Theo đuổi - Chương 17

17

Phụ nữ, khi đối mặt với những kỉ niệm buồn, dường như chỉ
có một cách duy nhất để trốn chạy nó là bỏ đi. Làm như bỏ đi thì chốn kỉ niệm
cũng theo đó mà biến mất vậy.

*

Gần sáng, trời đổ mưa. Cơn mưa làm tôi tỉnh ngủ, và kì lạ là
không sao ngủ lại được nữa.

Tỉnh ngủ, ý nghĩ đầu tiên vụt lóe trong đầu là vài giờ nữa
tôi sẽ rời khỏi Cẩm Xuyên, trên một chiếc xe khách chật ních người và hàng hóa.
Chiếc xe sẽ uốn mình theo những cung đường cong khó tưởng tượng nổi, có thể vẫn
những dòng thác nước trắng xóa từ vách núi đổ xuống, băng qua đường, như ngày đầu
tiên tôi đến. Tôi sẽ rời khỏi Cẩm Xuyên, và có thể đây là lần cuối cùng trong đời
tôi ở nơi này. Tôi sẽ không bao giờ trở lại nữa. Không bao giờ trở lại.

Điện thoại đổ chuông, và tiếng nhà xe eo éo: “Em ơi, hôm nay
nhà xe không chạy. Có ba chỗ sạt liền. Mai nhé. Chịu khó đợi vậy”.

Nhà xe cúp máy. Anh ta chu đáo thông báo cho hành khách việc
tạm dừng chạy do điều kiện đường xá bất lợi. Mưa như thế gần hai tháng trời, việc
sạt đường diễn ra như cơm bữa, từ bao nhiêu năm nay rồi.

Như vậy là không thể rời khỏi Cẩm Xuyên như đã định, tôi đã
bình tĩnh hơn. Phải rồi, tôi đã quyết định về thành phố khá vội vàng, khi chưa
tạm biệt ai cả. Chưa tạm biệt Hạc. Tôi nghĩ rằng sẽ sang tạm biệt cô trong buổi
sáng, vì giữa trưa nhà xe mới chạy.

Không sao ngủ lại được, nằm nghe mưa như thác bên ngoài. Rồi
một nỗi bồn chồn lạ lùng cứ cồn cào trong ruột. Tôi trở dậy.

Ngoài trời đã hửng sáng. Cơn mưa khiến trời tối hơn vào thời
điểm thường lệ. Mở cánh cửa ẩm hơi nước, tôi bước ra hiên nhà.

Mưa rơi trắng khoảng sân hẹp láng xi măng đã thủng lỗ chỗ.
Những khóm hoa hồng của Hạc đang rũ xuống trong mưa. Và trước những khóm hoa ấy,
tôi đứng tim. Một ai đó đang nằm trên nền sân mưa, ướt mẹp.

Tôi lao ra khoảng sân mưa. Vội vàng lay người nằm đó. Là Hạc.
Cô ướt mẹp, mềm oặt như một con mèo nhúng nước.

Tôi gọi điện cho Tản. Khi đó tôi chẳng biết gọi cho ai khác
ngoài Tản. Và chỉ trong vòng hai mươi phút. Tản lao đến cùng Bến Bình.

Hạc được thay quần áo và nằm trên giường trong tấm chăn mềm
mại. Có lẽ khi tôi phát hiện và đưa cô vào nhà, cô mới chỉ nằm trong mưa ít
phút. Không nguy kịch đến tính mạng. Nhưng nhìn Hạc nằm trên giường với cái đầu
cạo trọc tóc, thoi thóp như một bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, cả ba chúng
tôi đều hoang mang. Nếu tôi không mở cửa vào lúc đó, có thể cô sẽ chết. Cô sẽ
chết trong cô độc, mang theo bao nỗi buồn. Có thể thế.

“Không thể để Hạc tiếp tục sống một mình ở đấy được. Chị
nghĩ gia đình nên đưa cô ấy về nhà”.

Tôi nói với Tản thế khi chúng tôi ngồi trong quán cà phê bên
bờ vực. Cơn mưa đã tạnh, ngoài tiếng dòng suối dưới vực chảy xiết thì không
gian vẫn bình yên, như không có chuyện gì xảy ra hết. Hạc có thể đang được cha
mẹ chăm sóc. Tôi không muốn ngồi trong căn phòng bên cạnh để nghe họ nói với
nhau, khi bức tường ngăn dường như không có tác dụng ngăn cản một âm thanh nhỏ
nào.

Quán cà phê vắng khách. Người phố núi không có thói quen uống
cà phê sáng. Họ chỉ quan tâm đến bữa ăn sáng, rồi bắt đầu công việc trong ngày.
Tôi và Tản như lạc lõng giữa thị trấn này.

Tản không nói gì. Đôi mắt đẹp nhìn xa xôi và trán nhăn lại.
Tản dường như đang nghĩ về Hạc rất nhiều.

“Con của cô ấy, vì sao lại chết?”.

Tôi không hề có ý tò mò về chuyện Hạc từng có một đứa con,
và đứa bé ấy đã chết. Nhưng tôi nghĩ từ đó bi kịch của cuộc đời cô đã bắt đầu.
Nó không hề chết đi, không hề biến mất sau quãng thời gian điều trị ở bệnh viện,
mà ngấm ngầm như kẻ ngủ say bởi thuốc an thần, và một lúc nào đó, như lúc này,
đã tỉnh dậy.

Hạc tự tay cắt mái tóc của mình. Điều đó diễn ra trong quãng
thời gian tôi chứng kiến, và hôm nay cô ấy đã ngủ trong một cơn mưa. Không khó
để hình dung ngày mai, ngày kia, ngày sau nữa sẽ xảy ra chuyện gì.

Và cô ấy còn rất trẻ.

Tản nhìn tôi, nhưng không tỏ vẻ ngạc nhiên. Có vẻ Tản biết rằng
nếu Hạc có một đứa con đã chết, thì việc tôi biết chỉ là vấn đề lúc nào, khi
nào mà thôi.

“Ai kể cho chị thế?”.

“Hải Đường”.

Tản gật.

“Em biết mà”.

Tản rủ tôi đi dạo. Chúng tôi trở lại con đường tuần trước đã
đi, đến gốc cây thần rừng, chúng tôi dừng lại.

Cây thần rừng xanh tươi xòa bóng. Gió bất tận xạc xào. Không
khí trong lành, mát lạnh. Bên đường, những dãy núi đá cao sừng sững như những bức
tường thành của thiên giới. Đứng dưới bóng thần rừng, trái tim tôi dịu êm trở lại.
Tựa hồ nơi này, gốc cây này có năng lực hồi sinh.

“Chị biết sao ta lại đến đây không?”.

“Vì cuối cùng em muốn chị biết chuyện gì xảy ra với em và Hạc,
mà không phải ở quán cà phê”.

Tản gật đầu.

“Vâng”.

Tản ngồi xuống chiếc rễ cây trồi lên mặt đất, như một con rồng
nhỏ, nơi đã nhẵn vết người ngồi.

Và rồi, câu chuyện tình yêu của họ tái hiện. Họ học cùng một
lớp, yêu nhau tự nhiên như hàng tỉ đôi trai gái trên đời. Nhưng cuộc tình duyên
bị ngăn cản. Cuộc ngăn cản từ hai phía gia đình, vì hai gia đình ghét nhau. Họ
không thích nhau. Có thể nguyên nhân từ cuộc hôn nhân trước đó giữa Bến Bình,
em gái Hạc và người anh trai của Tản. Có thế thôi.

Nhưng người bỏ cuộc không phải là Tản. Người bỏ cuộc là Hạc.
Hạc đã chủ động chia tay Tản. Họ chia tay trong đau khổ. Và Hạc mang thai.

“Mang thai thì sự đã rồi. Lẽ nào vì thế mà hai người chia
tay mãi mãi”.

“Không như chị nghĩ đâu. Con của Hạc không thể là con em được.
Bọn em chia tay năm tháng sau Hạc mới có thai cơ mà”.

Rừng xào xạc gió. Gió thổi qua thung lũng, qua khoảng trống
lênh loang của dòng suối, bị những dãy núi đá sừng sững kia chặn lại, dội về.
Cây thần rừng uốn mình trong những cơn gió lớn như lốc thổi.

Sau đó, Hạc sinh con. Không để đứa trẻ ảnh hưởng đến cuộc đời
Hạc, người nhà của Hạc, chính xác là Bến Bình, đã chịu trách nhiệm về việc đứa
trẻ biến mất. Gia đình Hạc dự tính khi đứa trẻ không còn liên quan đến đời Hạc,
họ sẽ đưa cô về xuôi, sống ở thành phố, lấy chồng và yên ổn, vĩnh viễn quên đi
mối tình thơ dại dột ở quê nhà. Nhưng điều mà gia đình ấy không bao giờ ngờ đến,
là sau khi sinh con, Hạc bị trầm cảm nặng, cuối cùng, đã phải đi viện tâm thần
điều trị. Và mười năm đã trôi qua, cơn bệnh không chết đi, nó chỉ ngủ, bây giờ
đã tái phát.

Họ sẽ làm gì với cô ấy tiếp đây. Đưa cô ấy đi viện tiếp tục
điều trị, hay cứ để cô ấy chết lặng lẽ trong nỗi hoang hoải cuộc đời.

“Sao lần trước em nói cô ấy có khả năng bị đồng tính, có vấn
đề về giới tính cơ mà. Em đã nói dối chị, phải không?”.

Tản im lặng, tránh nhìn vào mắt tôi.

“Lâu lắm rồi em không dám gặp Hạc, nên nói thế để thăm dò
thôi. Chị thông cảm cho em”.

“Sự thật là đứa con của Hạc không chết, nó vẫn còn sống, ở
đâu đó, đúng không?”.

Tản vẫn không nhìn tôi.

“Em biết tất cả, sao không nói ra sự thật? Nếu em nói sớm,
có thể Hạc đã khỏi bệnh từ lâu rồi. Em…”.

Tôi thấy mặt mình nóng phừng, tim đập loạn lên, và tôi sắp
không làm chủ được những điều mình sắp nói ra mất. Khi giận dữ, tôi không kiểm
soát được giọng nói và những điều cần nói.

“Em không biết thật. Chị Bình làm tất cả. Chị ấy là chị dâu
em, nhưng là em gái Hạc”.

“Thế sao?”.

Tôi và Tản ngồi im, không ai nói với ai lời nào. Gió vẫn cồn
cào thổi. Một vài người phụ nữ áo chàm xanh gùi trên lưng những gùi hàng gì đó
lặng lẽ đi ngang qua.

Cho đến khi một bầy chim bay đến, đậu trên các cành cây và
líu chíu hót. Chúng từ một nơi nào đó theo gió bay về, đậu trên cái cây tuyệt đẹp
này và ríu rít kể cho nhau nghe những chuyện chúng thấy trên các cánh rừng, những
bản làng xa xôi.

Tôi cuối cùng đã phải phá vỡ khoảng lặng.

“Có một điều chị rất ngạc nhiên, em có biết không? Hạc từng
nói chính xác về chiếc xe đạp hồi chị đi học đại học”.

Tản nhăn trán, nhíu mày.

“Thật à? Làm sao Hạc biết được?”.

“Và, còn một chuyện nữa, xảy ra gần đây. Em còn nhớ khi chị đến
đây lần đầu, đã gặp một chú bé cùng con trâu rất đẹp không?”.

Tản nhìn tôi, chờ đợi.

“Cậu bé ấy chết rồi, phải không?”.

Tản gật đầu.

“Hạc nói cô ấy đã nhìn thấy một đứa bé ngồi trong hốc đá bên
bờ suối, cạnh con trâu của mình. Đứa bé bị lũ cuốn, chết khi vẫn ôm chặt cổ con
trâu”.

Tản ngạc nhiên đến nỗi cậu há miệng, mắt không chớp.

Mãi rồi Tản mới hỏi: “Hạc nằm mơ, hay nhìn thấy?”.

“Cả hai. Quan trọng là cô ấy đã biết điều đó, mà không được
ai kể lại”.

Báo cáo nội dung xấu