Chúng ta là những Kẻ dối trá - Phần III - Chương 31 - 32 - 33 - 34
31
CHO ĐI: NHỮNG BỨC HỌA THỜI
THƠ ẤU, tranh in hình hoa lá.
Tôi lấy sọt đồ giặt khô từ
Windemere và hướng về phía Cuddledown. Mirren – lúc này đang nhảy nhót lung
quanh - gặp tôi ở cầu cảng. “Ở trên đảo thật tuyệt!” cô bạn nói. “Tớ không thể
tin được là tớ lại một lần nữa ở đây!”
“Hè năm ngoái cậu ở đây còn
gì.”
“Nó không giống nhau. Không
mùa hè nào hạnh phúc và bình yên như mùa hè ta từng có. Họ cứ xây ở Clairmont
Mới. Mọi người đều giả vờ khốn khổ và tớ thì cứ trông mong cậu như cậu lại
chẳng bao giờ đến.”
“Tớ đã bảo cậu là tớ đi
Châu Âu mà.”
“Ồ, tớ biết chứ.”
“Tớ viết thư cho cậu rất
nhiều,” tôi nói giọng quở trách.
“Tớ ghét email!” Mirren
nói. “Tớ đã đọc hết đấy, nhưng cậu không thể nổi điên với tớ vì đã không trả
lời được. Nó giống như làm bài tập về nhà vậy, đánh máy và nhìn chằm chằm vào
cái điện thoại hay máy tính ngu ngốc.”
“Cậu có nhận được con búp
bê tớ gửi không?”
Mirren vòng tay ôm tôi. “Tớ
rất nhớ cậu. Thậm chí cậu chẳng thể tin nổi là tớ nhớ cậu nhiều đến mức nào
đâu.”
“Tớ đã gửi cho cậu con Barbie
đó. Con búp bê với mái tóc dài mà chúng ta từng đánh nhau tranh giành nó ấy.”
“Công chúa Butterscotch?”
“Phải.”
“Tớ đã từng phát cuồng với
Công chúa Butterscotch.”
“Cậu từng một lần dùng nó
đánh tớ đấy.”
“Đáng đời cậu mà!” Mirren
nhảy lung quanh đầy hạnh phúc. “Cô ấy ở Windemere à?”
“Hả? Không. Tớ gửi cô ấy
trong một kiện thư,” tôi nói. “Hồi cuối mùa đông ấy.”
Mirren nhìn tôi, hàng lông
mày nhăn lại. “Tớ chưa từng nhận được cô ấy, Cadence ạ.”
“Ai đó đã kí nhận bưu phẩm.
Mẹ cậu đã làm gì thế, tống nó vào một chiếc tủ mà không buồn mở ra à?”
Tôi nói đùa, nhưng Mirren
gật đầu. “Có thể lắm. Mẹ tớ có xu hướng không kiểm soát được hành vi. Kiểu như,
mẹ cứ chùi tay suốt. Khiến Taft và hai đứa sinh đôi cũng bắt chước theo. Lau
dọn như thể có một chỗ đặc biệt trên thiên đàng cho những ai sở hữu những sàn
bếp không chút bụi. Và mẹ cũng uống rượu quá nhiều.”
“Mẹ tớ cũng thế.”
Mirren gật đầu. “Tớ chẳng
thể đứng nhìn được.”
“Tớ có bỏ lỡ mất điều gì
trong bữa tối hôm qua không?”
“Tớ không dự.” Mirren tiến
lên lối đi bằng gỗ dẫn từ Cuddledown đến bãi biển nhỏ. Tôi bước theo. “Tớ đã
bảo cậu là hè này tớ sẽ không dự bữa tối. Mà sao cậu không tới đây?”
“Tớ bị bệnh.”
“Tất cả chúng ta đều biết
về chứng đau nửa đầu của cậu,” Mirren bảo. “Mấy dì cứ nói suốt về nói.”
Tôi do dự. “Đừng có mà thấy
tôi nghiệp cho tớ, được chứ? Đừng bao giờ. Nó khiến tớ thấy sởn da gà.”
“Tối qua cậu không uống
thuốc à?”
“Chúng khiến tớ bất tỉnh.”
Chúng tôi đã tới được bãi
biển nhỏ. Cả hai đi chân trần băng qua nền cát ẩm. Mirren chạm vào vỏ một con cua
chết đã lâu.
Tôi muốn nói cho cô bạn
biết rằng ký ức của tôi bị mất, rằng tôi bị chấn thương não bộ. Tôi muốn hỏi
cô bạn về mọi việc đã xảy ra vào mùa hè thứ mười lăm, khiến cô bạn
phải kể tôi nghe mọi chuyện mà Mẹ không muốn nói tới hoặc không được
biết. Nhưng Mirren ở đó, trong sáng làm sao. Tôi không muốn cô bạn thấy
thương hại tôi thêm nữa như hiện giờ.
Hơn nữa, tôi vẫn còn
bực bội về những bức email cô bạn không trả lời — và về việc đánh
mất con búp bê Barbie ngu ngốc, dẫu tôi chắc rằng đó không phải là
lỗi của Mirren.
“Johnny và Gat đang ở Red
Gate hay họ ngủ tại Cuddledown vậy?” tôi hỏi.
“Cuddledown. Chúa ơi, họ
lười biếng và luộm thuộm thật đấy. Cứ như là sống với yêu tinh
vậy.”
“Thế thì cậu bắt họ
chuyển lại về Red Gate đi.”
“Không đời nào,” Mirren
cười tươi. “Còn cậu — không còn Windemere nữa, nhé? Cậu chuyển về
sống với tụi này hen?”
Tôi lắc đầu. “Mẹ tớ
không cho phép. Sáng nay tớ mới hỏi xong.”
“Thôi nào, cô ấy phải
cho phép cậu chứ!”
“Mẹ cứ bám riết lấy tớ
từ khi tớ bị bệnh.”
“Nhưng mà cũng gần hai
năm rồi còn gì.”
“Thì đó. Mẹ trông chừng
tớ ngủ. Cộng thêm việc lên lớp tớ về việc kết thân Ông ngoại và đám
nhóc. Tớ phải thân thiết với gia đình. Trưng lên nụ cười.”
“Vớ vẩn thật đấy.”
Mirren cho tôi xem một nắm những viên đá nhỏ màu tím mà cô bạn thu
lượm được. “Nè.”
“Thôi, cám ơn cậu.” Tôi
không muốn bất cứ thứ gì mình không cần tới.
“Nhận lấy đi mà,” Mirren
nói. “Tớ nhớ hồi nhỏ cậu từng luôn tìm kiếm những viên đá tím mà.”
Cô bạn chìa bàn tay về phía tôi. “Tớ muốn đền bù cho Công chúa
Butterscotch.” Mắt Mirren ngấn nước. “Và những bức email,” cô bạn nói
thêm. “Tớ muốn tặng cậu thứ gì đó, Cady à.”
“Vậy được thôi,” tôi
nói. Tôi khum lòng bàn tay lại và để Mirren đổ mấy viên đá vào. Rồi
tôi cất chúng vào túi trước của chiếc áo khoác.
“Tớ yêu cậu!” cô bạn hét
lên. Rồi cô bạn quay ra và thét to với biển. “Tớ yêu người chị họ
Cadence Sinclair Eastman của mình!”
“Làm quá rồi ấy nhỉ?” Là
Johnny, anh đang cuốc bộ xuống những bậc thang trên đôi chân trần, khoác lên
người bộ pyjama sọc bằng vải flannel. Anh đeo chiếc kính râm bản lớn và bôi đầy
kem chống nắng màu trắng lên mũi như một người cứu hộ.
Mirren sầm mặt, nhưng chỉ
trong chốc lát. “Em đang bộc lộ cảm xúc của mình, Johnny à. Này nhá, một con
người đang sống và hít thở là thế đó.”
“Được rồi, một con người
đang sống và hít thở,” anh nói và đấm nhẹ vào vai cô bạn. “Nhưng cũng chẳng cần
phải làm ầm lên lúc bình minh thế này đâu. Ta còn cả một mùa hè phía trước cơ
mà.”
Mirren trề môi. “Cady chỉ ở
đây có bốn tuần thôi đấy.”
“Anh không thể gây sự với
em vào sáng sớm thế này được,” Johnny nói.“Anh mày còn chưa làm bộ uống trà nữa
là.”Anh cúi xuống và dòm vào chiếc giỏ đựng đồ dưới chân tôi. “Cái gì trong đó
vậy?”
“Tranh hoa cỏ. Và vài bức
họa cũ của em.”
“Sao thế?” Johnny ngồi lên
một tảng đá và tôi an tọa xuống kế anh.
“Em đang cho đi đồ của
mình,” tôi nói. “Từ tháng Chín kìa. Có nhớ chiếc khăn quàng sọc em gửi cho anh
không?”
“Ồ, có chớ.”
Tôi kể về việc cho đi những
món đồ cho những ai có thể dùng chúng, tìm cho chúng ngôi nhà thích hợp. Tôi kể
về việc từ thiện và chất vấn chủ nghĩa duy vật của Mẹ.
Tôi muốn Johnny và Mirren
hiểu tôi. Tôi không phải là kẻ đáng thương hại, với tâm trí bất ổn và những cơn
đau bất thường. Tôi đang làm chủ cuộc đời mình. Tôi sống đúng với nguyên tắc
của mình. Tôi hành động và hy sinh.
“Em không, anh hổng biết
nữa, muốn sở hữu những món đồ hả?” Johnny hỏi tôi.
“Như gì?”
“Ồ, lúc nào anh cũng muốn
thứ gì đó,” Johnny vươn tay nói. “Một chiếc xe hơi. Trò chơi điện tử. Chiếc áo
khoác lông cừu đắt tiền. Anh thích đồng hồ, chúng thiệt là lạc hậu. Anh muốn
những bức tranh thật để treo tường, những bức họa của những người nổi tiếng mà
cho dù cả triệu năm nữa anh cũng không đời nào có thể sở hữu. Những chiếc gatô
trang trí anh thấy qua cửa kính tiệm bánh. Áo len, khăn quàng cổ. Nói chung là
đồ len có sọc.”
“Hoặc cậu có thể muốn những
bức họa đẹp đẽ lúc nhỏ cậu vẽ,” Mirren nói, quỳ gối xuống cạnh chiếc giỏ đựng
đồ. “Những món đồ chứa chan tình cảm.” Cô bạn cầm lên bức tranh chì màu vẽ Bà
ngoại và những chú chó.
“Nhìn xem, con này là
Fatima và con này là Prince Philip nè.”
“Cậu xác định được hả?”
“Dĩ nhiên. Fatima có cái
mũi phính phính và cái mặt bự.”
“Chúa ơi, Mirren. Em đa cảm
thật đấy,” Johnny nói.
32
GAT GỌI TÊN tôi khi tôi
đang bước trên lối đi đến New Clairmont. Tôi quay người và cậu chạy về phía
tôi, khoác trên mình chiếc quần pyjama xanh biển và cởi trần.
Gat. Gat của tôi.
Cậu sẽ là Gat của tôi chứ?
Cậu dừng trước mặt tôi, thở
hồng hộc. Tóc cậu dựng lên, rối bù. Cơ bụng cậu phập phồng và trông cậu dường
như còn trần trụi hơn cả khi mặc đồ bơi nữa. “Johnny nói là cậu ở dưới bãi biển
nhỏ,” cậu hổn hển. “Tớ tìm cậu ở đấy trước.”
“Cậu mới vừa ngủ dậy à?”
Cậu chà tay phía sau cổ.
Nhìn xuống thứ mình đang mặc trên người. “Đại loại thế. Tớ muốn bắt kịp cậu.”
“Sao thế?”
“Ta tới vành ngoài đi.”
Chúng tôi tiến về đó và dạo
bước như khi chúng tôi còn là những đứa trẻ, Gat đi trước và tôi theo sau. Hai
đứa trèo lên một ngọn đồi thấp, rồi vòng ra sau tòa nhà ở của nhân viên để tới
nơi cảng Vineyard hiện ra trong tầm mắt gần nhà thuyền.
Gat quay lại đột ngột đến
nỗi suýt thì tôi đã tông vào cậu, và trước khi tôi có thể bước lùi lại
cậu đã vòng cánh tay quanh người tôi. Cậu kéo tôi vào lòng và vùi
mặt vào cổ tôi. Tôi dùng đôi tay trần ôm lấy thân trên của cậu, cổ tay
áp vào sống lưng. Người cậu thật ấm áp.
“Hôm qua tớ không được ôm
cậu,” Gat thầm thì. “Ai cũng đã ôm cậu trừ tớ.”
Chạm vào cậu thật thân
quen và xa lạ.
Trước kia chúng tôi đã
từng đến đây.
Và trước kia chúng tôi
chưa từng rơi vào tình huống như bây giờ.
Trong một khắc, hoặc có
thể là hàng phút, hàng giờ,
Đơn giản là tôi thấy
hạnh phúc, được ở đây với cơ thể Gat bên dưới bàn tay tôi. Âm thanh
của tiếng sóng biển và hơi thở của cậu phả bên tai. Lòng mừng rằng
cậu muốn gần bên tôi.
“Cậu có nhớ khi ta
xuống đây cùng nhau không?” cậu vùi trong cổ tôi hỏi. “Cái quãng thời
gian mà ta hẹn hò trên tảng đá phẳng ấy?”
Tôi bước lui ra. Vì tôi
không nhớ.
Tôi ghét cái đầu óc bị
mất trí nhớ chết tiệt của mình, việc mình lúc nào cũng ốm yếu, việc
mình đã trở nên thương tổn như thế nào. Tôi ghét việc mình đã mất đi
diện mạo của mình và thi rớt và bỏ thể thao và cư xử tệ bạc với
mẹ. Tôi ghét việc mình vẫn muốn cậu ấy sau hai năm ròng.
Có lẽ Gat muốn ở bên
tôi. Có lẽ vậy. Nhưng cậu giống như chỉ đang trông chờ tôi nói rằng
cậu chẳng làm gì sai cả khi cậu rời bỏ tôi hai mùa hè trước thì
hơn. Cậu muốn tôi nói rằng tôi không giận cậu. Rằng cậu là một chàng
trai tuyệt vời.
Nhưng làm sao tôi có thể
tha thứ cho cậu được, khi tôi thậm chí còn không biết chính xác thì
cậu đã làm gì với tôi?
“Không,” tôi đáp. “Hẳn
là nó đã vuột khỏi tâm trí tớ rồi.”
“Chúng ta đã... Cậu và
tớ, chúng ta... Đó là một khoảnh khắc quan trọng.”
“Sao cũng được,” tôi
nói. “Tớ không nhớ. Và rõ ràng là cuối cùng thì cũng chẳng có gì
giữa chúng ta là đặc biệt quan trọng, phải không?”
Cậu nhìn vào tay mình.
“Được rồi. Xin lỗi. Ngay giờ tớ thật là 'kém chuẩn'. Cậu giận à?”
“Dĩ nhiên là tớ giận
rồi,” tôi nói. “Hai năm trời mất tăm mất tích. Không một cuộc gọi và
cũng chẳng thèm viết thư hồi âm và khiến mọi chuyện tệ đi bằng việc
không buồn giải quyết. Giờ thì cậu kiểu, Ooh, Tớ nghĩ rằng
sẽ chẳng bao giờ được gặp lại cậu nữa, và nắm tay tớ và Ai
cũng ôm cậu trừ tớ và cởi trần tản bộ ở vòng ngoài. Nó
cực kỳ kém chuẩn đấy, Gat à. Nếu đó là từ cậu muốn
dùng.”
Cậu sầm mặt. “Chết tiệt.
Cậu nói vậy nghe tệ thật.”
“Chà, đó là cách tớ
nhìn nhận đấy.”
Cậu đưa tay vò đầu. “Tớ
đang giải quyết mọi việc thật tệ,” cậu nói. “Cậu nói sao nếu tớ hỏi
cậu bắt đầu lại từ đầu nào?”
“Chúa ơi, Gat.”
“Sao?”
“Cứ hỏi thôi.
Đừng có hỏi tớ sẽ nói gì nếu cậu có hỏi chứ.”
“Được rồi, tớ hỏi đây.
Chúng ta bắt đầu lại từ đầu nhé? Được không, Cady? Hãy bắt đầu lại
sau bữa trưa. Nó sẽ thật tuyệt. Tớ sẽ đưa ra những nhận xét thú vị
và cậu sẽ cười. Chúng ta sẽ đi săn khổng lồ. Chúng ta sẽ hạnh phúc
khi được gặp nhau. Cậu sẽ nghĩ tớ thật tuyệt vời, tớ hứa đó.”
“Đó là một lời hứa
lớn lao đấy.”
“Được rồi, có thể là không
tuyệt vời, nhưng chí ít thì tớ sẽ không kém chuẩn.”
“Sao lại nói là kém chuẩn?
Sao không nói cậu thật sự là gì? Vô tâm và khó hiểu và thích điều khiển người
khác?”
“Chúa ơi.” Gat nhảy chồm
chồm đầy kích động. “Cadence! Tớ thật sự chỉ cần bắt đầu lại thôi. Chuyện này
đang tiến từ ‘kém chuẩn’ xuống ‘hoàn toàn là thứ vớ vẩn’ đấy.” Cậu nhảy lên và
đá chân như một đứa nhóc đang giận dữ.
Cú nhảy khiến tôi mỉm cười.
“Được rồi,” tôi bảo cậu. “Bắt đầu lại. Sau bữa trưa.”
“Được,” cậu nói và ngưng
nhảy. “Sau bữa trưa.”
Chúng tôi nhìn nhau chằm
chằm trong chốc lát.
“Giờ tớ sẽ chạy đi đây,”
Gat nói. “Đừng có để bụng nhé.”
“Ừ.”
“Sẽ tốt hơn cho việc bắt
đầu lại nếu tớ chạy đi. Bởi vì việc đi bộ thiệt khó xử.”
“Tớ nói ừ.”
“Ờ thế thì được.”
Và cậu chạy đi.
33
TÔI ĐẾN Clairmont Mới ăn
trưa một giờ sau đó. Tôi biết Mẹ sẽ chẳng buông tha cho sự vắng mặt của mình
sau khi tôi bỏ bữa tối qua. Ông ngoại dẫn tôi đi một vòng xem nhà trong khi đầu
bếp chuẩn bị thức ăn còn các dì vây lấy đám nhóc.
Đó là một nơi rất ‘bảnh’.
Sàn gỗ láng bóng, cửa sổ rộng lớn, mọi thứ đều sát mặt đất. Đại sảnh Clairmont
từng được trang hoàng khắp từ sàn đến trần với những bức ảnh gia đình đen
trắng, tranh vẽ chó, những kệ sách, và bộ sưu tập tranh biếm họa New
Yorker của Ông ngoại. Đại sảnh Clairmont Mới thì chỉ lắp kính ở một
bên và bên kia thì để trống.
Ông ngoại mở những cánh cửa
dẫn đến bốn phòng ngủ cho khách ở trên lầu. Tất cả đều được bài trí với độc
những chiếc giường và tủ ngăn kéo thấp, rộng. Cửa sổ có những tấm mành rèm
trắng để ánh sáng chiếu vào. Khăn trải giường không hề có hoa văn; chúng mang
sắc xanh hay nâu giản đơn, trang nhã.
Phòng của đám nhóc thì còn
có chút sức sống. Taft có một Trường đấu Bakugan vất trên sàn, một trái banh,
những cuốn sách về phù thủy và trẻ mồ côi. Liberty và Bonnie mang tới những
cuốn tạp chí và một máy nghe nhạc MP3. Chúng có hàng chồng những cuốn sách của
Bonnie viết về thợ săn ma, tâm linh, và những thiên thần nham hiểm. Tủ áo của
chúng thì bừa bãi những đồ trang điểm và lọ nước hoa. Những chiếc vợt tennis
nằm gọn một góc.
Phòng ngủ của Ông ngoại thì
lớn hơn mọi người và có cảnh quan bên ngoài tuyệt nhất. Ông dẫn tôi vào và chỉ
cho tôi xem nhà tắm, với những chiếc tay vịn trong buồng tắm. Tay vịn cho người
già, để ông không bị ngã.
“Tranh biếm họa tờ New
Yorker của ông đâu rồi ạ?” tôi thắc mắc.
“Người trang trí nhà ra
quyết định.”
“Thế còn những cái gối?”
“Cái gì cơ?”
“Ông có mấy cái gối đó mà.
Thêu hình chó.”
Ông lắc đầu. “Ông có giữ
lại con cá không?”
“Hả, con cá kiếm và vân
vân?” Chúng tôi bước lên cầu thang xuống tầng trên. Ông ngoại đi chậm rãi và
tôi theo sau. “Ông đã bắt đầu lại với căn nhà này,” ông nói đơn giản. “Cuộc
sống cũ đã không còn nữa rồi.”
Ông mở cửa dẫn đến phòng
làm việc. Nó cũng giản dị như phần còn lại của căn nhà. Một chiếc laptop đặt ở
giữa chiếc bàn lớn. Một khung cửa sổ rộng trông ra khu vườn Nhật Bản. Một chiếc
ghế. Một tường đầy kệ sách, hoàn toàn trống không.
Căn phòng thật sạch sẽ và
thoáng đãng, nhưng nó không giản dị, bởi mọi thứ đều xa hoa.
Ông ngoại giống Mẹ hơn là
giống tôi. Ông xóa bỏ cuộc sống cũ của mình bằng việc chi tiền cho thứ đồ thay
thế.
“Chàng trai trẻ đâu rồi?”
đột nhiên ông hỏi. Trên mặt ông là cái nhìn lơ đãng.
“Johnny ấy ạ?”
Ông lắc đầu. “Không,
không.”
“Gat ạ?”
“Ừ, chàng trai trẻ.” Ông
giữ chặt lấy chiếc bàn trong một chốc như thể đang chịu một cơn chóng mặt.
“Ông ngoại, ông ổn chứ?”
“Ồ, ổn.”
“Gat đang ở Cuddledown với
Mirren và Johnny,” tôi nói với ông.
“Có một cuốn sách ông hứa
cho nó.”
“Hầu hết những cuốn sách
của ông đều không có ở đây mà.”
“Ngừng nói với ông cái gì
không có ở đây đi!” Ông ngoại đột nhiên hét lên.
“Ba ổn chứ?” Là dì Carrie.
Dì đang đứng ở cửa phòng làm việc.
“Ba ổn,” ông ngoại nói.
Dì Carrie nhìn tôi rồi nắm
lấy cánh tay Ông ngoại. “Nào ba. Bữa trưa sẵn sàng rồi.”
“Dì đã quay lại ngủ?” tôi
hỏi gì khi chúng tôi tiến về phòng bếp. “Tối qua, Johnny có dậy không ạ?”
“Dì không hiểu con đang nói
cái gì,” dì đáp.
34
ĐẦU BẾP CỦA ÔNG NGOẠI đảm
nhiệm việc mua sắm và chuẩn bị bữa ăn, nhưng người lên kế hoạch cho thực đơn là
các dì. Hôm nay chúng tôi ăn gà quay để nguội, salad cà chua - húng quế, pho
mát Camembert, Bánh mì Baguette, và nước chanh dâu tây trong phòng ăn. Liberty
cho tôi xem ảnh những cậu chàng dễ thương trong một cuốn tạp chí. Rồi nó cho
tôi xem ảnh áo quần trong một cuốn tạp chí khác. Bonnie thì đọc một cuốn sách
có tên Tuyển tập Ma quỷ hiện hình: Sự thật và hư cấu. Taft và Will
muốn tôi dẫn chúng đi trượt phao — tôi sẽ lái chiếc thuyền máy nhỏ trong khi
chúng ngồi đằng sau trong một chiếc phao mà lướt.
Mẹ nói rằng theo đơn thì
tôi không được phép lái thuyền.
Dì Carrie nói rằng chẳng
vấn đề gì, vì không đời nào mà Will chịu đi trượt phao.
Dì Bess tán đồng, thế nên
tốt hơn là Taft đừng có mà nghĩ đến việc hỏi xin dì. Liberty và Bonnie hỏi xem
liệu chúng có thể đi trượt phao. “Mẹ luôn cho chị Mirren đi,” Liberty nói. “Mẹ
biết đó là sự thật mà.”
Will phun nước chanh và
khiến một ổ baguette sũng nước.
Lòng Ông ngoại thấm nước.
Taft cầm lấy chiếc baguette
dính nước và dùng nó đập Will.
Mẹ lau chùi mớ hỗn độn
trong khi dì Bess chạy lên lầu để đem cho Ông ngoại chiếc quần sạch khác.
Dì Carrie mắng mấy thằng
nhóc.
Khi bữa ăn kết thúc, Taft
và Will liền lỉnh ngay vào phòng khách để khỏi phải phụ dọn dẹp lau chùi.
Chúng nhảy chồm chồm như
mấy đứa điên trên chiếc đi văng da mới của Ông ngoại. Tôi theo sau.
Người Will còi cọc và hồng
hào như anh Johnny. Tóc gần như màu trắng. Taft thì cao hơn và rất gầy, tóc
vàng và mặt đầy tàn nhang, với lông mi đen dài và miệng đeo niềng răng. “Thế,
hai đứa,” tôi nói. “Hè qua thế nào?”
“Chị biết cách lấy được con
rồng tro trong Thung lũng Rồng không?” Will hỏi.
“Em biết cách lấy được con rồng lửa đấy,” Taft
nói.
“Em có thể dùng con rồng
lửa để lấy con rồng tro,” Will bảo.
Ugh. Mấy đứa lên mười.
“Thôi nào. Mùa hè trước,” tôi nói. “Kể chị nghe coi. Mấy đứa có chơi tennis
chứ?”
“Chắc rồi,” Will đáp.
“Có đi bơi không?”
“Có,” Taft nói.
“Thế có đi bơi thuyền với
Gat và Johnny chứ?”
Cả hai ngừng nhảy. “Không.”
“Anh Gat có nói gì về chị
không?”
“Em phải không được nói về
việc kết cục chị ở trong nước và mọi thứ,” Will nói. “Em đã hứa với dì Penny là
sẽ không làm thế rồi.”
“Sao không?” tôi thắc mắc.
“Nó khiến chứng đau đầu của
chị trở nên tệ hơn và tụi em phải để yên cho chủ đề đó.”
Taft gật đầu. “Dì nói rằng
nếu tụi em khiến chứng đau đầu của chị trở nên tệ hơn thì dì sẽ túm lấy ngón
cái của tụi em mà treo ngược lên và lấy mất chiếc iPad. Tụi em phải hành
xử vui tươi lên và đừng có là mấy thằng ngốc.”
“Đây không phải là về tai
nạn của chị,” tôi nói. “Đây là về mùa hè chị đi Châu Âu kìa.”
“Cady?” Taft chạm vào vai
tôi. “Nhỏ Bonnie thấy mấy viên thuốc trong phòng ngủ của chị.”
Will thối lui và ngồi xuống
tút đầu bên kia chiếc sofa.
“Nhỏ Bonnie lục đồ của chị
á?”
“Và Liberty nữa.”
“Chúa ơi.”
“Chị nói em là chị không
nghiện thuốc, nhưng tủ áo chị lại có thuốc.” Taft hờn dỗi.
“Bảo chúng tránh xa phòng
chị ra,” tôi nói.
“Nếu chị nghiện thuốc,”
Taft nói, “có một chuyện chị cần phải biết.”
“Chuyện gì?”
“Thuốc không phải là bạn
chị đâu.” Taft trông có vẻ nghiêm trọng. “Thuốc không phải là bạn chị và hơn
nữa chị nên kết bạn với con người.”
“Ôi chúa ơi. Tụi bay chỉ
cần kể chị nghe hè trước tụi bay làm gì có được không, mấy thằng oắt này?”
Will nói, “Taft và em muốn
chơi Angry Birds. Tụi em chẳng muốn nói chuyện với chị nữa.”
“Sao cũng được,” tôi nói.
“Đi làm gì thì làm đi.”
Tôi bước lên hiên nhà và
nhìn mấy thằng nhóc khi chúng chạy xuống con đường dẫn đến Red Gate.

