Những đứa con của nửa đêm - Phần II - Chương 14 - Phần 1

Chương
14: Sinh nhật thứ mười của tôi

“Ôi
thưa ông, em biết nói gì? Lỗi tại em mọi đàng!”

Padma
đã quay về. Và, giờ khi tôi đã bình phục khỏi cơn ngộ độc và trở lại bàn làm
việc, lại xoắn xuýt đến nỗi không yên lặng được. Hết lần này đến lần khác, bông
sen trở lại của tôi dằn vặt bản thân, đấm bộ ngực nặng nề, rền rĩ đến rát họng.
(Với tình trạng mong manh của tôi, kiểu này khá là mệt mỏi; nhưng tôi không
trách gì cô cả.)

“Cứ
tin em đi, thưa ông, rằng em quan tâm sức khỏe của ông biết mấy! Thật là những
sinh vật kỳ lạ, đàn bà chúng em, không phút nào yên dạ được khi người đàn ông
của mình ốm đau phiền muộn... Ông khỏe rồi là em mừng lắm, ông chẳng biết đâu!”

Câu
chuyện của Padma (kể bằng chính lời cô, và đọc lại cho cô nghe để được phê
duyệt bằng những đảo mắt, than vãn, đấm ngực): “Chỉ tại lòng kiêu hãnh và tự
cao ngu dại của em, Saleem baba, xui khiến em rời bỏ ông, mặc dầu công việc ở
đây rất tốt, và ông thì rất cần người chăm sóc! Nhưng chửa được bao lâu em đã
nóng ruột muốn quay về.”

“Thế
là em nghĩ, làm sao để trở lại với cái người sẽ chẳng yêu em mà chỉ ngồi viết
nhăng viết cuội? (Tha lỗi cho em, Saleem baba, nhưng em phải nói thật. Và tình
yêu, với đàn bà chúng em, là thứ lớn lao nhất.)”

“Thế
là em đi tìm một ông thầy, ông ấy dạy em phải làm gì. Trong túi còn mấy đồng,
em bắt xe buýt về quê để đào cây thuốc, có nó dương căn của ông sẽ có thể được
đánh thức dậy... hãy tưởng tượng, thưa ông, em đã khấn những lời này: ‘Hỡi cây
thuốc được Bò Mộng nhổ lên!’ Rồi em nghiền cây thuốc với nước với sữa và đọc,
‘Hỡi cây thuốc tráng dương ích khí! Được thần Varuna[1] sai
Gandharva đào lên! Hãy cho ngài Saleem của ta sức mạnh. Nhiệt như Ngọn lửa của
thần Indra. Như linh dương đực, hỡi cây thuốc, mi có mọi sức mạnh trên đời, mi
có quyền năng của Indra, và sinh lực của thú hoang’.”

[1]
Theo kinh Vệ Đà, Varuna là thần của bầu trời, của nước. Trong thần
thoại Hindu, Varuna là thần nước, đặc biệt là các đại dương.

“Mang
theo món thuốc này em trở về, thấy ông vẫn một mình như mọi khi và luôn chúi
mũi vào viết lách. Nhưng lòng ghen tuông, em thề, em đã bỏ lại sau; nó lộ ra
ngoài mặt và làm ta già đi. Ôi Chúa tha thứ cho em, em lặng lẽ bỏ thang thuốc
vào thức ăn của ông!... Thế rồi, hai-hai, xin Thượng đế tha thứ cho con, nhưng
con chỉ là một mụ đàn bà bình thường, nếu thầy pháp bảo vậy, làm sao con dám
cãi?... Nhưng ít nhất thì bây giờ ông đã khá hơn, tạ ơn Chúa, và mong sao ông
đừng giận.”

Dưới
dược lực từ liều thuốc của Padma, tôi bị mê sảng một tuần liền. Đóa sen-phân
của tôi (qua hàm răng nghiến chặt) thề rằng tôi cứng đờ như tấm ván, miệng sùi
bọt mép. Tôi còn bị sốt. Trong cơn mê sảng tôi ú ớ về rắn; nhưng tôi biết Padma
không phải xà tinh, và không bao giờ muốn hại tôi.

“Tình
yêu, thưa ông,” Padma than thở, “nó làm đàn bà hóa điên.”

Tôi
nhắc lại: tôi không trách Padma. Dưới chân dãy Tây San cô tìm kiếm cây thuốc
tráng dương, mucuna pruritus và rễ cây feronia
eleplantum
; ai biết cô đã tìm thấy gì? Ai biết thứ gì, được nghiền với sữa
và trộn với thức ăn của tôi, đã ném ruột gan tôi vào trạng thái “khuấy đảo” và
từ đó, như mọi sinh viên môn vũ trụ học Hindu đều biết, Indra đã tạo ra vật
chất, bằng cách khuấy món súp khởi nguyên trong thùng sữa vĩ đại của mình? Có
hề gì. Đó là một nỗ lực cao quý; nhưng tôi đã vượt quá giới hạn có thể tái tạo
– mụ Góa phụ đã kết liễu tôi. Kể cả câymucuna thật cũng không thể
đặt dấu chấm hết cho sự bất lực của tôi; feronia sẽ không thể
nào khơi dậy được trong tôi “sinh lực của thú hoang”.


vậy, một lần nữa tôi lại ngồi trước bàn; một lần nữa Padma ngồi dưới chân tôi,
thúc giục tôi. Tôi lại cân bằng như trước – phần đế tam giác cân của tôi đã
vững chãi. Tôi bay lượn trên đỉnh, trên hiện tại và tương lai, và cảm thấy mạch
văn đã trở lại với ngòi bút của mình.

Một
thứ ma thuật đã được thực thi; và hành trình đi tìm tình dược của Padma đã nối
kết tôi trong chốc lát với thế giới của tri thức cổ xưa và học vấn của giới phù
thủy mà ngày nay bị hầu hết chúng ta kinh rẻ; nhưng (bất chấp những cơn co thắt
dạ dày và sốt và sùi bọt mép) tôi lấy làm mừng vì nó đã xâm nhập vào những ngày
cuối cùng của tôi, bởi nghiền ngẫm nó cũng đồng nghĩa với việc tìm lại một chút
ý niệm đã mất về tỉ lệ.

Nghĩ
mà xem: lịch sử, trong phiên bản của tôi, bước sang một thời kỳ mới vào ngày 15
tháng Tám năm 1947 – nhưng theo một phiên bản khác, cái ngày không thể tránh
khỏi ấy chỉ là một sát na không hơn trong Kỷ nguyên Tăm tối, Kali-Yuga, khi con
bò của Pháp[2] chỉ còn đứng, chênh vênh, trên duy nhất một
chân! Kali-Yuga, cú đổ thất bại trong trò xúc xắc của đất nước này; thời kỳ tồi
tệ nhất; kỷ nguyên khi tài sản mang lại cho con người đẳng cấp, khi giàu sang
tương đương với phẩm giá, khi dục vọng trở thành sự gắn kết duy nhất giữa đàn
ông và đàn bà, khi dối trá đem lại sự thành công (có gì đáng ngạc nhiên khi, ở
một thời kỳ như thế, tôi cũng lăn lộn giữa cái tốt và cái xấu?)... bắt đầu từ
thứ Sáu, ngày 18 tháng Hai, năm 3102 trước Công nguyên; và chỉ kéo dài có
432.000 năm! Đã kịp thấy mình có phần bé mọn, tôi vẫn phải bổ sung rằng Kỷ
nguyên Tăm tối chỉ là giai đoạn thứ tư của chu kỳ Maha Yuga hiện tại, vốn có độ
dài, tổng cộng, gấp mười lần; và khi tính rằng phải mất một ngàn Maha Yuga mới
bằng một Ngày của Brahma, quý vị sẽ hiểu ý tôi khi nói đến tỉ lệ.

[2]
Theo quan niệm của đạo Hindu, biểu trưng của Pháp (dharma) là con bò. Trong kỷ
nguyên đầu tiên, hoàng kim của thế giới (Satya Yuga), con bò có bốn chân, nhưng
qua mỗi kỷ nguyên, Pháp lại tiêu hao mất một phần tư. Đến kỷ nguyên Kali, con
bò của Pháp chỉ còn có một chân. Có thể hiểu là thời mạt pháp.

Một
chút khiêm nhường vào thời điểm này (khi tôi đang run rẩy chuẩn bị giới thiệu
Những đứa trẻ) không có gì là, như tôi thấy, lạc lõng.

Padma
đổi thế ngồi, lún túng. “Ông nói gì vậy?” cô hỏi, mặt hơi đỏ lên. “Đấy là
chuyện của Bà la môn; có liên quan gì đến em chứ?”

...
Sinh ra và được giáo dưỡng theo truyền thống đạo Hồi, tôi bỗng nhiên thấy mình
choáng ngợp trước một nguồn tri thức cổ xưa hơn; trong khi ở đây cạnh tôi là
Padma của tôi, mà sự trở về của nàng tôi đã mong mỏi biết bao nhiêu... Nàng
Padma của tôi! Nữ thần Hoa sen; Người Sở hữu Phân; người Ngọt Như Mật và Làm
Bằng Vàng; có hai đứa con là Hơi ẩm và Bùn...

“Ông
chắc là chưa hết sốt,” cô phản đối, cười khúc khích. “Cài gì mà làm bằng vàng,
hở ông? Và ông thừa biết em làm gì có co...”

...
Padma cùng với các dạ xoa[3], những vị thần đại diện cho các bảo vật
thiêng liêng của trái đất, cho các con sông thiêng Ganga Yamuna Sarasvati[4],
và với các nữ thần cây, là một trong các thần Bảo hộ Sự sống, mê hoặc và an ủi
phàm nhân khi họ đi qua lưới mộng của Ảo ảnh[5]... Padma, đài Sen,
mọc ra từ rốn của thầnVishnu, và từ đó chính Brahma đã ra đời; Padma Nguồn cội,
mẹ của Thời gian!...

[3]
Yaksa, tiếng Hán là dạ xoa. Theo đạo Hindu và đạo Phật, dạ xoa là các linh thần
bảo vệ những báu vật của tự nhiên ẩn dưới lòng đất và dưới gốc cây.

[4]
Ba con sông thiêng của Ấn Độ, trong đó Ganga (sông Hằng) và Yamuna là hai con
sông có thật, còn con sông thứ ba, Sarasvati, chỉ tồn tại trong thần thoại.

[5]
Maya, chỉ thế giới hiện tượng đang liên tục thay đổi trong mắt của phàm nhân
chưa giác ngộ.

“Này,”
giọng cô bắt đầu có vẻ lo âu, “đưa em sờ trán xem nào!”

...
Và tôi, trong hệ thống những thứ này, ở đâu? Có phải tôi (được mê hoặc và an ủi
bởi sự trở về của cô) chỉ là phàm nhân – hay còn gì hơn thế? Ví dụ như – phải,
sao lại không – vòi ma mút, mũi Ganesh như tôi đây – thần Voi, chẳng hạn.
Người, giống như thần mặt trăng Sin, điều khiển nước, ban phát mưa... có mẹ là
Ira, ái phi của Kashyap, tức Quy Lão, chúa tể và tổ tiên của muôn loài trên
trái đất... thần Voi, đồng thời là cầu vồng, và sấm sét, vị thần mà ý nghĩa
biểu tượng, tôi phải bổ sung, rất nhiều nghi vấn và không rõ ràng[6].

[6]
Kashyap (con rùa) là một trong bảy đấng trí giả (rishi) do thần Vishnu tạo ra,
và là thủy tổ của muôn loài. Ira là một trong mười người vợ của Kashyap, sinh
ra một đàn voi. Con voi trắng Airavata là vật cưỡi của thần Indra. Indra khi
cưỡi voi một tay cầm lưỡi tầm sét, một tay cầm cầu vồng. Bản thân chữ Airavata
cũng có nghĩa là cầu vồng.


thì: khó nắm bắt như cầu vồng, khó dự đoán như sấm sét, ba hoa như Ganesh, có
vẻ như tôi, rốt cuộc, đã có một vị trí trong kho tàng tri thức cổ xưa.

“Lạy
Chúa.” Padma bổ đi tìm khăn để dấp nước lạnh, “trán ông như đang bốc hỏa ấy!
Tốt hơn ông nên nằm xuống; giờ này chưa thể viết lách được đâu! Mê sảng đang
nói đây mà; không phải ông.”

Nhưng
tôi đã mất một tuần; vậy nên, sốt hay không sốt, tôi cũng phải tiếp tục; bởi
vì, sau khi (tạm thời) vắt kiệt cái bút pháp kể-chuyện-ngày-xưa này, tôi sắp
tiến tới trung tâm kỳ ảo của câu chuyện của chính tôi, và phải viết một cách
công khai chân xác, về những đứa trẻ nửa đêm.

Hãy
hiểu điều tôi sắp nói: trong giờ đầu tiên của ngày 15 tháng Tám năm 1947 – từ
nửa đêm đến một giờ sáng – không dưới một nghìn lẻ một đứa trẻ đã chào đời bên
trong đường biên giới của quốc gia Ấn Độ chủ quyền non trẻ. Về bản chất, đây
không phải là một sự kiện bất thường (tuy rằng con số này mang âm hưởng văn
chương một cách kỳ lạ) - ở thời kỳ đó, tỉ lệ sinh trên mảnh đất này vượt tỉ lệ
tử khoảng 687 người một giờ. Điều khiến sự kiện này đáng chú ý (đáng chú ý! có
một từ trung tính thế đấy, nếu quý vị thích!) là bản chất của những đứa trẻ
này, mỗi người trong số chúng đều, do một biến dị sinh học, hoặc do mộ thế lực
siêu nhiên nào đó vào thời điểm ấy, hoặc chỉ dễ hiểu là sự trùng hợp (tuy rằng
một sự ngẫu nhiên xảo hợp ở quy mô ấy sẽ làm choáng váng cả C.G.Jung), được phú
cho những đặc tính, thiên khiếu, hay năng lực chỉ có thể được miêu tả bằng hai
chữ kỳ diệu. Cứ như thể - nếu quý vị cho phép tôi một khoảnh khắc tưởng tượng
trong cái mà nếu không có nó thì sẽ là sự tường thuật nghiêm túc nhất tôi có
thể thực hiện, tôi cam đoan vậy – cứ như thể lịch sử, đến một thời điểm của tầm
vóc và triển vọng tối cao, đã quyết định gieo xuống, vào thời khắc ấy, những
hạt giống của một tương lai rồi sẽ hoàn toàn khác bất kỳ thứ gì thế giới này
từng chứng kiến cho đến thời điểm ấy.

Nếu
một phép mầu tương tự có xảy ra bên kia biên giới, tại quốc gia vừa-bị-cắt-ra
Pakistan, tôi cũng không biết gì cả; linh lực của tôi, trong thời gian tồn tại
của chúng, bị giới hạn không chỉ bởi Biển Ả Rập, vịnh Bengal, dãy Himalaya, mà
cả đường biên giới nhân tạo đã cắt xẻ Punjab và Bengal.

Lẽ
tất nhiên, một số đứa trẻ đã không thể sống sót. Suy dinh dưỡng, bệnh tật và
những rủi ro của cuộc sống hằng ngày đã lấy đi không dưới bốn trăm hai mươi
sinh mệnh trước thời điểm tôi đến sự tồn tại của chúng; mặc dù có thể giả định
rằng tất cả những cái chết này, cũng có mục đích của nó, bởi vì 420[7],
không biết từ bao giờ đã là con số gắn liền với lừa đảo, dối trá và gian lận.
Vậy thì, có thể nào, những đứa bé biến mất ấy bị đào thải vì chúng, trên một
phương diện nào đó, không xứng đáng, và không phải là những đứa con đích thực
của nửa đêm ấy? À, trước hết, đây lại là một cuộc du ngoạn khác vào cõi giả
tưởng; thứ hai, nó còn tùy thuộc vào cách nhìn cuộc đời vừa đầy rẫy thần quyền
vừa tàn bạo đến dã man này. Đó cũng là một câu hỏi không thể trả lời; mọi cố
gắng tìm hiểu sâu hơn bởi thế chỉ là vô ích.

[7]
Khoản 420 trong Luật Hình sự Ấn Độ, ra đời từ 1862, là điều khoản quy định về
tội lừa đảo. 420 do vậy trở thành tên lóng để chỉ những kẻ hành nghề lừa đảo.

Tới
năm 1957, năm trăm tám mươi mốt đứa trẻ sống sót đều sắp đến sinh nhật thứ
mười, phần lớn hoàn toàn không biết đến sự tồn tại của nhau, mặc dù có một số
ngoại lệ nhất định. Tại thị trấn Baud, bên bờ sông Mahanadi ở Orissa, có một
cặp chị em song sinh đã trở thành huyền thoại trong vùng bởi vì bất chấp nhan
sắc bình phàm đến kinh ngạc, cả hai đều có khả năng làm mọi người đàn ông gặp
mặt mình si mê họ một cách vô vọng và tự diệt, đến nỗi bậc cha mẹ ngỡ ngàng của
họ không ngừng bị làm phiền bởi một dòng người đến cầu hôn một hoặc thậm chí cả
hai đứa trẻ bí hiểm; những ông già đã từ bỏ sự thông thái của chòm râu và đám
thanh niên đáng lẽ phải mê mẩn mấy cô đào trong gánh chiếu bóng rong vẫn viếng
thăm Baud mỗi tháng một lần; và cả một dòng người khác, phiền toái hơn gồm
những tang gia nguyền rủa hai chị em vì đã bỏ bùa mê thuốc lú khiến con trai họ
có những hành vi bạo hành bản thân, những nhát dao và đòn roi chết người, thậm
chí (có một trường hợp) tự thiêu. Mặc dù vậy, ngoại trừ mấy trường hợp cá biệt
hiếm hoi ấy, những đứa con của nửa đêm đã lớn lên mà hầu như không biết tới
những anh chị em đích thực của mình, những đồng-bạn-được-lựa-chọn trên khắp
chiều dài và bề rộng của viên kim cương thô và thiếu cân xứng Ấn Độ.

Thế
rồi, dưới tác động của một cú sốc sau một tai nạn xe đạp, tôi, Saleem Sinai,
bỗng nhiên biết về tất cả bọn họ.

Với
những ai có nếp suy nghĩ quá cứng nhắc để có thể chấp nhận được những sự thật
ấy, tôi xin nói thế này: chuyện là như thế đấy; không có cách nào chối bỏ sự
thật đâu. Tôi đành phải chìa vai ra hứng gánh nặng ngờ vực từ những kẻ hoài
nghi. Nhưng không một ai biết đọc tại đất nước Ấn Độ này của chúng tôi lại có
thể hoàn toàn miễn nhiễm khỏi kiểu tin tức mà tôi sắp sửa hé lộ - không một độc
giả nào của nền báo chí nước nhà có thể bỏ qua hàng loạt đứa trẻ thần kỳ và dị
nhân đủ loại – dù phải thừa nhận là ở cấp độ thấp hơn. Mới tuần trước, có một
cậu bé người Bengal tuyên bố mình là Rabindranath Tagore đầu thai và bắt đầu
ứng khẩu những vần thơ vào loại xuất sắc, trước sự kinh ngạc của cha mẹ; và
chính tôi còn nhớ được có những đứa trẻ hai đầu (đôi khi một đầu người, một đầu
thú) và những đặc điểm kỳ dị khác như sừng bò.

Tôi
phải nói ngay rằng không phải mọi thiên phú của những đứa trẻ đều đáng mong
muốn, thậm chí không được chính chúng mong muốn; và, với một số trường hợp
những đứa trẻ sống sót nhưng bị tước mất những phẩm chất mà nửa đêm ban cho. Ví
dụ (để song hành với chuyện hai chị em ở Baud) để tôi kể chuyện một cô bé ăn
mày tại Delhi tên là Sundari, ra đời ở một con phố phía sau Bưu điện Trung tâm,
không xa cái mái nhà nơi Amina Sinai đã lắng nghe Ramram Seth là mấy, người có
một sắc đẹp dữ dội đến mức chỉ trong khoảnh khắc cô bé chào đời nó đã làm mù cả
mẹ cô lẫn các bà hàng xóm sang đỡ đẻ giúp; cha cô, khi xông vào phòng khi nghe
tiếng thét của mấy người đàn bà, được họ cảnh báo kịp thời; nhưng chỉ một
thoáng nhìn cô con gái là đã làm thị lực ông tổn thương nặng nề đến mức từ đó
trở đi ông không thể phân biệt người Ấn và du khách ngoại quốc, một thương tật
ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực kiếm tiền của một ăn mày như ông. Sau đó,
suốt một thời gian Sundari buộc phải quấn một tấm giẻ ngang mặt; cho tới khi bà
cô già nua tàn nhẫn của mẹ cô bé giơ đôi tay xương xẩu đón lấy cô và rạch chín nhát
lên mặt cô bằng một con dao làm bếp. Vào thời điểm tôi biết về cô, Sundari đang
có một nguồn thu nhập ổn định, bởi không một ai đã nhìn cô mà không thấy xót
thương cho một cô gái rõ ràng đã từng đẹp lóa mắt người mà giờ dung nhan lại bị
hủy hoại tàn nhẫn đến vậy; cô nhận được nhiều tiền bố thí hơn bất kỳ ai trong
nhà.


không có một đứa trẻ nào lại đi ngờ rằng thời điểm ra đời của mình lại có liên
quan tới sự dị thường ở chúng, tôi cũng phải mất một thời gian mới khám phá ra.
Ban đầu, sau tai nạn xe đạp (đặc biệt sau khi những người diễu hành ngôn ngữ đã
thanh tẩy Evie Burns ra khỏi đầu tôi), tôi tự thỏa mãn với việc khám phá ra,
từng cái một, bí mật của những sinh thể huyền bí đã bất ngờ xuất hiện trong
trường linh giác của tôi, hăng say sưu tầm chúng, theo cách mấy đứa nhóc sưu
tầm côn trùng, hoặc đếm tàu hỏa; đánh mất hứng thú với lưu bút và mọi hình thái
khác của bản năng hái lượm, tôi liền, mỗi khi có thể, đắm mình vào thế giới
biệt lập và tươi sáng hơn trên tổng thể, của năm trăm tám mươi mốt đứa trẻ.
(Hai trăm sáu mươi sáu trong số tụi tôi là con trai; và về số lượng chúng tôi
bị phe con gái áp đảo – ba trăm mười lăm người bọn họ, kể cả Parvati.
Parvati-phù-thủy.)

Những
đứa trẻ nửa đêm!... Từ Kerala, một cậu bé có khả năng bước vào trong gương và bước
ra qua bất kỳ bề mặt phản quang nào trên mặt đất - qua mặt hồ hay (tuy khó khăn
hơn) vỏ kim loại bóng loáng của những chiếc ô tô... một cô bé người Goa có biệt
tài nhân bội cá... rồi những đứa trẻ có khả năng biến hình; một người sói từ
Đồi Nilgiri, và từ vùng lưu vực mênh mông Vindhyas, một cậu bé có thể tùy ý
tăng giảm kích cỡ của mình, và (một cách ma mãnh) là nguyên nhân của những
hoảng loạn và đồn đại về sự tái xuất của người Khổng lồ... ở Kashmir, có một
đứa trẻ mắt xanh mà tôi không xác định được giới tính, vì bằng cách ngâm mình
vào nước cậu (hay cô) có thể hoán đổi nó theo ý cô (hay cậu) ta muốn. Bọn tôi
có người gọi nó là Narada, người gọi nó là Markandaya, tùy câu chuyện cổ tích
nào về chuyển đổi giới tính bọn tôi được nghe... gần Jalna, chính giũa trung
tâm bình nguyên Deccan khô hạn tôi phát hiện ra một đứa trẻ có năng lực tìm ra
nguồn nước, và ở Budge-Budge, ngoại ô Calcutta, một cô bé lưỡi sắc mà mỗi lời
có sức mạnh gây ra thương tích, nên sau khi vài người lớn thấy mình chảy máu ồ
ạt vì vài lời châm chọc cô thuận miệng ném ra, họ quyết định nhốt cô vào lồng
tre thả trôi sông Hằng tới rừng Sunbardans (sào huyệt của yêu ma quỷ quái);
nhưng không ai dám lại gần cô, và cô đi giữa thị trấn, bao bọc trong khoảng
chân không của nỗi khiếp sợ; không ai có can đảm từ chối cô thức ăn. Còn có một
cậu bé ăn kim loại và một cô bé ngón tay xanh tới mức trồng được những trái cà
tím tuyệt hảo giữa sa mạc Thar; và còn nữa còn nữa còn nữa... choáng ngợp trước
số lượng của chúng và trước muôn hình vạn trạng huyền bí của những năng lực
chúng sở hữu, lúc buổi đầu tôi ít để tâm đến những cái tôi bình thường của
chúng; nhưng, một cách tất yếu, những vấn đề của chúng tôi, khi nó phát sinh,
là những vấn đề rất đời thường, con người, bắt nguồn từ tính-cách-và-môi-trường;
trong những cuộc cãi lộn, bọn tôi chỉ là một lũ nhóc.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.