Papillon - Người tù khổ sai - Chương 26 phần 1
Chương 26
Cuộc sống ở đảo Royale
Chúng tôi vừa đến sân trại đã
được sự quan tâm niềm nở của toàn thể phạm nhân. Tôi gặp lại Plerrot le Fou, Jean Sartrou,
Coloudim, Chissilia. Viên giám thị bảo cả ba chúng tôi phải vào bệnh xá. Chúng
tôi đi qua sân để vào bệnh xá, xung quanh có đến vài chục phạm nhân hộ tống.
Chỉ mấy phút sau, Maturette với tôi đã có trước mặt hơn chục gói thuốc lá điếu
và thuốc lá sợi, một bình cà-phê sữa nóng hổi, mấy tấm sô-cô-la làm bằng ca-cao
nguyên chất. Ai cũng muốn tặng chúng tôi một thứ quà gì đó. Clousiot dược anh y
tá tiêm cho một mũi dầu long não và một liều adrenalin để trợ tim. Một anh da
đen gầy gò nói:
- Anh y tá ạ, anh lấy phần sinh tốt của tôi phát cho anh ấy đi, anh ấy cần
hơn tôi.
Cái cánh tỏ tình đoàn kết thân ái đối với chúng tôi thật cảm động.
Pierre người Bordeaux nói với tôi:
- Cậu cầm láy ít tiền nhé? Trước khi cậu lên đường đi Royale, tớ sẽ có đủ
thì giơ quyên cho cậu một món.
- Thôi, cám ơn cậu nhiều, tớ có tiền. Nhưng sao cậu biết tớ đi Royale à?
- Biết. Viên kế toán có nói với tớ cả ba cậu sẽ đi. Tớ còn đoán chắc là ca
ba sẽ được vào bệnh viện.
Viên y tá vốn là một tên cướp ở vùng núi đảo Corse. Anh ta lên là Essari.
Về sau tôi đã có dịp biết anh ta rất rõ. Tôi sẽ kể lại đầu đuôi câu chuyện của
anh ta. Đó là một câu chuyện thật thú vị.
Hai tiếng đồng hồ ở bệnh xá trôi qua rất nhanh. Chúng tôi đã được ăn uống
ngon lành. No nê và hồ hởi, chúng tôi lên đường đi Royalẹ Suốt thời gian vừa
qua Clousiot mắt cứ nhắm nghiền, chỉ trừ những khi tôi đến cạnh đặt bàn tay lên
trán anh, anh mới mở đôi mắt đã mờ đục, nói:
- Papi, bạn ơi! Chúng mình thực sự là bạn của nhau nhỉ.
- Hơn thế nữa, chúng mình là anh em ruột thịt, - tôi đáp.
Vẫn chỉ có một viên giám thị đi kèm, chúng tôi xuống bến. Đi giữa là cái
cáng qua Clousiot, còn tôi và Maturette mỗi đứa đi một bên. Đến cổng trại, tất
cả phạm nhân đều ra từ biệt và chúc chúng tôi may mắn. Chúng tôi cám ơn anh em.
Tuy họ đều không chịu nhận. Pierrot le Fou quàng lên cỏ tôi một túi dết đựng
đầy thuốc lá sợi, thuốc điếu, sô-cô-la, sữa hộp Nestlé. Maturette cũng được một
túi như thế. Cậu ấy chẳng biết người nào đã quàng lên vai cậu cái túi quà ấy
nữa.
Chỉ có anh y tá Fernadez và một viên giám thị đưa chúng tôi ra bến.
Fernadez trao cho mỗi đứa chúng tôi một cái phiếu nằm bệnh viện đảo Royale. Tôi
hiểu ra rằng chính hai phạm nhân khổ sai làm y tá là Essari và Fernadez đã cấp
giấy nhập viện cho chúng tôi, chẳng hỏi ý kiến bác sĩ nữa. Chiếc canô đã chờ
sẵn.
Sáu người chèo, hai viên giám thị đeo súng trường ngồi ở phía sau và một
viên nữa cầm lái. Một trong những người chèo thuyền là Chapar, bị xử trong vụ
chứng khoán ở Marseile.
Chúng tôi lên đường. Sáu mái chèo vỗ xuống nước Chapar vừa chèo vừa nói với
tôi:
- Ổn cả chứ Papi? Cậu vẫn nhận được dừa đấy chứ?
- Không, bốn tháng sau thì không nhận dược nữa.
- Tớ biết. Có sự cố xảy ra. Cái cậu bị liên lụy đã xử sự rất cừ. Cậu ấy chỉ
biết có một mình tớ, nhưng không hề khai tớ ra.
- Cậu ấy bây giờ ra sao?
- Chết rồi.
- Thế à? Tại sao?
- Theo một viên y tá thì hình như cậu ấy bị chúng nó đá vỡ gan.
Thuyền cặp bến đảo Royale, đảo lớn nhất trong quần đảo. Đồng hồ cửa hàng
bánh mì chỉ ba giờ. Nắng chiều ở đây quả là gay gắt. Tôi thấy chói và bức quá.
Một viên giám thị yêu cầu hai người khiêng cáng. Hai phạm nhân vạm vỡ đồ
trắng tinh, cổ tay đeo nịt da đen, nhấc cáng của Clousiot lên trông nhẹ bỡn như
nhấc cái lông chim. Maturette và tôi bước theo, đi sau cùng là một viên giám
thị cầm mấy thứ giấy tờ gì đấy. Đường đi rộng hơn bốn mét, lát bằng đá cuội lớn
lấy ở bờ biển, rất khó đi lên dốc. May mà hai người khiêng cáng chốc chốc lại
dừng lại đợi chúng tôi lên kịp. Mỗi lần như vậy tôi lại ngồi ghé xuống khung
cáng phía đầu Clousiot, tay khẽ vuốt lên trán và lên tóc anh
Clousiot mở mắt ra, mỉm cười với tôi nói:
- Cậu, Papi!
Maturette cầm lấy tay anh.
- Cậu đấy à cậu bé? - Clousiot thì thầm.
Clousiot có vẻ tràn trề hạnh phúc khi thấy chúng tôi ở bên cạnh. Vào một
lúc dừng lại nghỉ, khi đã gần đến trại, chúng tôi gặp một tốp phạm nhân đi làm
cỏ về. Hầu hết là những phạm nhân cùng sang một chuyến với tôi. Đi ngang qua,
ai nấy đều nói với chúng tôi một lời thân ái. lên đến đỉnh dốc bằng phẳng,
chúng tôi trông thấy những viên chức cao cấp nhất trên đảo ngồi trong bóng râm
trước một tòa nhà vuông quét vôi trắng.
Chúng tôi đến trước mặt thiếu tá Barrot biệt hiệu là “Dừa khô” và mấy viên
chỉ huy trại khác. Không đứng dậy, và không làm ra vẻ nghi thức, thiếu tá nói:
- Thế nào, ở nhà lao Cấm cố không đến nỗi gay quá chứ? Còn anh nằm cáng kia
là ai thế
- Clousiot đấy a.
Thiếu tá nhìn Clousiot rồi nói:
- Đưa cả ba vào bệnh viện đi. Khi nào họ ra viện, yêu cầu bảo cho tôi biết
để họ đến gặp tôi trước khi được đưa về trại nhé.
Ở bệnh viện, họ cho chúng tôi nằm trong một căn phòng rộng rãi, rất sáng
sủa, giường nằm rất sạch, có trải drap và có gối mềm hẳn hoi. Người y tá đầu
tiên mà tôi nhìn thấy là Chatal - chính viên y tá ở phòng dành cho phạm nhân
nguy hiểm ở Saint-Laurentđu- Maroni. Anh ta lập tức đến săn sóc Clousiot và báo
một viên giám thị gọi ngay bác sĩ. Khoảng đến năm giờ chiều bác sĩ đến. Sau khi
khám nghiệm kỹ lưỡng một hồi lâu, bác sĩ lắc đầu, vẻ không hài lòng. Bác sĩ
viết đơn thuốc rồi đi về phía tôi. Ông ta nói với Chatal:
- Papillon với tôi chẳng ưa gì nhau đâu.
- Thế thì tôi lấy làm lạ vì anh ta rất tốt, bác sĩ.
- Có thể. Nhưng anh ta bướng lắm.
- Nhân dịp nào?
- Nhân một lần tôi khám bệnh cho anh ta ở Nhà giam cấm cố.
- Bác sĩ ạ, - tôi nói - đứng ngoài hành lang hỏi tôi mấy câu như thế mà
cũng gọi là khám bệnh được sao?
- Ban Quản trị có lệnh cấm mở cửa phòng giam.
- Rất đúng, thưa bác sĩ, nhưng tôi hy vọng rằng bác sĩ không phải là một
thành viên của Ban Quản trị: như thế tốt hơn cho bác sĩ nhiều.
- Ta sẽ nói chuyện này vào một dịp khác. Tôi sẽ cố làm cho anh bạn anh hồi
phục. Còn anh ta thì tôi e là đà quá muộn.
Chatal kể cho tôi nghe rằng anh bị nghi là có chuẩn bị cho một cuộc vượt ngục
nên bị đày ra Quần đảo. Anh ta cũng cho tôi biết rằng Jésus, kẻ đã lừa tôi
trong chuyến vượt ngục của tôi, đã bị một người hủi giết chết.
Chatal không biết tên người này. Tôi cứ băn khoăn không biết đó có phải là
một trong những người hủi đã giúp đỡ chúng tôi một cách hào hiệp trong chuyến
vượt ngục vừa qua hay không.
Cuộc sống của tù khổ sai ở đảo Salut hoàn toàn khác với những điều người ta
có thể tưởng tượng. Phần đông phạm nhân đều cực kỳ nguy hiểm, vì nhiều nguyên
do. Trước hết ở đây mọi người đều được ăn rất khá, vì ở đây người ta buôn đủ
thứ: rượu, thuốc lá, cà-phê, sô-cô-la, đường, thịt, rau tươi, cá, tôm he, dừa
v.v... Cho nên phạm nhân đều khỏe mạnh. Khí hậu lại rất lạnh. Chỉ có những phạm
nhân có thời hạn mới có hy vọng được trả tự do, còn tù khổ sai chung thân thì
hoàn toàn vô vọng, cho nên họ đều rất nguy hiểm: họ còn có sợ gì nữa đâu? Mọi
người đều dính dấp vào việc buôn bán lén lút hàng ngày, phạm nhân cũng như giám
thị. Đấy là một sự pha trộn chăng dễ gì hiểu nổi. Có những người vợ giám thị
tìm cách đưa phạm nhân trẻ về làm việc nội trợ - và cũng nhiều khi kiêm cả việc
làm tình nữa. Những phạm nhân ấy được gọi là “tù gia đình”. Người thì làm vườn,
người thì nấu bếp. Chính loại phạm nhân này là đầu mối liên lạc giữa trại tù và
các gia đình cảnh sát. Bọn “tù gia đình” không bị các phạm nhân khác khinh
ghét. Vì chính nhờ bọn này mà họ có thể tha hồ buôn bán các thứ. Nhưng bọn này
cũng không được họ coi như những người “trong sạch”. Trong giới giang hồ chân
chính không có một ai hạ mình xuống làm những công việc như thế. Cũng như họ
không chịu làm việc “giữ chìa khóa” hay hầu bàn ở nhà ăn của bọn giám thị.
Ngược lại, họ rất chuộng những công việc không buộc họ phải dính dáng gì với
bọn gác ngục: đổ rác, nhặt lá vàng, chăn trâu, làm y tá, làm vườn cho nhà giam
làm thịt súc vật, làm bánh mì, chèo thuyền, đưa thư, canh hải đăng. Tất cả các
công việc này đều do những người “giang hồ chính cống” lĩnh lấy. Một kẻ giang
hồ chính cống không bao giờ làm những công việc lao dịch nhằm bảo quản tường
rào, đường sá, cầu thang, hay trồng dừa; tức là những công việc lao dịch dưới
ánh nắng trực tiếp hay dưới sự kiểm soát của cảnh sát. Phạm nhân phải làm việc
từ bảy giờ sáng đến mười hai giờ trưa và từ hai giờ trưa đến sáu giờ nhiều,
những điều trên đây có thể giúp bạn đọc hình dung sơ sài cái không khí sống trà
trộn của những con người hết sức khác nhau, phạm nhân lẫn cánh sát: đây thật là
một cái làng nhỏ trong đó việc gì cũng được mọi người bình luận, việc gì cũng
được phán xét, trong đó mọi người đều chứng kiến và quan sát cách sống của
nhau.
Dega và Galgani đã đến bệnh viện thăm tôi suốt ngày chủ nhật. Chúng tôi đã
cùng ăn món ailloli nấu cá, món canh cá, khoai tây, pho-mát, uống cà-phê, rượu
vang trắng. Bữa ăn này chúng tôi gồm có Chatal, Dega, Galgani, Maturette và
tôi, đã cùng nấu với nhau trong phòng của Chatal. Các bạn yêu cầu tôi kể lại
chuyến vượt biên thật tỉ mỉ. Dega đã quyết định là không tìm cách vượt ngục.
Bác ta chờ đợi tin được giam ba năm, thành thử nếu được giam thì chỉ còn có bốn
năm. Bác ta đã đành lòng ngồi cho hết bốn năm ấy. Còn Galgani thì nói là nghe
đâu đang được một thượng nghị sĩ người Corse lo cho.
Sau đó đến lượt tôi hỏi. Tôi muốn biết ở đây có những chỗ làm nào thuận
tiện hơn cả cho việc vượt ngục. Thế là ai nấy đều kêu váng lên. Đối với Dega
vấn đề này chưa bao giờ thoáng hiện trong tâm trí. Galgani cũng vậy. Riêng
Chatal thì nghĩ rằng nên tìm một mảnh vườn để chuẩn bị một cái bè. Còn Grandet
thì cho tôi biết rằng anh ta làm thợ rèn cho “Công trường” của trại. Đó là một
cái xưởng có đủ cái loại thợ: thợ sơn, thợ mộc, thợ rèn, thợ nề, thợ hàn - cả
thảy gần trăm hai mươi người. Xưởng lo việc bảo trì nhà cửa của Ban Quản trị.
Dega vốn làm kế toán trưởng, có thể xin cho tôi vào đấy làm một việc gì tùy tôi
chọn. Grandet tỏ ý sẵn sàng nhường cho tôi một nửa chân chủ sòng bạc, để lấy số
tiền ăn được của các con bạc mà giữ gìn sức khỏe, khỏi lạm vào tiền giấu trong
plan. Về sau tôi sẽ rõ rằng việc này rất thú vị, nhưng cũng cực kỳ nguy hiểm.
Ngày chủ nhật trải qua một cách nhanh chóng lạ lùng.
- Năm giờ rồi - Dega nhìn cái đồng hồ tuyệt đẹp đeo trên cổ tay, nói - phải
về trại thôi. Khi ra về, Dega cho tôi năm trăm francs để đánh poker, vì trong
phòng chúng tôi đôi khi có những đám bạc rất khá. Grandet cho tôi một con dao
thượng hảo hạng có chốt chắn tay, lưỡi bằng thép do chính tay anh ta tôi.
- Đó là một vũ khí đáng gờm. Đêm ngày cậu bao giờ cũng phải thủ dao trong
người.
- Thế nhỡ chúng nó khám thì sao?
- Phần nhiều, việc này do bọn giữ khóa A-rập làm. Đối với một người được
coi là nguy hiểm, không bao giờ chúng nó phát hiện là có vũ khí, dù có sờ thấy
dao rõ ràng chúng nó cũng phải lờ đi.
- Sẽ gặp lại ở trại - Grandet nói.
Trước khi ra về, Galgani nói là đã dành cho tôi một chỗ trong góc của anh
ta và hai đứa sẽ cùng một tổ với nhau (người cùng tổ thì ăn chung và tiền của
mỗi người cũng là tiền của cài tổ). Dega thì không ngủ ở trại: bác ta có một
buồng ngủ riêng trong dãy nhà của Ban Quản trị.
Chúng tôi đến đây đã được ba ngày, nhưng vì đêm nào tôi cũng ở bên cạnh
Clousiot, cho nên tôi không biết rõ cho lắm cảnh sinh hoạt ở căn phòng lớn của
bệnh viện có đến gần sáu mươi người nằm. Rồi vì Clousiot mệt nặng quá, người ta
cách ly anh vào một phòng riêng đã có một người bệnh nặng nằm từ trước.
Chatal cứ tống mãi morphin vào
cho anh. Chatal sợ anh không qua khỏi đêm nay.
Trong phòng có sáu mươi giường
xếp lại làm hai dãy, ở giữa là một lối đi rộng ba mét. Hầu như giường nào cũng
có người nằm. Hai ngọn đèn dầu hỏa thắp sáng gian phòng. Maturette nói với tôi:
- Ngoài kia họ đang đánh poker.
Tôi ra chỗ đánh bài. Có bốn người
đang chơi.
- Tôi vào thêm một chân có được
không?
- Được, ngồi xuống đi. Mỗi ván
tối thiểu chừng một trăm francs. Mỗi chầu ba ván vị chi ba trăm francs.
- Này, cầm lấy ba trăm tiền cắc.
Tôi đưa Maturette giữ hộ hai trăm
đồng tiền cắc.
Một người Paris tên là Dupont nói:
- Ở đây đánh theo luật Anh, khòng dùng joker. Cậu biết cách chơi chứ?
- Biết.
- Thế thì chia bài đi, cậu làm cái trước.
Mấy người này đánh bài với một tốc độ khó tưởng tượng nổi. Bài phải đỡ rất
nhanh, nếu không người làm cái sẽ nói:
- Đỏ chậm rồi.
Và người kia sẽ phải đền.
Chính ở đây tôi đã phát hiện được một loại phạm nhân mới: loại con bạc. Họ
sống bằng cờ bạc, vì cờ bạc trong cờ bạc. Ngoài cờ bạc ra, họ không còn quan
tâm đến một cái gì khác nữa. Họ quên hết: trước kia họ là gì, họ bị xử án gì,
họ có thể làm gì để cho cuộc sống của họ thay đổi ít nhiều. Họ không cần biết
người ngồi đánh bài với họ là ai, tốt xấu ra sao, chi cần người đó đánh bài,
thế là đủ.
Chúng tôi chơi suốt đêm hôm ấy. Đến giờ uống cà- phê mới thôi. Tôi được một
ngàn ba trăm francs. Tôi đang đi về giường thì Paulo đến gặp tôi hỏi vay hai
trăm để đi đánh tiếp mấy ván belote tay đôi. Cần hai trăm mà anh ta chỉ có một.
- Đây, cầm lấy ba trăm. Chung vốn một nửa, tôi nói.
- Cám ơn Papillon. Anh đúng là gã trai tôi đã được nghe nói. Ta sẽ là bạn.
Anh ta chia tay, tôi bắt tay anh ta, và anh ta vui vẻ cầm tiền đi.
Clousiot chết vào sáng hôm ấy.
Đêm trước, vào một lúc tỉnh táo, anh đã yêu cầu Chatal đừng tiêm morphin
cho anh nữa:
- Tôi muốn được trọn vẹn khi chết, ngồi trên giường bên cạnh có các bạn
tôi.
Có lệ tuyệt đối cấm vào các phòng cách ly, nhưng Chatal đã tự ý bỏ lệ đó,
và bạn chúng tôi đã được chết trong tay chúng tôi. Tôi đã vuốt mắt cho anh.
Maturette biến dạng đi vì đau đớn.
- Anh ấy là người bạn đường trong cuộc phiêu lưu tuyệt vời của chúng ta.
Thế mà bây giờ người ta đã ném anh ấy xuống biển cho cá mập.
Khi nghe mấy tiếng “ném cho cá mập”, tôi lạnh toát cả người. Ở Quần đảo quả
nhiên không có nghĩa địa cho phạm nhân. Khi một người tù qua đời, họ đem xác
ném xuống biển vào lúc mặt trời lặn, khoảng giữa hai đảo Saint-Joseph và
Royale, một nơi nhung nhúc những cá mập.
Cái chết của người bạn làm cho tôi không tài nào ở lại bệnh viện được. Tôi
nhắn Dega là ngày kia tôi sẽ ra viện. Dega liền viết cho tôi mấy chữ:
- Cậu hãy xin Chatal ký giấy cho nghỉ mười lăm ngày ở trại, để cậu có thì
giờ chọn một công việc vừa ý.
Maturette sẽ nằm viện mấy ngày nữa. Có lẽ Chatal sẽ giữ cậu ta lại làm y tá
phụ việc.
Hôm tôi ra viện, họ dẫn tôi đến trụ sở ban Quản trị gặp thiếu tá Barrot
biệt hiệu “Dừa khô.”
- Bươm bướm ạ, - Ông ta nói, - trước khi cho anh về trại, tôi thấy cần nói
chuyện với anh một chút. Ở đây anh có một người bạn quý làm kế toán cho tôi:
Louis Dega ấy. Lão ta nói anh không phải là người như trong các hồ sơ từ Pháp
gửi cho chúng tôi nhận xét và vì coi anh là một người vô tội bị xử oan, việc
anh thường nổi loạn là việc bình thường. Tôi xin nói với anh rằng tôi không
đồng ý lắm với Dega về vấn đề này. Điều tôi đang muốn biết là hiện nay trạng
thái tinh thần của anh ra sao.
- Thưa thiếu tá, trước tiên, để có thể trả lời ngài, xin ngài cho biết
trong hồ sơ nhận xét về tôi như thế nào?
- Anh cứ xem đi thì biết.
Và thiếu tá đưa cho tôi một cái cặp bìa vàng, trong đó tôi đọc thấy những
điều đại loại như sau:
“Henri Charrière, biệt hiệu Bươm bướm, sinh ngày mười sáu tháng Một năm
1906 ở… tỉnh Ardèche, bị Tòa Đại hình quận sông Seine xử án khổ sai chung thân
vì tội giết người. Nguy hiểm về mọi phương diện, cần được giám sát nghiêm ngặt.
Không thể giao những công việc ưu đãi.”
“Nhà lao trung tâm Caen: một phạm nhân bất trị, không thể cải hóa. Có khả
năng khuấy động và chỉ huy một cuộc nổi loạn. Cần quan sát thường xuyên.”
“Saint Martin de Re: một tù nhân có kỷ luật nhưng rất có ảnh hưởng đối với
các bạn tù. Sẽ tìm cách vượt ngục từ bất kỳ nhà giam nào.”
“Saint-Laurent du-Maroni: đã tấn công một cách man rợ vào ba viên giám thị
và một viên giữ khóa để trốn khỏi bệnh viện. Được đưa từ Colombia về. Có thái
độ đứng đắn khi ra tòa trừng giới. Bị xử nhẹ hai năm cấm cố.”
“Nhà lao cấm cố Saint-Joseph: hạnh kiểm tốt cho đến mãn hạn.”
Khi tôi trả lại tập hồ sơ, viên thiếu tá nói:
- Anh bạn Bươm bướm ạ, với một hồ sơ như thế, người có nhiệm vụ quản lý anh
khó lòng có thể yên tâm. Bây giờ anh có thể ký kết với tôi một bản giao kèo
không?
- Sao lại không ạ? Tuy cũng còn tùy ở nội dung bản giao kèo.
- Tôi tin chắc mười phần là anh sẽ làm hết cách để vượt ngục khỏi Quần đảo,
mặc dầu việc này hết sức khó khăn. Rất có thể anh sẽ thành công nữa là khác.
- Thế mà về phần tôi, tôi còn phải quản lý Quần đảo năm tháng nữa. Anh có
biết một vụ vượt ngục xảy ra thì Giám đốc Quần đảo phải trả giá như thế nào
không? Một năm phụ cấp. Tôi sẽ bị tước bỏ số phụ cấp của viên chức hải ngoại,
sẽ bị hoãn nghỉ phép sáu tháng và hạn nghỉ phép rút bớt ba tháng. Và tùy theo
kết luận sau khi điều tra về vụ vượt ngục, nếu thấy có sự sơ xuất của Giám đốc
trại, có thể mất một lon. Anh thấy đấy: chẳng phải chuyện đùa. Nhưng nếu tôi là
người làm việc một cách trung thực thì không thể chỉ vì anh có cơ vượt ngục mà
tôi lại có quyền nhốt anh vào ngục hay vào xà lim. Trừ phi tôi đặt điều vu cho
anh phạm lỗi này nọ. Cái đó tôi không muốn làm chút nào. Cho nên tôi mong anh
lấy danh dự hứa với tôi là sẽ không tìm cách vượt ngục trước khi tôi rời Quần
đảo. Năm tháng thôi.

