng nào, bà đều đem gửi em trai:
- Chị gửi
em giữ hộ. Đến khi con Mận về nhà chồng, chị cho nó làm vốn riêng.
- Được, bà chị cứ đưa cả đây tôi giữ cho. Như
bỏ cua vào giỏ nhá.
- Sao nói với
chị mà cứ “bà bà, tôi tôi” thế? Người ngoài nghe thấy họ cười cho.
- Vâng, em
quên. Chị bỏ qua cho em nhá.
Nghe vậy,
bà chị cười rất hồn hậu và nhìn ông bằng ánh mắt hết sức trìu mến. Những lúc ấy
không ai dám bảo bà là người mất trí.
Ông Bá
thương bà hơn tất cả những chị em còn lại, do tình máu mủ là trước nhất, xót xa
cho cuộc đời người chị vốn hiếu thảo với phụ mẫu và trách nhiệm với các em, với
mọi việc lớn nhỏ của gia đình bên nội lẫn bên ngoại, nhưng vì cao số mà duyên
phận chưa đậu, mặc dù có không ít đám danh giá rấp ranh, giờ thành một người bị
người dời xem thường. Nhiều đêm, tiếng ru con ời ợi từ phòng bà đánh thức khiến
ông không sao ngủ lại, lòng như bị dao cứa vì cái nghịch cảnh: Chị chưa hề được
hưởng hạnh phúc của tình vợ chồng, tình mẫu tử, lại ru mãi đứa con vô hình. Ông
ngao ngán thở dài rồi nước mắt ứa ra. Ông là người mạnh mẽ mà phải nhỏ lệ, chứng
tỏ tình máu mủ trong ông sâu sắc đến mức nào. Bên cạnh tình thương, ông còn
bày tỏ lòng kính trọng đặc biệt với chị, người đàn bà duy nhất ở dương gian
được trời phú cho thiên năng, người không thể thiếu trong đời ông, cũng như
trong dòng họ. Ông tự xác định trách nhiệm phải chăm chút bà hết sức chu đáo,
hơn cả bản thân…
Dịp và thầy
Koóng về đến trang viên lúc nhá nhem. Lúc này ông Bá đang tiếp rượu thầy. Trên
sập có đến ba hũ rượu thuốc và một hũ sâm nhung trần. Thầy nhắp lần lượt các
ly, ly đầu từ hũ da lươn, ly sau từ hũ ngà, đến ly từ hũ sứ Giang Tây thì gật
gù lẩm bẩm như chỉ đủ để mình nghe:
Thang “kích
hoa” đích thị. Không đúng đem ngay đầu tôi ra mà trảm.
Ông Bá phát
vào đùi đánh đét:
- Ối giờ! Khẩu vị của
thầy đúng là thần! Là nó đấy. Khi nhà vua hạ chiếu ban Cửu phẩm bá hộ cho tôi,
Người ban thưởng luôn danh đơn đó. Hiện giờ tôi vẫn cất giữ trong hòm sắc(1)
trên bàn thờ. Nhờ thang này mà tôi gần lục tuần vẫn thấy như trai tráng. Chẳng
giấu gì thầy tôi đang học võ Tầu. Ngày nào tôi cũng ngâm mình trong thang kích
hoa một tiếng.
_____________________________________
(1) Hòm nhỏ đựng sắc do vua phong.
- Đẳng cấp
nào rồi?
- Chưa thi
thố nên chưa được ai xếp đẳng cấp. Riêng các ngón đá được các võ sư đánh giá là
“độc”.
- Liệu đạt
mức gây cảm giác “thần sầu quỷ khốc” như ngón của võ sĩ Tào Hiệt đời Minh
không?
- Dạ, đâu
dám so với tiền nhân. “Quỷ khốc” thì chưa rõ, chứ “ngưu khốc” thì có rồi.
Ông kể lại
vụ đá trâu mộng. Theo quan điểm của ông, thủ đắc võ nghệ là để tự vệ hoặc trừ
diệt kẻ hãm hại mình. Chúng có thể từ bên ngoài, cũng có thể ở ngay tròn hàng
ngũ gia nhân. Biết đâu có thằng ăn phải bùa ngải của kẻ ác, rắp tâm hạ sát mình
thì khi nghĩ đến những đòn võ ta tung ra, phải từ bỏ ngay âm mưu. Thế là ông thể
hiện ngay với con trâu mộng đầu đàn trước bọn gia nhân. Chỉ cần con trâu không
chịu nổi, lồng lên là đạt yêu cầu. Một phát chân trái tung ra, nó chỉ gượng đứng
được chưa đầy nửa phút là đổ vật xuống, bốn vó giơ lên quờ quạng, mắt lác xệch
đi.
- Tôi cuống
không biết xử trí thế nào. Vô cớ tự tay mình mang trâu ra giết, khác nào thằng
điên! Mấy thằng gia nhân vẫn trơ mắt ếch ra nhìn. Vừa lúc võ sư của tôi đến, cười
hỏi tôi ra đòn chỗ nào. Tôi chỉ vào ngọc hành con trâu. Thầy tôi sai hai thằng
gia nhân kéo hai cẳng sau nó dạng háng ra, tức khắc Người chém bàn tay thật lực
vào bẹn nó. Chừng một phút sau, con trâu hồi lại rồi bò dậy. Thầy tôi bảo: May
mà trò thử lên trâu, chứ lên người thì hết cứu. Trúng đòn mà còn ngắc ngoải là
còn cứu được.
- Tôi cũng
nghe nói có nhiều võ sư có nghệ điểm huyệt cứu mạng rất thần tình – thầy Koóng
tâm đắc.
-Vâng ở Việt
Nam gọi là “lấy độc trị độc”. Bị ong đốt, nọc làm ta đau đớn, nặng quá có thể
tịch, nhưng nọc dùng đúng liều lại chữa được bệnh khớp và đau thần kinh tọa.
Ông Bá nhớ
cách này dăm tháng, ông đưa võ sư về nhà, rồi ngày ngày luyện tập, cứ sáng ra
là huỳnh huỵch tới trưa. Bà cả phát ớn, lườm chồng:
- Dửng mỡ,
động cỡn hay sao mà gần kề miệng lỗ lại võ vẽ suốt ngày. Học võ để đánh ai? Sốt
ruột!
-Bà ơi, bà
cạn nghĩ lắm. Vùng Tiên Lãng, Vĩnh Bảo bên kia sông, cướp bóc nổi lên như rươi.
Nhà mình chắc bị khuất nên chúng nó không nhìn thấy? Ở huyện mình mới chỉ có cướp
đường, chưa có cướp nhà, nhưng bọn đầu trâu mặt ngựa sẽ học theo bọn kia ngay.
Đói ăn vụng, túng làm càn mà. Thời này ai cũng cất của kín. Khó ăn vụng, hẳn
phải ăn cướp. Rồi bà sẽ thấy. Chúng biết tôi giỏi võ, ắt phải chờn. Mình không
lo sớm, để như ông Chánh tín bị chúng vét sạch gia sản, bây giờ đang ngồi hối hận
ở âm cung.
- Gớm,
thôi! Nói gì mà toàn điều gở! Nghe kinh cả người! Phỉ thui cái mồm ông! Bao
nhiêu câu ông nói gió bay lên giời hết. Thôi từ nay mặc kệ ông. Võ Tầu, võ Tây,
võ Nhật tha hồ mà học. Đùng có ốm ra là được rồi.
Men đã ngấm
vào phủ tạng, giờ lên đến môi và lưỡi thầy:
- R… ượu
“kít ha” nhắm với chim câu hầm thế này thì… quê đường vè mat thoi (quên đường về
mất thôi).
- Thầy
thích thịt chim này, từ mai sẽ thết thầy hàng ngày. Nhà nuôi tới 200 con.
- Thế cơ à.
Lúc nãy trời chưa tối, làm sao bắt được chim để hầm?
- À, tôi
không bao giờ bắt, chỉ vụt. Xùa cho cả đàn cất cánh bay ngang mặt, định con nào
là vụt trúng con ấy. Bách phát bách trúng. Sáng sớm mai mời thầy thưởng thức
tài mọn ấy.
Hôm sau, thầy
Koóng song ẩm với ông Bá. Thầy lấy ra lọ chè Tân Cương, loại hảo hạng của Tầu,
biếu ông Bá, ông bá tự tay pha rồi nhắp:
- Đúng là chè Tầu! Hương
thì... khó tả lắm. Nói thơm thì chẳng khác nào khen những loại
khác. Nói thế nào cho tận ý để lột tả nhỉ? Tân cương, tân hương, tân
cảm xúc, làm ta quên hẳn hương vị quen, khiến ta như bay lâng lâng trong
hương hoa đồng nội có pha lẫn chút ngoại nhập. Còn vị thì mãi mãi
đủ sức vô vị hóa mọi loại chè ngon ở An Nam.
- Lần trước vướng việc tang,
tôi chưa được thưởng thức khẩu khí của ông. Đúng là con nhà tông
thật...
Thầy bỗng ngừng phắt, trố mắt
trân trân tới vài phút, trong lúc ông Bá ngồi đờ ra như bị ma nhập.
Thầy nghiêng mình về phía ông, hỏi:
- Vừa rồi ông có thấy gì khác
trong người?
Ông Bá sắc mặt hơi bệch đi do
bị choáng một lát, chợt trấn tĩnh:
- Như có rôm đốt toàn thân, xung
quanh bất chợt tối sầm. Những năm trước thỉnh thoảng tôi cũng như
vậy, chỉ vài phút sau là tỉnh lại ngay.
- Tôi vừa thấy người ông có
hào quang phát ra, đỏ chói.
- Người tôi tỏa hào quang? Tôi
chưa hiểu thầy nói gì. Tôi chả thấy gì ngoài màu trắng tôi đang mặc
- ông cúi nhìn quần áo và túm vạt áo chìa ra.
- Để tôi nói kỹ ông mới thấu
hiểu được hiện tượng này.
Vừa lúc, chim câu từ buồng bay
ra, dàn kín sân trước. Thằng Bỉnh, cháu đích tôn của ông, vừa dụi
mắt vừa chạy đến bên:
- Ông ơi, cháu đọc "Tam
thiên tự" nhá.
- Đã đến hạn đọc đâu, đến
ngày kia cơ mà.
- Hôm qua, cháu thuộc hết rồi.
Thiên - giời, địa - đất, cử - cất, tử - con, tôn - cháu... Cứ như thế,
nó làm một mạch tới 15 phút. Ông nó phải cắt:
- Bỉnh này, để chốc nữa đọc nhá. Giờ
ông bận với thầy đây... À ông quên, cháu xùa chim hộ ông với – quay sang thầy –
khi cần vụt chim, tôi vẫn phải nhờ nó xùa hộ. Cháu xùa, ông vụt, cấm chệch con
nào? Con có lông chân nhá? Con có lông chân... Xùa đi, cháu.

