Trang - Chương 01 - Phần 1
1
Thị trấn Khai
Phong lúc bấy giờ vào đầu xuân. Mùa xuân đến muộn với tỉnh Hồ Nam, miền Hoa
Bắc.
Sau các bức
tường cao, hoa đào đã nở trong các hoa viên, sớm hơn ở các nông trại rải rác
khắp cánh đồng phẳng lặng chạy dài chung quanh hào thành thị trấn. Dù được
khuất gió, nhưng đến ngày lễ Quá Hải (1), các nụ đào cũng chỉ mới phơn phớt
hồng.
(1) Lễ kỷ niệm ngày dân tộc Do Thái vượt qua Hồng
Hải.
Trong hoa viên
nhà ông Era, nhiều cành đào đã được cắt từ trước, để các nụ hoa kịp nở trong
ngày lễ. Mỗi mùa xuân đến, Trang, người nữ tỳ Trung Hoa lại trưng bày những
cành đào đầy hoa khắp các bức tường gian phòng chính. Và hằng năm, ông bà Era
cũng không quên lưu ý đến công việc của nàng. Hôm ấy, nghĩ đến mùa xuân băng
giá với những cơn gió bấc lạnh lùng thổi thốc vào thị trấn, hai ông bà đặc biệt
ngợi khen cô gái trẻ.
- Kìa, bà xem,
thật là một phép lạ! Trang nó làm đấy! - Ông Era vừa nói vừa đưa bàn tay mập
mạp trỏ các đóa hoa đào.
Bà Era dừng bước
ngắm, nét mặt nghiêm nghị đã trở nên dịu hiền. Bà nói:
- Đẹp lắm con ạ!
Trang vẫn im
lặng để giữ lễ, hai bàn tay nhỏ bé chắp lại trên cánh tay áo phồng. Nàng bắt
gặp nét nhìn của Đavít nên vội quay đi, nhưng khẽ mỉm cười để đáp lại nụ cười
nồng nhiệt của Lịch. Vị giáo trưởng già đứng yên vì đôi mắt đã mù hẳn, còn con
trai giáo trưởng là Arông, thì Trang không nhìn đến.
Họ ngồi quanh
cái bàn tròn lớn đặt giữa gian phòng chính. Trang đôn đốc các nô tỳ hầu khách
một cách im lặng, duyên dáng. Nàng điều khiển bốn nữ tỳ khác, trong đó, mụ
Hoàng lớn tuổi hơn hết giữ việc hầu trà.
[Chúc bạn đọc
sách vui vẻ tại www.gacsach.com - gác nhỏ
cho người yêu sách.]
Lâu lắm, từ hồi
ký ức nàng còn ghi nhớ được đến nay, hằng năm, Trang đều có dự vào buổi dạ yến
này tại nhà chủ nhân. Chính nàng coi sóc việc sắp dọn các món ăn, và đám nô bộc
vâng theo lời nàng, vì nàng biết rõ chỗ cất đồ vật trong nhà như chính nàng là
con gái của gia đình này vậy.
Người ta xếp cất
bộ chén dĩa cẩn thận suốt năm, chỉ đem dùng một lần trong bữa dạ yến thường
niên áp lễ Quá Hải. Nào muỗng bạc, nào đũa ngà, nào đèn đồng bảy ngọn chói lọi
trong ánh sáng, đèn lồng treo cao trên xà nhà sơn son. Như mọi năm, trên một
mâm bạc lớn, Trang đã xếp những vật tượng trưng mà nàng không hiểu ý nghĩa: một
cái trứng luộc, một ít thoan thảo (1), vài trái táo, trái hồ đào và rượu nho.
Những phẩm vật tượng trưng cho một tôn giáo kỳ lạ!
(1) Một loại cỏ chua.
Ngày hôm ấy xem
có vẻ kỳ dị đối với thành phố Trung Quốc này. Và dù đã quen thuộc lễ nghi,
Trang cũng không khỏi ngạc nhiên mỗi khi mùa xuân đến. Trước hết là việc tìm
kiếm khắp nhà những mẩu bánh men. Sáng ấy, ông Era vừa lục soát trong mọi xó,
vừa cười, lơ đễnh như thói quen thường ngày. Xưa kia, bà Era giấu các mẩu bánh
thừa, nhưng đã từ bao năm nay bà phó thác việc ấy cho Trang, và ông Era bảo
nàng đếm các mẩu bánh để biết lúc nào ông đã tìm xong. Có phần ngượng nghịu trước
đám nô bộc, bộ điệu của chủ nhân trở nên ngộ nghĩnh buồn cười. Hồi thơ ấu,
Trang và Đavít cùng nhau đi kiếm một cách vui vẻ, đưa tay chỉ mỗi mẩu bánh cấm
và cười ngất. Nhưng lúc bấy giờ, nàng chưa biết mình chỉ là một kẻ nô tì.
Bây giờ, nàng đã
biết. Nàng đứng yên chăm chú suốt bữa tiệc. Mỗi thực khách, nàng đều biết ít
nhiều về họ. Nhất là Đavít! Chính vì chàng mà người ta đã mua nàng, vào một năm
đói kém, lúc đê vỡ, nước sông Hoàng Hà tràn ngập các miền đồng thấp. Lúc bấy
giờ, nàng còn nhỏ quá! Và dù cố đi sâu vào dĩ vãng, nàng cũng không nhớ được
một khuôn mặt nào trước Đavít cả. Đây, kỉ niệm đầu tiên của nàng: gương mặt một
cậu bé, hơn nàng hai tuổi, khi nào cũng lớn hơn, mạnh hơn, nên tự nhiên nàng
thích gần gũi và nương nhờ che chở. Thuở ấy, cậu là người mà nàng giãi bày tâm
sự, gởi gắm ưu phiền, và đã phải khó khăn lắm nàng mới chấm dứt được thói quen
này. Nhưng, nàng biết cần phải chấm dứt. Sự thân mật giữa đôi trẻ không thể
tiếp tục lúc đã lớn khôn, khi mà một kẻ là chủ và kẻ kia là nô tì.
Trang không than
phiền; nàng cảm thấy sung sướng trong gia đình Do Thái khá giả này. Chủ nhân,
ông Era là một thương gia phì nộn và vui tính. Không có bộ râu rậm, Trang tự
nhủ, ông Era đã giống một người Trung Hoa, vì mẹ ông là người Trung Quốc. Không
ai đả động đến điều này bao giờ, điều mà bà Era đã lấy làm khổ sở, nhưng bà tự
an ủi vì nhìn thấy Đavít, con bà giống mẹ hơn bố, và càng giống ông ngoại mà
chàng mang tên hơn. Mặc dù người ta có mang ơn riêng của bà Era nhưng ai cũng
kiêng sợ bà, vì tính khí bà thất thường nên lòng tốt của bà rất dễ tiêu tan một
cách đột ngột. Tuổi xấp xỉ ngũ tuần, bà là một người đàn bà cao lớn, mạnh khỏe,
và xinh đẹp đối với những ai không chê một sống mũi cong và một màu da sẫm. Bà
có một lòng tin vững chắc, những tập quán bất di bất dịch lẫn lộn một cách lạ
lùng với lòng quảng đại của bà. Hằng năm, bà mời giáo trưởng và hai người con
là Lịch và Arông đến dự lễ Quá Hải. Arông mười bảy tuổi, bạc nhược và giả dối,
Trang khinh bỉ vì mặt chàng xanh xao, nhem nhuốc và vì chàng trụy lạc. Nàng tự
hỏi, không biết giáo trưởng hay gia đình ông Era có hay biết sự trụy lạc của
Arông không. Nhưng thăm hỏi về vấn đề này không phải là việc của nàng. Có lẽ
những người Do Thái ở Khai Phong không hay biết gì về hành vi của Arông, còn
người Trung Hoa thì quá dè dặt nên không ai mách làm gì.
Lịch khác hẳn em
trai. Nàng xinh đẹp, lại hiền lành, đó là bản tính thiên nhiên mà tạo hóa đã
phú cho những nhân vật đặc biệt. Trang đứng cạnh bàn nhìn Lịch với một lòng
thèm muốn pha lẫn đôi chút ưu tư, nhưng không bao giờ trở thành ghen ghét. Tối
hôm ấy, Lịch bận áo màu rượu chát đỏ, với dải thắt lưng vàng, nàng xinh đẹp
tuyệt trần, dù vóc dáng hơi cao. Người Trung Hoa không ưa đàn bà hình vóc cao,
nhưng nước da màu sữa và đôi mắt đen sáng ngời sau hai hàng mi của Lịch cũng đã
bù đắp được khuyết điểm ấy. Còn sống mũi của nàng, dù ít khuyết điểm hơn sống
mũi của bà Era, nhưng đối với sở thích của người Trung Quốc như thế cũng vẫn
còn cong quá.
Không những đẹp,
Lịch còn hơn thế nữa. Nơi nàng có một vẻ tinh thần, một sự cao nhã mà Trang
khâm phục mặc dù không hiểu thấu. Người Trung Hoa khen Lịch: “Nàng thụ hưởng
đức tính trời ban”. Như thế có nghĩa là đức tính của nàng tự nhiên, tỏa ra từ
một nguồn gốc nội tại. Lịch ngồi bên cạnh cha, giúp cha từng li, từng tí. Sự tươi
vui của nàng chiếu sáng bữa tiệc, mặc dù nàng rất ít nói.
Có lẽ nàng đã
hưởng thụ các đức tính ấy của cha. Cao và gầy, giáo trưởng được bao phủ thánh
tính như một cái áo hào quang. Năm xưa, giáo trưởng đau mắt như phần nhiều
người Trung Quốc. Ở đây không có thầy thuốc nào để chữa bệnh ấy, và giáo trưởng
đã mất thị giác rất chóng, vì là người ngoại quốc nên không được miễn nhiễm.
Ngày đôi mắt giáo trưởng không còn trông thấy gì nữa, vợ giáo trưởng mới ba
mươi tuổi - bà mất sau đấy không lâu - còn Lịch và Arông thì đang nhỏ dại. Giáo
trưởng hình như chỉ là một linh hồn thoát tục. Có lẽ không thấy được mặt người
đời, giáo trưởng buộc lòng chỉ chiêm ngưỡng mặt Chúa, hay đó chỉ là kết quả bởi
lòng lành tự nhiên của giáo trưởng? Tóc bạc (bạc ít lâu sau khi giáo trưởng mù)
bao phủ khuôn mặt cao khiết; đôi mắt sâu, chòm râu trắng phau, làm cho giáo
trưởng có vẻ trầm tĩnh và kiêu hùng.
Trang theo dõi
từng cử chỉ, từng nụ cười của các thực khách quanh bàn tiệc. Nàng thấy Đavít
nhìn Lịch ngồi đối diện chàng, rồi quay sang nhìn chỗ khác. Điều nầy đã làm
Trang phải nén lòng vì cảm thấy khó chịu. Đavít cao bằng Lịch, nhưng theo ý
Trang thì chàng đẹp hơn. Với tuổi mười chín, vóc dáng Đavít nảy nở đến mức độ
đầy đủ của tuổi thanh niên. Chàng vận y phục Do Thái trông rất đẹp, nhưng Trang
không thích, vì như vậy sẽ có sự khác biệt giữa hai người. Thường Đavít vận y
phục Trung Quốc, giản tiện hơn; nhưng tối hôm ấy, chàng mặc một cái áo dài xanh
và vàng, đội một cái mũ Do Thái không vành, bằng lụa xanh, chụp sâu trên mái
tóc đen ngắn. Trang không thể không chăm chú nhìn Đavít; chàng gặp nét nhìn ấy
và mỉm cười với nàng. Tức thì nàng cúi đầu và quay lại bảo lão Hoàng, người nô
bộc lớn tuổi nhất – đem bình rượu lễ đến.
Nàng nói:
- Đưa bình rượu
cho chủ nhân.
- Biết rồi. -
Lão Hoàng lớn tiếng đáp. - Đã bao năm rồi, không cần phải nhắc nữa! Cô cũng
đáng sợ như mụ nhà tôi.
Chính lúc đó, vợ
lão vào, theo sau có nhiều nô bộc bưng thau, bình nước và khăn tay dùng vào
nghi thức Quán Tẩy. Ông Era rời ghế bọc nệm, nhưng không tự mình làm phép rượu,
ông rót đầy cốc của giáo trưởng và thưa:
- Xin thầy làm
phép rượu cho chúng tôi.
Vị giáo trưởng
đứng dậy, giơ cao cốc rượu để làm phép, rồi tất cả đứng dậy và uống. Khi họ
ngồi xuống ghế, thím Hoàng bảo bọn nô bộc rót nước ra thau, mỗi thực khách rửa
và lau tay, rồi lấy một ngọn thoan thảo chấm muối ăn.
Đám nô bộc người
Trung Hoa tuy đã quen với các nghi lễ trên nhưng vẫn lấy làm lạ lùng. Họ đứng
trong phòng, yên lặng, mắt như bị thôi miên đầy kinh ngạc và kính cẩn. Trước vẻ
nhìn của lũ nô bộc, ông Era cảm thấy mất tự nhiên trong khi hành lễ. Ông bảo:
- Đavít con!
Lịch trẻ tuổi hơn con, hôm nay chính nàng sẽ đặt bốn câu hỏi.
Lịch e thẹn, và
đặt bốn câu hỏi với giọng nói rất dịu dàng.
- Hôm nay khác
với mọi hôm như thế nào?
Nàng hỏi câu này
bốn lần, và bốn lần các thực khách cùng đáp lại, và giọng họ thấp hơn giọng
long trọng của vị giáo trưởng.
- Các hôm khác
chúng ta có thể ăn bánh men, hôm nay chỉ có thể ăn bánh không men.
- Các hôm khác
chúng ta có thể ăn thứ rau nào cũng được, nhưng hôm nay chỉ ăn thoan thảo mà
thôi.
- Các hôm khác
không cần nhúng rau này dù chỉ một lần thôi, nhưng hôm nay phải nhúng hai lần.
- Các hôm khác
chúng ta ngồi thẳng, nhưng hôm nay có thể dựa ngửa ra.
Vấn đáp xong,
ông Era thưa:
- Bây giờ xin
thầy kể cho chúng tôi nghe lịch sử của Haggadah.
Nhưng đến đây,
bà Era liền bất bình can thiệp:
- Ồ! Ông Era,
việc ấy là phần ông, chủ gia đình. Hẳn ông đã quên sự tích này, vì mỗi năm ông
đều tránh không kể lại. Hoặc, ông biết đọc chữ Do Thái, ông có thể đọc sự tích
này cho chúng tôi nghe.
Ông Era cười
đáp:
- Trước mặt giáo
trưởng đây, tôi đâu dám vô lễ.
Vị giáo trưởng
già kể lại chuyện cổ tích ấy. Cụ nhắc lại việc dân tộc Do Thái, xưa kia làm nô
lệ cho một nước khác, đã thấy xuất hiện một vị cứu tinh, Mai-sen, người đã đứng
lên giải phóng dân tộc. Mai-sen ra lệnh nấu hối hả thứ bánh không men, giết một
con cừu cái và lấy máu đánh dấu trước cửa mỗi nhà Do Thái. Dân tộc áp bức bị
nhiều tai họa, cuối cùng phải nhượng bộ, và thấy đứa con đầu lòng của mỗi gia
đình dân chết, vua họ đành phải để người Do Thái ra đi. Mọi năm, đến ngày ấy,
ta làm lễ kỷ niệm về sự giải phóng của dân tộc Do Thái.
- Cho đến ngày,
chúng ta ngửng đầu thật cao mà trở về xứ sở, xứ sở của chúng ta.
- Mong sao ngày
ấy đến mau, bà Era vừa nói vừa lau nước mắt.
- Cầu mong cho
ngày ấy đến mau. Lịch long trọng lặp lại.
Nhưng ông Era và
Đavít im lặng.
Trong lúc giáo
trưởng nhắc lại sự tích trên, bốn lần Trang ra hiệu cho đám nô bộc rót đầy rượu
vào ly và bốn lần các thực khách đều uống cạn, để kỷ niệm một sự việc mà Trang
không hề biết ý nghĩa. Nàng chỉ biết là vào lúc đó thì phải rót đầy rượu. Cũng
như mọi người Trung Hoa, đến danh từ Do Thái nàng cũng không hiểu ý nghĩa là
gì. Đã lâu lắm, người ta thấy các người ngoại quốc này từ một xứ xa lạ đến, xứ
Do Thái, như người ta nói, và họ đã làm ăn thịnh vượng tại thị trấn Trung Quốc
trù phú này. Người Do Thái đã vượt qua Ba Tư và Ấn Độ, bằng đường thủy và đường
bộ. Từ đời này sang đời khác, đã nhiều lần trải qua lịch sử, từng đợt nhỏ, lớp
người làm nghề buôn bán đổi chác đến trước. Rồi sau họ đến đông hơn, kể có hàng
trăm đem theo gia đình và cả giáo trưởng nữa. Tổ tiên ông Era cũng đã di cư đến
đây từ bảy tám mươi năm nay, với bảy mươi gia đình khác, mang đầy vải, một thứ
hàng rất quí đối với người Trung Quốc, vì họ chỉ biết dệt lụa. Hàng vải ấy đem
dâng cho một Hoàng đế của thế hệ cũ, đổi lại, gia đình Era được thấm nhuần ơn
vũ lộ của Hoàng gia, và được ban họ Trung Quốc là Cao. Vì vậy ở Khai Phong
người ta còn gọi ông Era là Cao tiên sinh nữa.
Đối với lớp
người di cư này, người Trung Quốc tỏ ra có nhiều thiện cảm. Theo họ, người Do
Thái thông minh, cương quyết, sắc sảo hơn hẳn một người Trung Quốc. Họ đã giao
cho một người Do Thái trông coi cửa hàng của mình, có khi lại gả luôn thứ nữ
cho nữa. Nhưng không bao giờ người Do Thái gả con cho người Trung Quốc.
Khi thấy giáo
trưởng ngồi xuống, thím Hoàng bảo nhỏ chồng:
- Đem món trứng
mau lên!
Cũng như Trang
trước kia, gia đình này đã mua thím Hoàng để làm nô tì. Lúc bấy giờ, thím Hoàng
trẻ và đẹp, cũng coi sóc việc tiệc tùng như Trang bây giờ. Nay vì đã già và rất
tốt bụng nên không hề ganh tị với Trang nhưng đôi lúc thím cũng tỏ ra ta đây
thạo việc.
Lão Hoàng chạy
ra cửa, gọi hai kẻ nô bộc bưng đến những dĩa trứng luộc trong nước muối, đã bóc
vỏ. Chủ khách mỗi người lấy một quả và ăn một cách im lặng. Tiếng nói của vị
giáo trưởng già lại trầm dội chung quanh bàn tiệc:
- Đây là biểu
hiện sự đau khổ và niềm hy vọng của chúng ta.
Ăn trứng xong,
ông Era vỗ hai bàn tay vào nhau, và nói:
- Bây giờ, bữa
tiệc bắt đầu.
Hai vợ chồng lão
Hoàng cùng ra khỏi phòng với các nô bộc khác; họ vén các bức rèm và bưng vào đủ
các thức ăn, gà, vịt, và nhiều món thịt khác, trừ thịt heo. Các đĩa thức ăn dọn
quanh bàn thành một vòng tròn lớn. Ông Era cầm đũa mời khách, và tự chọn các
miếng ngon gắp bỏ vào chén của giáo trưởng và Lịch.
Bữa tiệc bắt
đầu; ông Era ăn uống ngon lành, các mạch máu đỏ ở cổ ông căng lên. Ông vui vẻ
trò chuyện liên miên, ép mời khách dùng món này món khác. Chỉ một mình Arông vẻ
ngoài xanh xao không nói năng gì. Chàng ăn hối hả và ngốn ngấu như người đã
nhịn đói lâu ngày. Lịch liếc nhìn em có vẻ trách móc, nhưng chàng không hề để
ý. Một lần, chợt gặp nét nhìn của Lịch, chàng bĩu môi. Đavít thấy vậy và lấy
làm bất bình. Im lặng, chàng lựa một miếng thịt thật mềm trong dĩa mình, gắp bỏ
sang dĩa Lịch. Và Trang thấy rõ điều ấy.
Bữa tiệc tiếp
diễn theo tục lệ. Tửu nhập ngôn xuất, ông Era mỗi lúc mỗi vui thêm, đến nỗi
chính bà Era cũng phải phì cười về những câu nói khôi hài và những chuyện không
đầu không đuôi của chồng. Arông cười ngạo nghễ. Đavít và thân phụ đối đáp hùng
hồn, Lịch cười vui sướng; và trước sự thán phục của song thân, rốt cuộc Đavít
chỉ nói đùa với mục đích duy nhất là làm cho Lịch vui cười thêm lên. Và Trang
đã thấy điều ấy.
Nàng không lộ vẻ
gì cả. Nàng bận rộn với công việc, miệng luôn luôn giữ một nụ cười dịu dàng,
dửng dưng. Sau cùng, nàng cho đám nô bộc lui ra hết. Một mình nàng rót rượu và
thay các món tráng miệng cho đến lúc tiệc tan, khách khứa ra về. Tiếp đến, nàng
vào sửa soạn mùng màn cho Đavít, trải tấm lụa ra và kéo hàng móc bạc để buông
các bức màn thêu. Nhưng nàng không đợi Đavít đến. Nàng lui về phòng riêng và
nằm trên một cái giường hẹp. Nàng trằn trọc mãi, thấy lại vẻ mặt của Đavít khi
chàng quay nhìn Lịch, hình ảnh này đã làm nàng mất ngủ.
***

