Bản chúc thư - Chương 28

Chương hai mươi tám

Sau chín giờ ngủ nghỉ, người Ipicas thức dậy trước rạng đông
để bắt đầu một ngày mới. Đám phụ nữ nhóm lửa bếp bên ngoài lều, rồi kéo lũ nhóc
ra sông để lấy nước và tắm rửa. Như một quy luật, họ phải đợi tia sáng đầu tiên
mới đi vào mấy con đường mòn. Phải thận trọng xem phía trước có gì chắn ngang
đường không.

Trong tiếng Bồ, con rắn được gọi là urutu. Người da đỏ gọi
rắn là bima. Trên các thủy lộ ở miền Nam Brazil, gặp rắn là chuyện thường mà
phần lớn lại là rắn độc, cắn chết người. Bé gái có tên là Ayesh, bảy tuổi, được
nhà nữ truyền giáo da trắng giúp chào đời. Ayesh lon ton chạy trước mẹ mình
thay vì theo thông lệ phải đi theo sau và con bé đã dẫm lên con rắn bằng chân
trần.

Con rắn mổ vào dưới mắt cá chân của bé khi nó la lên. Lúc bố
nó đến ẵm nó, nó ngất đi và chân phải sưng phù lên to gấp đôi bình thường. Một
cậu bé mười lăm tuổi, chạy nhanh nhất trong bộ lạc được gửi đi tìm Rachel.

Có bốn khu dân cư nhỏ của người Ipicas dọc theo hai con sông
gặp nhau ở một khúc quanh rất gần chỗ mà Jevy và Nate đã ngừng lại. Khoảng cách
từ chỗ ngã ba sông đến căn lều cuối cùng của người Ipicas không quá năm dặm.
Các khu dân cư biệt lập nhau và là những bộ lạc nhỏ tự túc, nhưng họ đều là
người Ipicas, có chung ngôn ngữ, di sản văn hóa và tập tục. Họ giao thiệp và
kết hôn với nhau.

Ayesh sống trong khu dân cư thứ ba, kể từ chỗ ngã ba sông.
Rachel ở khu thứ nhì, khu rộng nhất. Cậu thiếu niên chạy đưa tin gặp cô lúc cô
đang đọc Kinh Thánh trong túp lều nhỏ, nơi cô đã sống trong mười một năm trời.
Cô vội vàng kiểm tra lại túi dụng cụ y tế và thuốc men rồi đi ngay theo cậu bé.

Trong phần đất này của vùng Pantanal có bốn loại rắn độc và
thường Rachel vẫn có thuốc chống nọc cho mỗi loại. Nhưng lần này thì không. Cậu
thiếu niên bảo với cô đó là một con bima. Thuốc chống nọc rắn đó được một công
ty được Brazil sản xuất nhưng cô đã không tìm được loại đó trong chuyến đi
Corumbá vừa qua. Các hiệu thuốc ở đó có không được một nửa những thứ thuốc cô
cần.

Cô buộc dây đôi bốt bằng da đỏ và xách túi thuốc ra đi. Lako
và hai thiếu niên khác đến đón cô khi cô chạy bộ qua những đám cỏ cao, vào
trong rừng.

Theo những số liệu thống kê của Rachel, có tám mươi sáu phụ
nữ trưởng thành, tám mươi mốt đàn ông trưởng thành và bay mươi hai trẻ con
trong bốn khu dân cư, tổng số là 239 người Ipicas. mười một năm trước đây họ có
280 người. Cứ vài năm thì bệnh sốt rét mang đi những người yếu nhất. Một trận
dịch tả giết chết hai mươi người vào năm 1991. Nếu Rachel không quyết tâm thực
hiện việc tiêm ngừa cho họ thì phần lớn người Ipicas đã bị xóa sổ.

Với sự cần mẫn của một nhà nhân chủng học, cô lập sổ ghi
chép việc sinh tử, đám cưới, cây gia tộc, bệnh tật và cách chữa trị. Trong đa
số trường hợp cô biết được ai đang ngoại tình với ai. Cô biết tên mỗi người
trong làng. Cô đã rửa tội cho bố mẹ của Ayesh nơi dòng sông mà họ thường ra tắm
rửa.

Ayesh nhỏ nhắn, ốm yếu, và có lẽ sẽ chết bởi vì không có
thuốc chống nọc. Ở Mỹ, thuốc men lúc nào cũng có sẵn, cũng như ở các thành phố
lớn của Brazil và không quá mắc. Ngân sách nho nhỏ của cô do World Tribes rót
cho, đủ để trang trải những chi phí đó. Chỉ cần ba mũi tiêm trong vòng sáu
tiếng và thế là thoát chết. Nếu không, người bị rắn cắn sẽ bị nôn mửa dữ dội,
rồi bị hành sốt, tiếp theo là hôn mê, rồi chết.

Đã ba năm rồi người Ipicas mới thấy một trường hợp chết vì
rắn cắn. Và đây là lần đầu trong mấy năm nay, Rachel không có thuốc chống nọc.

Bố mẹ của Ayesh đã theo Cơ-đốc-giáo, những tín đồ tân tòng
của một tôn giáo mới. Nhờ vào việc làm thiện nguyện của Rachel và những vị tiền
nhiệm, mà một nửa số dân Ipicas đã biết đọc và viết.

Cô cầu nguyện trong khi chạy theo sau mấy thiếu niên. Cô
mảnh mai nhưng rắn chắc và dẻo dai. Cô thường đi bộ hàng chục dặm mỗi ngày và
ăn rất ít. Người da đỏ cũng thán phục sức bền của cô.

Jevy đang tắm rửa trong sông khi Nate ở cái bao chống muỗi
và chui ra khỏi lều. Anh vẫn còn mang nhiều vết bầm từ vụ rơi máy bay. Việc ngủ
trong xuồng rồi trên đất không giúp gì mấy để giảm đau. Anh đứng lên duỗi thẳng
lưng và chân tay và cảm thấy đau ê ẩm khắp người, thấm thía từng năm tháng của
bốn mươi tám cái xuân xanh. Anh thấy Jevy đang ngâm mình trong nước có vẻ trong
hơn nước của những nơi khác trong vùng Pantanal.

Ta tàn đời rồi, Nate nhủ thầm với mình. Lại phải đói khát
nữa. Chẳng có thứ gì. Anh bóp mạnh các đầu ngón chân và tổng kết cái kho vật
liệu ít ỏi đáng buồn của mình.

Đây là một cuộc phiêu lưu mà! Trong khi đó, đây lại là thời
điểm cho mọi luật sư đi vào năm mới với quyết tâm giành được nhiều giờ biện hộ
hơn, thắng nhiều vụ kiện lớn hơn, giành được phần lớn hơn, đem về nhà nhiều
tiền hơn. Trong bao nhiêu năm anh đã ước nguyện những điều đó, thế mà bây giờ
anh thấy chúng rõ là vớ vẩn, chẳng ý nghĩa gì.

Với một chút may mắn, anh sẽ ngủ trong võng tối nay, đong
đưa trong làn gió mát, nhâm nhi li cà phê thơm ngon. Nate nhớ mình chưa từng
bao giờ lại thèm cơm đậu đen đến thế.

Jevy quay lại trong khi có một người tuần canh da đỏ đến từ
ngôi làng. Tù trưởng muốn gặp mặt họ. “Ông ta muốn mới bọn mình ăn bánh mì”,
Jevy nói lúc họ đi đường.

“Có bánh mì để ăn thì đã quá. Hỏi xem họ có thịt xông khói
và trứng tráng không?”

“Có, mà là thịt khỉ nướng mọi, ông xơi được không?”

Hình như cậu ta không nói đùa. Ở bìa làng, một nhóm trẻ con
đứng đợi để nhìn mấy vị khách lạ. Nate cười làm thân với mấy cô cậu nhỏ. Chưa
bao giờ anh cảm thấy mình trắng đến thế. Vài phụ nữ trần truồng trố mắt nhìn
anh, từ túp lều thứ nhất. Khi anh và Jevy đi vào khu công cộng lớn, mọi người
dừng lại, nhìn chằm chằm.

Những đống lửa nhỏ được đốt lên, bữa ăn sáng đã xong. Khói
lan ra như sương mù trên các mái nhà và làm cho không khí ẩm càng lầy nhầy hơn.
Chỉ mới có mấy phút sau bảy giờ sáng nhưng trời đã rất nóng.

Tay “kiến trúc sư” của buôn làng đã “quy hoạch” khá tỉ mỉ.
Mỗi căn nhà đều hoàn toàn vuông vức với một mái ra thật dốc, gần chạm mặt đất.
Vài nhà lớn hơn những nhà khác nhưng thiết kế không hề thay đổi. Mọi căn nhà
quay vòng khu dân cư thành một vòng bầu dục, tất cả hướng về một khu đất bằng
phẳng - đó là quảng trường của buôn làng. Ở trung tâm là bốn kiến trúc lớn -
hai cái hình tròn và hai cái hình chữ nhật - tất cả đều có mái bằng rạ thật
dày.

Thủ lĩnh đang đợi họ. Không có gì đáng ngạc nhiên nếu như
chỗ ở của “lãnh đạo” là căn nhà lớn nhất của buôn làng. Và ông ta là người da đỏ
cao to nhất. Ông ta còn trẻ, chưa có những nếp nhăn hằn sâu trên trán và cái
bụng bự mà những người già hơn lấy làm tự hào. Ông ta đứng đó và nhìn Nate bằng
một tia nhìn có thể khiến John Wayne (một diễn viên điện ảnh danh tiếng chuyên
đóng vai người dùng “cao-bồi” đánh nhau với các bộ lạc da đỏ) phải… ớn xương
sống. Một chiến binh lão thành phụ trách phiên dịch, và trong vòng mấy phút,
Nate và Jevy được yêu cầu ngồi xuống cạnh đống lửa, nơi “tù trưởng phu nhân”,
trần truồng, đang sửa soạn làm bữa điểm tâm để vị nguyên thủ khoản đãi quốc
khách.

Khi bà ta cúi xuống, cặp vú đong đưa và chàng Nate khốn khổ
không thể không nhìn, dầu chỉ vài giây. Không có gì đặc biệt gợi dục nơi đàn bà
trần truồng hay nơi bộ ngực của “nàng”. Chỉ có sự kiện đáng nói là dầu trần
truồng như thế “nàng” vẫn tỏ ra rất ư là… vô tư về tình trạng đó của mình.

Chiếc máy ảnh của anh để đâu rồi nhỉ? Mấy anh chàng ở văn
phòng sẽ không bao giờ tin nếu không có bằng chứng.

Bà ta đưa cho Nate một cái đĩa bằng gỗ đựng thứ thức ăn
giống như là khoai luộc. Anh liếc nhìn Jevy, cậu ta nhanh nhẹn gật đầu làm ra
vẻ thành thạo về nghệ thuật ẩm thực da đỏ lắm lắm. Phu nhân phục vụ cho chồng
sau cùng và khi ông dùng mấy ngón tay để bốc thức ăn, Nate cũng bắt chước làm
theo. Đó là một hỗn hợp gồm củ cải và khoai lang đỏ không có mùi vị rõ ràng, ăn
chẳng ngon nhưng cũng không quá dở.

Jevy trổ tài lợi khẩu trong khi ăn và thủ lĩnh tỏ ra khoái
chí với cuộc đối thoại. Sau vài câu, Jevy lại dịch nội dung sang tiếng Anh,
bằng lối phiên dịch rất thoáng! (đại thể là… biến tấu theo ngẫu hứng, đố ai
biết đấy vào đâu!)

Buôn làng này, không bao giờ bị ngập nước. Họ đã ở đó hơn
hai mươi năm. Đất đai rất tốt. Họ thích định cư, nhưng nếu gặp chỗ đất cằn cỗi,
bạc màu thì họ bắt buộc phải du canh du cư. Bố của thủ lĩnh cũng là thủ lĩnh
trước đây. Cha truyền con nối. Thủ lĩnh, theo lời của thủ lĩnh, là người khôn
ngoan nhất, anh minh sáng suốt nhất, cái gì cũng nhất so với toàn thể bàn dân
thiên hạ, nhưng có điều khổ là không được ngoại tình, lăng nhăng. Phần lớn
những người đàn ông khác đều có thêm những cuộc tình lẻ, nhưng thủ lĩnh là phải
nghiêm chỉnh về khoản đó. Kể làm vua mà như vậy cũng… buồn!

Nate nghi rằng chẳng có chuyện gì khác để bàn hơn là tán
nhăng tán cuội. Rõ phí thì giờ.

Thủ lĩnh chưa từng thấy sông Paraguay. Ông ta thích đi săn
hơn là đi câu, do vậy ông dành nhiều thời gian ở trong rừng hơn là trên các con
sông. Ông đã học tiếng Bồ căn bản từ bố ông và từ các nhà truyền giáo da trắng.

Nate vừa ăn vừa nghe, vừa trông ngóng hình bóng của Rachel.
Cô không có mặt ở buôn làng này, thủ lĩnh giải thích. Cô đang ở buôn làng kế
bên để chăm sóc cho một bé gái bị rắn cắn. Ông không chắc khi nào cô sẽ quay
về.

Lạ thật đấy, Nate chua chát nghĩ.

“Ông ấy muốn chúng ta ở lại đây tối nay, trong buôn làng
này,” Jevy nói. Phu nhân lại tiếp thêm thức ăn vào đĩa cho khách.

“Không biết chúng ta có ở lại không?” Nate nói.

“Ông ấy bảo chúng ta ở lại”

“Nói với ông ấy để tôi còn suy nghĩ về chuyện ấy”

“Ông nói với ông ta đi”

Nate tự rủa mình đã không chịu đem theo cái Satfone. Chắc
chắn giờ này Josh đang đi tới đi lui trong văn phòng của ông ta, rầu rĩ muốn
phát ốm. Hầu như cả tuần nay họ chưa nói chuyện với nhau.

Jevy nói một điều gì đó hơi hài hước khi dịch ra trở thành
thật buồn cười. Thủ lĩnh khoái trá cười rú lên, và tiếng cười thật dễ lây,
chẳng mấy chốc mọi người khác cùng cười theo. Kể cả chàng Nate, cũng tự cười
mình vì đang cười hôi với đám người da đỏ, dầu chẳng hiểu mô tê gì cũng cười
hùa theo để làm thân!

Họ từ chối lời mời đi săn. Một đám tuần canh gồm mấy thanh
niên dẫn họ quay trở lại buôn làng đầu tiên, về chiếc xuồng máy của họ, Jevy
lại lau chùi mấy cái bu-gi và đánh vật với cái các-buya-ra-tơ. Nate chẳng có
việc gì khác để làm.

*

* *

Luật sư Valdir nghe cuộc gọi sớm của ông Stafford. Những câu
nói đùa chỉ diễn ra có vài giây.

“Nhiều ngày qua tôi chưa nghe được gì về Nate O’Riley”,
Stafford nói.

“Nhưng ông ấy có cái điện thoại cực kì hiện đại cơ mà”,
Valdir nói, trong tư thế phòng vệ, làm như ông ta có bổn phận bảo vệ ông
O’Riley.

“Đúng, anh ấy có. Nhưng chính điều đó càng làm tôi lo, bởi
vì anh ta có thể gọi bất kì lúc nào, bất kì ở đâu, thế mà”

“Cái điện thoại đó sử dụng được trong thời tiết xấu không?”

“Không. Tôi nghĩ là không”

“Tuần qua ở đây có nhiều cơn bão lắm. Vì là đang mùa mưa
mà.”

“Anh cũng không nghe gì từ cậu hướng dẫn viên à?”

“Không. Hai người đó đi cặp với nhau. Tay hướng dẫn này rất
tháo vát. Chiếc thuyền cũng rất tốt. Tôi chắc là họ bình yên, không sao đâu.”

“Nếu vậy tại sao anh ta không gọi điện liên lạc?”

“Tôi chịu, không biết trả lời ông sao. Nhưng cả tuần qua
trời u ám. Có lẽ anh ấy không thể sử dụng điện thoại”

Họ nhất trí rằng Valdir sẽ gọi ngay nếu nghe được tin tức gì
về Nate. Valdir đi đến cái cửa sổ mở và nhìn vào các đường phố nhộn nhịp của
Corumbá. Sông Paraguay vừa đổ xuống khỏi ngọn đồi. Biết bao câu chuyện về hàng
đoàn người đi vào vùng Pantanal và không bao giờ quay về. Đó là một phần của
truyền thuyết và cũng là sức cám dỗ mê hoặc.

Bố của Jevy đã lái tàu sông trong ba mươi năm và thân xác
ông ấy chẳng bao giờ tìm thấy.

Welly tìm ra văn phòng luật sư sau một giờ về đến Corumbá.
Chú ta chưa từng gặp ông Valdir, nhưng biết, qua Jevy rằng ông luật sư này trả
tiền cho chuyến đi.

“Tôi có chuyện rất quan trọng muốn thưa với ông luật sư”,
chú bảo cô thư kí. “Chuyện khẩn cấp”

Valdir nghe chuyện ầm ĩ liền xuất hiện. “Chú là ai?” ông
hỏi.

“Cháu tên là Welly. Anh Jevy thuê cháu làm thủy thủ trên
chiếc Santa Loura.”

“Chiếc tàu Santa Loura!”

“Vâng”

“Thế Jevy đâu rồi?”

“Anh ấy còn ở vùng Pantanal”

“Còn chiếc tàu đâu rồi?”

“Tàu chìm mất rồi”

Vladir nhận thấy chú bé mệt nhọc và sợ hãi. “Ngồi xuống,”
ông bảo, và cô thư kí chạy đi lấy nước uống. “Cháu hãy kể cho ta nghe mọi
chuyện.”

Welly bấu chặt vào hai tay vịn ở ghế ngồi và nói nhanh. “Anh
Jevy và ông O’Riley đã dùng xuồng nhỏ để đi tìm những người da đỏ”

“Khi nào?”

“Cháu không biết. Mấy ngày trước đây. Cháu ở lại với chiếc
Santa Loura. Một cơn bão lớn chưa từng thấy, ập tới. Nó giật đứt phăng dây neo
và kéo chiếc thuyền đi giữa đêm, rồi lật nhào chiếc thuyền giữa sông. Cháu bị
ném xuống nước và sau đó được một chiếc thuyền chở gia súc vớt lên.”

“Cháu về đến đây lúc nào?”

“Chỉ độ hơn nửa giờ trước đây”

Cô thư kí mang đến một li nước. Welly cám ơn cô và xin một
li cà phê. Vladir nghiêng người trên bàn giấy và nhìn chú bé tội nghiệp. Chú dơ
dáy và toát mùi… bò.

“Vậy là chiếc thuyền kể như tiêu?” Vladir nói.

“Dạ. Cháu rất tiếc nhưng cháu không thể làm gì được hết.
Cháu chưa từng gặp trận bão nào lớn như thế”

“Trong cơn bão thì Jevy và ông Mỹ ở đâu?”

“Một nơi nào đó trên sông Cabixa. Cháu lo cho hai người đó
lắm”

Vladir đi về văn phòng của mình, đóng cửa lại và quay về với
cửa sổ. Ông Josh Stafford đang cách xa đây ba ngàn dặm. Jevy và Nate có thể
sống sót trong một chiếc xuồng nhỏ. Chưa nên kết luận vội.

Ông quyết định không gọi trong vài ngày. Cứ để cho Jevy có
thời gian, chắc chắn với tài tháo vát và khéo thích ứng, cậu ta sẽ quay về
Corumbá.

Anh chàng da đỏ đứng trong xuồng và giữ thăng bằng bằng cách
bấu chặt vào vai Nate. Không có cải thiện đáng kể nào trong việc sửa chữa động
cơ. Nó vẫn cứ tiếp tục khọt khẹt rồi tắt hơi và khi mở van tiết lưu hết cỡ nó
vẫn chỉ đạt được một nửa sức mạnh so với lúc họ rời chiếc Santa Loura.

Họ đi qua khu định cư đầu tiên, và con sông cong queo, ngoằn
ngoèo gần như xoắn thành những vòng tròn. Rồi nó chẻ ra hai nhánh, và anh chàng
da đỏ chỉ trỏ. Hai mươi phút sau, căn lều nhỏ của họ hiện ra.

Họ neo lại chỗ trước đây trong ngày Jevy đã tắm. Họ nhổ trại
và thu xếp hành trang để đi vào làng, nơi thủ lĩnh đang đợi họ.

Rachel vẫn chưa quay về.

Bởi vì không phải là thành viên của bộ lạc, túp lều của cô
không ở trong khu bầu dục, mà cách xa đó một trăm bộ, sát bìa rừng, lẻ loi.
Trông nó nhỏ hơn bất kì túp lều nào khác và khi Jevy hỏi về chuyện này thì anh
chàng da đỏ đi theo họ giải thích là bởi vì cô không có gia đinh. Cả ba người –
Nate, Jevy và chàng da đỏ – qua hai giờ dưới bóng cây ở ven buôn làng, nhìn
ngắm những sinh hoạt thường ngày trong khi chờ Rachel.

Anh chàng da đỏ này đã học tiếng Bồ với vợ chồng Coopers,
hai nhà truyền giáo đã đến đây trước Rachel. Và anh ta cũng lõm bõm vài tiếng
Anh mà thỉnh thoảng anh ta thử truyền thông với Nate. Vợ chồng Coopers là những
người da trắng đầu tiên mà những người Ipicas từng thấy. Bà Cooper chết vì sốt
rét và ông Cooper quay về lại nơi mà ông đã ra đi.

Những người đàn ông lớn tuổi đang đi săn hay đi câu cá, anh
chàng da đỏ giải thích cho mấy người khách, còn đám trai trẻ chắc là đang lượn
lờ tìm bạn gái. Đám phụ nữ phải làm việc nặng nhọc – nấu nướng, làm bánh, dọn
dẹp nhà cửa, chăm nom con cái. Nhưng lao động diễn tiến theo nhịp rất khoan
thai. Nếu thời gian chuyển dịch chậm hơn ở phía nam đường xích đạo, thì nơi
người Ipicas lại chẳng có đồng hồ.

Những cánh cửa chính của các căn lều vẫn mở, và trẻ con chạy
từ lều này đến lều khác. Các cô thiếu nữ chải tóc trong bóng râm, trong khi các
bà mẹ của họ làm việc bên các đống lửa.

Sự sạch sẽ luôn là nỗi ám ảnh. Rác, bụi ở những khu chung
được quét đi bằng chổi rơm. Bên ngoài của các túp lều trông ngăn nắp, gọn ghẽ.
Phụ nữ và trẻ con tắm nơi dòng sông mỗi ngày ba lần, đàn ông hai lần mỗi ngày,
và không bao giờ tắm chung với đàn bà. Mọi người đều trần truồng, nhưng có vài
cái đặc biệt cũng phải giữ riêng tư.

Chiều gần tôi, đám đàn ông tụ tập nơi căn nhà của quý ông,
căn lớn hơn trong số hai căn hình chữ nhật ở trung tâm. Họ sửa soạn cho đầu tóc
một lúc – cắt gọn, làm sạch – rồi bắt đầu vật nhau. Các cuộc đấu diễn ra theo
thể thức một chọi một và các ngón chân chạm nhau, với mục tiêu là ném địch thủ
xuống đất. Đó là một môn chơi thô bạo, nhưng tuân theo những luật lệ nghiêm
ngặt và sau đó ai thắng ai bại cũng đều tươi cười vui vẻ với nhau. Thủ lĩnh dàn
xếp mọi tranh chấp. Cánh đàn bà chỉ đứng ở cửa nhà nhìn ra thôi, tuyệt đối
không được xía vào. Mấy chú nhóc thì bắt chước những động tác của các ông bố.

Còn Nate ngồi trên một đống gỗ, dưới một bóng cây, nhìn tấn
tuồng đang diễn ra như ở một thời đại khác, và tự hỏi, không phải là lần đầu,
mình đang ở nơi đâu.

Báo cáo nội dung xấu