Những đứa con của nửa đêm - Phần II - Chương 18 - Phần 1

Chương
18: Cây dùi cui của Trung tá Sabarmati

Mấy
tháng sau, khi Mary Pereira sau cùng đã thú nhận tội lỗi của cô, và tiết lộ bí
mật về việc mười một năm bị hồn ma của Joseph D’Costa theo ám, chúng tôi mới
biết rằng, sau khi lưu đày trở về, cô choáng váng trước tình trạng mà hồn ma đã
rơi vào khi cô vắng mặt. Nó đã bắt đầu mục rữa, dẫn đến một số thứ đã tiêu
biến: một cái tai, mấy ngón chân, hầu hết răng; và có một cái lỗ to hơn quả
trứng ở giữa bụng. Lo âu vì cái hồn ma đang rữa nát này, cô hỏi nó (khi chắc
chắn không ai nghe được) “Lạy Chúa, Joe, anh đã làm gì bản thân thế?” Gã đáp
lại rằng trách nhiệm về tội lỗi của cô đã dồn cả lên vai gã cho đến chừng nào
cô thú nhận, và nó đang hủy hoại cơ thể gã. Từ thời khắc đấy, việc cô thú nhận
đã trở thành tất yếu; nhưng mỗi lần nhìn tôi cô lại thấy có gì ngăn cản cô làm
điều đó. Tuy nhiên, đó chỉ là vấn đề thời gian.

Trong
khi đó, và hoàn toàn không biết mình sắp bị bóc mẽ là kẻ mạo danh đến nơi, tôi
đang cố gắng đón nhận trở lại một Điền trang Methwold đã có một vài thay đổi.
Trước hết, cha tôi dường như không muốn dính dáng gì đến tôi nữa, một thái độ
làm tôi thấy tổn thương nhưng (nếu xét cơ thể tàn khuyết của tôi) hoàn toàn dễ
hiểu. Thứ hai, vận may của con Khỉ Đồng đã thay đổi rõ rệt. “Vị trí của mình ở
nhà này,” tôi buộc phải tự thừa nhận, “đã bị tiếm đoạt.” Bởi bây giờ chính con
Khỉ mới là đứa được cha tôi cho phép vào chốn ẩn cư trừu tượng là văn phòng của
ông, con Khỉ là người bị ông ôm đến ngạt thở vào cái bụng nhão xệ, và là người
buộc phải gánh vác những giấc mơ của ông về tương lai. Tôi còn nghe thấy Mary
Pereira hát ru con Khỉ bằng bài đồng dao từng là ca khúc chủ đề của tôi suốt thời
thơ ấu: “Bất cứ gì con muốn thành,” Mary hát, “con sẽ được; Con sẽ được thành,
bất cứ gì con muốn!” Cả mẹ tôi dường như cũng lây tâm trạng ấy; và giờ em gái
tôi là đứa được phần khoai tây chiên lớn nhất vào bữa tối, rồi phần nargisi
kofta[1] thêm, rồi phần pasada[2] ngon nhất.
Trong khi tôi – bất cứ khi nào ai đó trong nhà tình cờ nhìn tôi – cảm thấy rõ
một nếp hằn sâu giữa lông mày họ, và một bầu không khí lúng túng và nghi ngại.
Nhưng tôi đâu thể phàn nàn? Con Khỉ Đồng đã chịu đựng vị trí đặc biệt của tôi
ngần ấy năm. Chỉ trừ có lần tôi ngã từ trên cây ngoài vườn xuống sau khi nó
huých tôi (mà nói cho cùng cũng có thể chỉ là tai nạn), nó đã chấp nhận vị thế
quan trọng của tôi với sự độ lượng tuyệt vời và cả lòng trung thành nữa. Giờ
đây tới lượt tôi; đã mặc quần dài, tôi cần tỏ ra người lớn trước việc bị giáng
cấp. “Cái sự trưởng thành này,” tôi tự nhủ, “khó khăn hơn mình tưởng.”

[1]
Thịt viên.

[2]
Thịt nấu cà ri trộn xốt kem sữa chua.

Phải
nói rằng con Khỉ ngạc nhiên không kém gì tôi trước việc được thăng cấp thành
đứa con cưng. Nó cố gắng hết sức để bị thất sủng, nhưng dường như nó không thể
mắc lỗi. Dạo ấy nó bắt đầu dan díu với đạo Thiên Chúa, một phần vì ảnh hưởng
của đám bạn người Âu ở trường và phần khác nhờ sự hiện diện luôn tay lần tràng
hạt của Mary Pereira (người, không thể đến nhà thờ vì sợ hãi buồng xưng tội, sẽ
chiêu đãi chúng tôi những sự tích trong Kinh Thánh); tuy nhiên, tôi tin phần
lớn đây là một nỗ lực của con Khỉ nhằm giành lại vị trí cũ, dễ chịu của nó
trong cũi chó[3] của gia đình (và, nhân nói chuyện chó, Nữ nam
tước Simki đã an giấc ngàn thu khi tôi vắng mặt, bị thói lang chạ ru vào giấc
ngủ).

[3]
Nguyên văn: in the doghouse, nghĩa bóng là bị vào sổ đen, bị ghét bỏ.

Em
tôi hết lời ca ngợi Đức Jesus dịu dàng hiền hậu[4]; mẹ tôi cười lơ
đãng và vỗ vỗ đầu nó. Nó đi quanh nhà ngâm ngợi thánh ca; mẹ tôi nhập tâm giai
điệu rồi hát theo. Nó đòi một bộ đồ nữ tu thay cho bộ váy y tá ưa thích; yêu
cầu ấy được chuẩn y. Nó lấy chỉ xâu hạt đậu gà thành tràng hạt, và lầm rầm
Kính-mừng-Mary-đầy-ơn-phước, và bố mẹ tôi khen nó khéo tay. Dằn vặt vì không
thể bị trừng phạt, nó vươn đến đỉnh điểm của sự sùng đạo, tụng Đức Chúa Cha từ
sáng đến tối, nhịn ăn trong Mùa Chay thay vì vào Lễ Ramzan[5], qua
đó hé lộ dấu hiệu không bị nghi ngờ của sự cuồng tín mà, về sau, sẽ bắt đầu chi
phối tính cách con bé; thế nhưng, có vẻ như, mọi người vẫn chịu đựng nó. Sau
cùng, nó trao đổi với tôi. “Chà, anh ạ,” nó bảo, “xem ra từ giờ trở đi em đành
phải làm con ngoan, còn mọi trò vui sẽ về phần anh.”

[4]
Câu đầu trong một bài thánh ca do Charles Wesley, người khởi xướng Phong trào
Giám lý (Methodist) vào giữa thế kỷ 18, sáng tác.

[5]
Mùa Chay (Lent) là thời gian bốn mươi ngày trước lễ Phục sinh, là thời gian
nhịn ăn của tín đồ Cơ đốc; còn Ramzan (Ramadan) là tháng nhịn ăn của đạo Hồi.


lẽ nó đúng; sự thiếu quan tâm rõ ràng của cha mẹ đối với tôi lẽ ra đã dành cho
tôi một phạm vi tự do lớn hơn; nhưng tôi chìm đắm trong những thay đổi đang
diễn ra trên mọi khía cạnh cuộc sống của tôi, và trò vui, trong hoàn cảnh ấy,
là thứ khó mà có được. Tôi đang biến đổi về thể chất; chưa gì, râu tơ đã lún
phún nơi cằm tôi, còn giọng tôi lên bổng xuống trầm, ngoài tầm kiểm soát, trên
thang âm vực. Tôi cảm nhận sâu sắc sự kỳ dị của bản thân: tứ chi dài ra làm tôi
trở nên lóng ngóng, và bộ dạng tôi hẳn là rất hề, bởi vì tôi lớn nhanh vượt hết
áo quần và tay chân lộc ngộc thòi hẳn ra ngoài quần áo. Tôi cảm thấy mình như
bị chơi xấu, mà thủ phạm là đám quần áo ve vẩy đầy hoạt kê quanh cổ chân và cổ
tay tôi; và kể cả khi hướng vào nội tâm với Lũ trẻ bí mật của mình, tôi cũng
thấy sự thay đổi, và tôi không thích thế.

Sự
tan rã từ từ của Hội nghị Những đứa trẻ Nửa đêm – mà cuối cùng đã sụp đổ vào
ngày quân Trung Quốc tràn qua dãy Himalaya đánh xuống, làm bẽ mặt fauj[6] Ấn
Độ - khi đó đã diễn ra được một thời gian. Khi những háo hức ban đầu tan đi, sự
chán nản, rồi đến bất đồng, tất yếu sẽ nảy sinh. Hoặc (nói một cách khác) khi
một ngón tay bị tàn khuyết, và từng vòi máu trào ra, muôn vẻ xấu xa đều trở
thành có thể… cho dù những rạn nứt của Hội nghị có là hệ quả (chủ động-nghĩa
bóng) từ việc tôi bị cụt ngón tay hay không, điều chắc chắn là chúng đang toác
rộng. Ở trên Kashmir, Narada-Markandaya đang chìm đắm trong những giấc mơ duy
ngã của một Narcissus[7] đích thực, và chỉ quan tâm duy nhất
đến khoái cảm của việc không ngừng hoán đổi giới tính; trong khi Soumitra thằng
nhóc du hành thời gian, bị tổn thương bởi vì chúng tôi từ chối lắng nghe nó
miêu tả một tương lai trong đó (theo lời nó) đất nước này sẽ do một ông già lẫn
cẫn uống nước tiểu và dứt khoát không chịu chết nắm quyền, và người ta sẽ quên
mất mọi bài học, và Pakistan sẽ tách làm đôi như một con trùng amip, và hai thủ
tướng của hai nửa sẽ bị kẻ kế vị mình ám sát, và hai người này – nó thề thốt
bất chấp việc chúng tôi không tin – sẽ được gọi bằng cùng một cái tên…
Sourmitra bị tổn thương thường xuyên vắng mặt trong những buổi họp mặt về đêm
của chúng tôi, mỗi lần đều biệt tích khá lâu trong mê cung chằng chịt như mạng
nhện của Thời gian. Còn hai chị em ở Baud thì thỏa mãn với khả năng bỏ bùa những
gã khờ trẻ cũng như già. “Hội nghị này thì ích lợi gì?” chúng hỏi. “Đây đã có
quá nhiều kẻ si mê rồi.” Còn nhà giả kim của bọn tôi thì bận rộn với phòng thí
nghiệm do bố (người đã được nó tiết lộ bí mật) xây cho; mải mê với viên Điểm
kim thạch, nó chẳng còn mấy thời gian cho chúng tôi. Chúng tôi đã mất nó về tay
sự cám dỗ của vàng.

[6]
Quân đội.

[7]
Nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, nổi tiếng đẹp trai, mê đắm vẻ đẹp của bản
thân đến nỗi ngày ngày soi mình xuống nước, cuối cùng chết đuối và hóa thành
hoa thủy tiên.


còn cả tác động của những nhân tố khác. Trẻ con, dẫu có pháp thuật, cũng không
miễn nhiễm trước cha mẹ; và khi những định kiến và thế giới quan ở người lớn
bắt đầu chiếm lĩnh suy nghĩ của chúng, tôi nhận ra bọn trẻ đến từ Mahatrastra
thì ghét dân Gujarat, bọn da trắng ở miền Bắc thì dè bỉu “lũ mọi đen” Dravidian[8];
xuất hiện sự thù địch về tôn giáo; và nảy sinh vấn đề giai cấp trong hội đồng.
Đám nhà giàu nhăn mũi khinh bỉ khi phải ngồi chung chiếu với những kẻ thấp hèn
hơn; những đứa xuất thân Bà la môn bắt đầu khó chịu ngay từ việc cho phép suy
nghĩ của mình tiếp xúc với suy nghĩ của đám tiện dân; trong khi, ở tầng lớp
thấp, áp lực của nghèo đói và Chủ nghĩa Cộng sản ngày càng rõ rệt… và, trên tất
cả những điều đó, có sự xung đột giữa các tính cách, và cả trăm cuộc cãi cọ
khóc lóc rầm rĩ vốn là điều không thể tránh khỏi ở cái nghị viện gồm toàn một
lũ nhóc chưa đủ lớn.

[8]
Dravidian: một nhóm ngôn ngữ ở miền Nam Ấn Độ và Sri Lanka, bao gồm tiếng Tamil
và Kannada.

Theo
cách này Hội nghị Những đứa trẻ Nửa đêm đã ứng nghiệm lời tiên đoán của Thủ
tướng và trở thành, trên thực tế, một tấm gương của đất nước; chế độ
bị-động-nghĩa-đen đang vận hành mặc dầu tôi cố cưỡng lại, với sự tuyệt vọng
ngày một lớn, và sau cùng là với sự cam chịu ngày càng tăng… “Hỡi các anh chị
em!” tôi phát thanh, bằng một giọng nói tâm linh cũng khó kiểm soát như giọng
nói thể chất của tôi, “Không thể để điều này xảy ra! Không thể cho phép mâu
thuẫn bất tận của quần-chúng-bị-trị-và-giai-cấp-thống-trị, của
tư-bản-và-lao-động, của ta-và-địch xen vào giữa chúng ta! Ta,” tôi nói một cách
hăng say, “phải là lực lượng thứ ba, ta phải là sức mạnh can thiệp vào song đề
tiến thoái lưỡng nan này; bởi chỉ có khác đi, mới hơn, ta mới hiện thực hóa
được triển vọng mà sự ra đời của chúng ta đã mang lại!” Cũng có người ủng hộ
tôi, và không ai nhiệt tình bằng Parvati-phù-thủy; nhưng tôi thấy bọn trẻ tuột
khỏi tay mình, mỗi đứa đều vướng bận với cuộc đời riêng, cũng như, thực lòng mà
nói, tôi cũng vướng bận với đời tôi. Cứ như thể cái hội nghị huy hoàng của
chúng tôi không hơn một món đồ chơi thời trẻ con là mấy, như thể quần dài đang
hủy hoại những gì nửa đêm đã tạo ra… “Ta phải thống nhất một chương trình,” tôi
kêu gọi, “Kế hoạch Năm năm của riêng ta, sao lại không?” Nhưng tôi có thể nghe
thấy, đằng sau lời kêu gọi đầy lo âu của mình, tiếng cười khoái trá của đại
kình địch của tôi; và Shiva xuất hiện trong đầu chúng tôi, nhạo báng, “Không,
cậu ấm ạ; chẳng có lực lượng thứ ba nào hết; chỉ có tiền-bạc-và-nghèo-đói,
đầy-đủ-và-thiếu-thốn, phải-và-trái; chỉ có ta-chống-lại-cả-thế-giới! Thế giới
không đồng nghĩa với ý thức, công tử bột ạ; thế giới không có chỗ cho lũ mơ
tưởng cùng những mộng mơ của chúng; thế giới, Thò lò bé bỏng ơi, là vật chất.
Vật chất và những kẻ làm ra chúng thống trị thế giới; nhìn Birla, và Tata[9],
và các nhân vật quyền lực khác đi: họ làm ra vật chất. Vì vật chất, đất nước
này được điều hành. Không vì con người. Vì vật chất, Hoa Kỳ và Liên Xô cấp viện
trợ; song năm trăm triệu người vẫn nhịn đói. Có vật chất, mới có thì giờ mơ mộng;
không có, thì phải chiến đấu.” Bọn Trẻ, lắng nghe chúng tôi tranh cãi một cách
hứng thú… hoặc có lẽ không, có lẽ ngay cả cuộc đối thoại này cũng không thu hút
được sự quan tâm của chúng. Và giờ tôi: “Nhưng con người không phải là đồ vật;
nếu ta đoàn kết lại, nếu ta yêu thương nhau, nếu ta cho thấy rằng đây, chính
đây, sự đoàn kết giữa người với người này, Hội nghị này,
những-đứa-trẻ-sát-cánh-bên-nhau-vượt-mọi-thăng-trầm này, có thể là con đường
thứ ba…” Nhưng Shiva, khịt mũi: “Cậu ấm ơi, toàn chém gió thôi. Gì mà
tầm-quan-trọng-của-cá-nhân. Gì mà triển-vọng-của-lòng-nhân-đạo. Ngày nay, con
người chỉ là một thứ đồ vật không hơn không kém.” Và tôi, Saleem, sụp đổ:
“Nhưng… quyền tự quyết… hy vọng… còn tâm hồn vĩ đại, hay còn gọi là mahatma, của
nhân loại… rồi thi ca, còn nghệ thuật, còn…” Lập tức Shiva chớp lấy chiến
thắng: “Thấy chưa? Tao biết là mày sẽ thành như thế. Nhão nhoét, như cơm nát.
Ủy mị như các bà mẹ. Biến đi, ai cần mớ rác rưởi của mày? Chúng tao còn phải
sống. Mẹ kiếp, mũi-dưa-chuột, tao chán ngấy cái Hội nghị của mày rồi. Chẳng
liên quan đếch gì.”

[9]
Ghanshyam Das Birla là nhà tư bản lớn trong ngành dệt và giấy, còn Tata là một
gia đình đại tư bản công nghiệp của Ấn Độ.

Quý
vị hỏi: đây là những đứa trẻ lên mười? Tôi trả lời: Đúng, nhưng. Quý vị bảo:
trẻ lên mười, cứ cho là sắp mười một đi, thảo luận về vai trò của cá nhân trong
xã hội? Và mâu thuẫn giữa tư bản và lao động? Cuộc thảo luận có đi sâu làm rõ
sức ép nội tại của khu vực nông nghiệp và công nghiệp hóa? Và xung đột giữa
những di sản văn hóa-xã hội? Lũ trẻ chưa đầy bốn ngàn ngày tuổi có trao đổi về
bản sắc cá nhân, và những xung đột có tính kế thừa của chủ nghĩa tư bản? Mới
sống chưa đến một trăm ngàn giờ, bọn trẻ có đối chiếu Gandhi với Mác-Lê, quyền
lực với bất lực? Tập thể có đối lập với cá nhân? Chúa có chết về tay trẻ con?
Dù chấp nhận sự thật của các hiện tượng được cho là kỳ diệu, liệu chúng ta có
thể tin rằng lũ nhóc con lại nói chuyện như những ông già râu rậm?

Tôi
đáp: có lẽ không phải bằng những lời này; có lẽ hoàn toàn không bằng lời, mà
bằng thứ ngôn ngữ thuần khiết hơn của ý nghĩ; nhưng đúng, chắc chắn, gốc rễ của
vấn đề là như vậy; vì trẻ con là bình chứa để người lớn rót chất độc của họ
vào, và chính thuốc độc của người lớn đã hủy hoại chúng tôi. Thuốc độc, và cách
nhiều năm sau đó, một mụ Góa phụ cầm dao.

Tóm
lại: sau khi quay lại Biệt thự Buckingham, kể cả thứ muối của lũ trẻ nửa đêm
cũng trở nên nhạt nhẽo; giờ đây, có những đêm tôi thậm chí chẳng buồn khởi động
mạng truyền thanh toàn quốc của mình; và con quỷ lẩn khuất trong tôi (nó có hai
đầu) có thể ung dung tiếp tục những trò ma quỷ của nó. (Tôi không bao giờ biết
Shiva có tội hay vô tội trong các vụ sát hại gái điếm; nhưng tác động của
Kali-Yuga lớn đến mức ngay cả tôi, người tốt và nạn nhân bẩm sinh, cũng chắc
chắn phải chịu trách nhiệm về hai cái chết. Đầu tiên là Jimmy Kapadia; thứ hai
là Homi Catrack.)

Nếu
như có một lực lượng thứ ba, thì đó chính là tuổi thơ. Nhưng nó đã chết; hay
đúng hơn, bị sát hại.

Dạo
ấy chúng tôi ai cũng có vấn đề. Homi Catrack có đứa con ngớ ngẩn Toxy, còn nhà
Ibrahim có những mối lo khác: Ismail bố của Sonny, sau nhiều năm hối lộ quan
tòa và đoàn bồi thẩm, nay có nguy cơ bị Hội đồng luật sư điều tra; còn Ishaq
bác của Sonny, của khách sạn hạng hai Embassy ở gần Đài phun nước Flora, bị đồn
là đang lún sâu vào nợ nần với giới băng đảng địa phương, và thường xuyên lo sợ
bị “làm thịt” (hồi ấy, ám sát đã trở thành chuyện thường ngày giống như oi
bức)… cho nên có lẽ không có gì ngạc nhiên khi tất cả chúng tôi đều quên bẵng
sự tồn tại của Giáo sư Schaapsteker. (Người Ấn càng già càng to ra và quyền lực
hơn; nhưng Schaapsreker là người Âu, và loại người như ông không may thay cứ
nhạt nhòa đi theo năm tháng, và, thường biến mất hoàn toàn.)

Nhưng
giờ, bị, có lẽ, con quỷ trong tôi xui khiến, đôi chân tôi dẫn tôi leo cầu thang
lên tầng trên cùng của Biệt thự Buckingham, nơi tôi thấy một ông già gàn dở,
nhỏ bé và teo tóp một cách khó tin, cái lưỡi hẹp không ngừng thò thụt giữa hai
môi – lập lè, liếm láp: cựu chuyên gia tìm kiếm huyết thanh kháng độc, kẻ hạ
sát ngựa, sahib Sharpsticker, nay đã chín mươi hai và không còn Viện nghiên cứu
mang tên ông nữa, mà đã nghỉ hưu ở căn hộ tối tăm trên tầng thượng, chất đầy
các loại thực vật nhiệt đới và rắn ngâm nước muối. Tuổi già, không làm rụng nổi
răng và túi nọc của ông, đã biến ông thành một hóa thân của loài rắn; như những
người Âu lưu lại đây quá lâu, máu điên rồ cổ xưa của Ấn Độ đã ngâm não ông, làm
ông quay ra tin vào những điều mê tín của đám nhân viên của Viện, mà theo lời
họ ông là hậu duệ cuối cùng của một dòng tộc được mở đầu khi một con hổ mang
chúa giao phối với một người đàn bà, sinh ra một đứa trẻ hình người (nhưng cốt
rắn)… dường như cả đời mình tôi chỉ cần rẽ vào góc phố là lại gặp phải một thế
giới mới và bị thay hình đổi dạng một cách dị thường. Leo lên một cái thang
(hoặc một cầu thang), và ta sẽ thấy một con rắn đang chờ ta.

Rèm
lúc nào cũng rủ; bên trong căn hộ của Schaapsteker, mặt trời không mọc và không
lặn, và đồng hồ không tích tắc. Là con quỷ, hay cảm giác chung về nỗi cô độc đã
kéo chúng tôi lại gần nhau?... Bởi vì, vào những ngày tháng con Khỉ thăng tiến
còn Hội nghị suy tàn, tôi bắt đầu leo lên cầu thang mỗi khi có thể, và lắng
nghe những lời càm ràm của ông già điên dại, xì xì như rắn.

Lời
chào đầu tiên, khi tôi lập cập bước vào cái hang không khóa của ông, là: “Chà,
cậu bé – đã khỏi bệnh thương hàn rồi đấy.” Câu nói ấy khuấy động thời gian như
một quầng mây bụi lờ đờ và tái hợp tôi với tôi-hồi-một-tuổi; tôi nhớ lại chuyện
Schaapsteker đã cứu mạng tôi bằng nọc rắn thế nào. Kể từ hôm đó, suốt mấy tuần,
tôi ngồi dưới chân ông, và ông đã hé cho tôi thấy con rắn hổ mang đang cuộn
tròn trong tôi.

Ai
đã kể, vì muốn tốt cho tôi, về sức mạnh yêu dị của loài rắn? (Cái bóng của
chúng giết chết bò; nếu chúng chui vào giấc mơ của một người, vợ người ấy sẽ có
thai; ai giết rắn thì dòng họ ấy sẽ tuyệt tự suốt hai mươi đời.) Ai đã miêu tả
cho tôi – với sự trợ giúp của sách vở và những cái xác nhồi – kẻ thù truyền
kiếp của rắn hổ mang? “Phải hiểu kẻ thù, nhóc ạ,” ông xì xì, “bằng không chúng
sẽ giết cháu chết chắc.”… Dưới chân Schaapsteker, tôi nghiên cứu chồn và lợn
lòi, già đẫy[10] mỏ dao găm và loài hươu barasinha chuyên lấy
móng giẫm nát đầu rắn; rồi cầy Ai Cập, rồi cò quăm[11]; cao một mét
hai, bạo dạn, mỏ khoằm, có ngoại hình và cái tên làm tôi nảy sinh ý nghĩ nghi
ngờ về Alice Pereira của cha tôi; rồi ó buteo, chồn hôi, chồn ăn mật trú ngụ
trên đồi; chim việt dã, lợn lòi peccary, rồi loài chim cangamba đáng sợ.
Schaapsteker, từ sâu thẳm của sự lão suy, dạy bảo tôi về cuộc đời. “Phải tỉnh
táo, nhóc ạ. Bắt chước hành vi của rắn. Phải bí mật; ẩn trong bụi cỏ mà tấn
công.”

[10]
Một loài chim hình dáng gần giống cò, khá phổ biến ở Ấn Độ (ở Đồng Tháp Mười
cũng có), mỏ to, dày và nhọn, thường ăn rắn.

[11]
Danh pháp trong tiếng Việt là diều ăn rắn. Một số thuyết cho rằng cái tên “chim
thư ký” xuất phát từ việc loài chim này có chòm lông trên đầu giống như bút
lông mà thư ký thời xưa hay giắt ở tai.

Một
lần ông bảo: “Cháu phải xem ta như cha. Cái mạng của cháu chẳng phải do ta ban
cho lần nữa?” Với tuyên bố này, ông đã chứng tỏ ông cũng mắc phải bùa phép của
tôi y như tôi mắc phải của ông; ông đã chấp nhận mình là một trong số vô vàn
cha mẹ mà chỉ mình tôi là có quyền năng cho ra đời. Và mặc dầu, sau một thời
gian, tôi cảm thấy không khí trong các căn phòng của ông quá ngột ngạt, và bỏ
ông lại, một lần nữa, trong sự cô độc mà ở đó ông sẽ không bao giờ bị ai làm
phiền nữa, ông cũng đã chỉ cho tôi phải hành động ra sao. Bị con quỷ hai đầu
của khát vọng báo thù thiêu đốt, tôi sử dụng năng lực ngoại cảm (lần đầu tiên)
làm vũ khí; và nhờ vậy tôi khám phá chi tiết về mối quan hệ của Homi Catrack
với Lila Sabarmati. Lila và Pia vốn là kỳ phùng địch thủ về nhan sắc; người vợ
của ứng cử viên sáng giá cho danh hiệu Thủy sư Đô đốc chính là tình nhân mới
của đại gia điện ảnh. Trong khi Trung tá Sabarmati diễn tập trên biển, Lila và
Homi cũng thực hiện những màn thao diễn của riêng họ; trong khi con sư tử của
biển cả trông đợi cái chết của ngài đương kim Đô đốc, Homi và Lila cũng sắp có
cuộc hẹn với thần Chết. (Có sự trợ giúp của tôi.)

“Phải
bí mật,” sahib Sharpsticker đã dặn; một cách bí mật, tôi theo dõi kẻ thù của
tôi, Homi, và người mẹ lăng loàn của Mắt Chẻ và Tóc Dầu (hai đứa dạo này rất
hợm hĩnh, thật ra là từ khi báo chí loan tin việc Trung tá Sabarmati được đề
bạt chỉ thuần túy là thủ tục. Chỉ là vấn đề thời gian…). “Thứ đàn bà
phóng đãng,” con quỷ ở trong tôi thì thầm không thành tiếng, “Kẻ phạm tội thất
tiết tồi tệ nhất! Chúng ta sẽ biến ngươi thành một tấm gương tày liếp; sẽ lấy
ngươi làm minh chứng về số phận chờ đợi kẻ dâm đãng. Ôi kẻ ngoại tình vô tâm!
Chẳng lẽ ngươi không thấy lang chạ đã gây ra hậu quả gì cho nữ nam tước Simki
von der Heiden lừng lẫy? – mà vốn là, nói một cách thẳng thừng, một con chó
cái, giống hệt như ngươi.”

Cách
nhìn của tôi về Lila Sabarmati đã dịu đi cùng tuổi tác; nói cho cùng, cô ả và
tôi có một điểm chung – mũi cô ta, cũng như tôi, sở hữu quyền năng phi thường.
Tuy nhiên, ở cô ta là thứ ma thuật hoàn toàn trần tục: một cái nhăn mũi đủ sức
mê hoặc vị Đô đốc sắt đá nhất; một hơi lửa nhỏ xíu từ lỗ mũi đủ để khơi dậy
ngọn lửa kỳ lạ trong trái tim của đại gia điện ảnh. Tôi hơi ân hận về việc đã
phản bội cái mũi ấy; việc đó gần như đâm sau lưng một người anh em họ.

Điều
tôi khám phá ra: cứ mười giờ sáng Chủ nhật, Lila Sabarmati lại lái xe đưa Mắt Chẻ
và Tóc Dầu đến rạp Metro dự cuộc gặp gỡ hàng tuần của Metro Cub Club. (Cô ta
tình nguyện đưa cả lũ chúng tôi đi luôn; Sonny và Cyrus, con Khỉ và tôi chất
lên chiếc Hindustan sản xuất tại Ấn Độ của cô ta.) Và trong khi chúng tôi lái
xe đến chỗ Lana Turner hay Robert Taylor hay Sandra Dee, Ngài Homi Catrack cũng
đang chuẩn bị cho một cuộc hẹn hàng tuần. Trong khi chiếc Hindustan của Lila
lạch xạch chạy dọc bên đường xe lửa, Homi đang thắt một chiếc khăn lụa màu kèm
quanh cổ; trong khi cô ta dừng đèn đỏ, lão khoác chiếc măng tô đi rừng màu
Technicolor[12]; khi cô ta dẫn chúng tôi vào bóng tối của phòng
chiếu, lão đeo cọng kính râm gọng vàng; và khi cô ta để chúng tôi lại xem phim,
lão ta cũng bỏ rơi một đứa trẻ. Toxy Catrack chưa bao giờ không phản ứng với những
chuyến đi của lão bằng việc gào khóc giãy giụa quẫy đạp; con bé biết điều gì
sắp sửa xảy ra, và ngay cả Bi-Appah cũng không kiềm chế được nó.

[12]
Bush-coat hay Safari jacket là loại áo khoác đi rừng thường được các nhà thám
hiểm Anh sử dụng. Còn Technicolor là loại phim màu điện ảnh phổ biến trong giai
đoạn 1920-1950.

Ngày
xửa ngày xưa có Radha và Krishna, có Rama và Sita, có Laila và Majnu; rồi cả
(bởi chúng tôi không phải là không bị Tây hóa) Romeo và Juliet, rồi Spencer
Tracy và Katherine Hepburn. Thế gian có vô số chuyện tình, và mọi đôi tình
nhân, theo một nghĩa nào đó chính là hóa thân của tiền nhân. Khi Lila lái chiếc
Hindustan tới một địa chỉ trên Đê Colaba, cô ta là Juliet bước ra ban công; khi
Homi khăn màu kem, kính râm mạ vàng phóng đến gặp cô ta (cũng trên chiếc
Studebaker từng chở mẹ tôi đến Nhà Hộ sinh của Bác sĩ Narlikar), lão là Leander
bơi vượt eo Hellespont đến với ngọn nến bập bùng của nàng Hero[13].
Về vai trò của tôi trong chuyện này – tôi sẽ không đặt tên cho nó.

[13]
Theo thần thoại Hy Lạp, chàng trai Leander đem lòng yêu Hero và hàng đêm bơi
vượt eo Dardanelles (một eo biển nhỏ ở Tây Bắc Thổ Nhĩ Kỳ, tên cũ là
Hellespont) để đến với nàng. Hero thắp một ngọn nến trên tháp cao để làm mốc
dẫn đường cho Leander.

Hãy để lại chút cảm nghĩ khi đọc xong truyện để tác giả và nhóm dịch có động lực hơn bạn nhé <3