Hòn đảo 30 chiếc quan tài - Phần I - Chương 05 phần 1

Chương năm

Bốn người đàn bà trên cây thập giá

Còn lại một mình Vêrôních trên đảo. Nàng
lặng lẽ đứng tì hai khuỷu tay lên thành cửa sổ, đầu gục vào cánh tay. Cứ thế
cho đến khi mặt trời xuống thấp, chìm vào những đám mây sát mặt biển phía chân
trời.

Thực tại đã đi qua bóng tối tâm hồn nàng
như những bức tranh mà nàng cố không nhìn nhận chúng nữa, nhưng chúng cứ mỗi
lúc thêm chính xác đến nỗi nàng tưởng mình vẫn đang sống trong những cảnh tàn
khốc đó.

Nàng cố tiếp tục gạt chúng ra khỏi đầu óc.
Nàng không tìm cách lí giải tất cả những sự việc vừa xảy ra, không đặt những
giả thiết, những lí lẽ làm sáng tỏ tấn thảm kịch. Nàng thừa nhận Phơrăngxoa và
Xtêphan là những kẻ mất trí. Bởi vì nàng hoàn toàn không thể đưa ra một nguyên
nhân nào khác để giải thích hành động của họ. Và chính vì thừa nhận họ là kẻ
mất trí nên nàng càng không thể gắn cho họ những động cơ có tính chất âm mưu và cố ý. Hơn nữa việc Honorin quẫn trí
nhẩy xuống vực, chính mắt nàng vừa chứng kiến cũng đủ là căn cứ cho nàng tin
rằng tất cả các sự kiện xảy ra tại đây đều có thể do cái hiện tượng rối loạn
tâm thần mà hầu hết những người dân đảo Xarếch đều là nạn nhân của nó! Ngay đến
bản thân nàng cũng có lúc cảm thấy đầu óc mình nghiêng ngã, ý nghĩ tiêu tan như
làn sương mỏng và những bóng ma vô hình cứ lảng vảng khắp mọi nơi.

Vêrôních thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn
đầy ác mộng. Nàng mê thấy mình khổ quá và đã khóc như mưa như gió. Trong lúc mơ
màng, nàng nghe thấy những tiếng động nhẹ và bộ óc mệt mỏi của nàng nghĩ ngay
đến những dấu hiệu thù địch. Kẻ thù đang mon men tới gần! Nàng choàng mở mắt.

Trước mặt, cách độ ba bước chân, một con
vật kì dị có bộ lông màu cà phê sữa đang ngồi trên hai chân sau, hai chân
trước khoanh chéo trước ngực như tay người. Đó là một con chó của Phơrăngxoa mà
Honorin đã có lúc kể cho nàng nghe, một con chó trung hậu tận tụy và hài hước.
Nàng còn nhớ cả cái tên của nó: Vạn Sự
Tốt Lành.

Vêrôních khẽ nhắc lại mấy tiếng đó. Nàng
giơ tay phác một cử chỉ bực dọc để xua đuổi con vật lố lăng có cái tên mỉa mai
nhạo đời ấy đi. Vạn Sự Tốt Lành. Nàng
nghĩ đến những người bị giết trong cuộc tàn sát ghê tởm vừa qua, nghĩ đến tất
cả những người dân đảo Xarếch giờ đây không còn nữa, nghĩ đến cha, đến Honorin
vừa gieo mình xuống vực, nghĩ đến Phơrăngxoa trở thành đứa giết người... vậy mà...
hừ... vạn-sự-tốt-lành!

Tuy nhiên con chó vẫn không nhúc nhích. Nó
đang mải miết làm điệu bộ như Honorin đã miêu tả. Đầu cúi hơi thấp, một mắt
nhắm nghiền, hai mép kéo sệ cho đến tận mang tai, hai chân trước khoanh trước
ngực, cả bộ mặt của nó toát lên một nụ cười thật cởi mở.

Lúc này Vêrôních mới nhớ lại. Đó là cách
thức Vạn Sự Tốt Lành dùng để an ủi
những ai đang phiền muộn. Vạn Sự Tốt Lành
không chịu nổi cảnh nước mắt. Hễ thấy có người khóc nó lại làm điệu bộ cho đến
khi người ta phải cười, phải vuốt ve nó, nó mới thôi.

Vêrôních không cười. Nàng kéo con chó lại
gần mình và nói:

- Không phải đâu, con vật tội nghiệp của
ta ạ! Chẳng có gì tốt lành cả. Trái lại mọi sự đều xấu. Nhưng không hề gì.
Chúng ta cần phải sống. Phải không? Và nhất là đừng để mình trở thành điên rồ
như những kẻ khác...

Nhu cầu sự sống buộc Vêrôních phải hành
động. Nàng xuống bếp tìm một vài thứ ăn được và dành cho con chó một phần hậu
hĩ nhất. Rồi nàng lên gác.

Đêm đến Vêrôních mở cửa một gian phòng bỏ
trống chắc đã lâu ngày. Vì phải liên tục chịu đựng những phút xúc động căng
thẳng nên lúc này nàng chỉ thấy cơ thể mệt mỏi tâm trí rã rời, vừa đặt mình
xuống là ngủ thiếp đi. Vạn Sự Tốt Lành
nằm thức canh chừng ngay cạnh chân giường.

Hôm sau trời sáng đã lâu Vêrôních mới thức
dậy với một cảm giác bình thường, thần kinh bớt căng thẳng và cảm thấy vững tâm
hơn. Nàng cho cuộc sống của nàng lúc này chẳng có gì đặc biệt. Nó cũng chỉ như
đoạn nối tiếp của cuộc sống êm đềm lặng lẽ ở tu viện Bơđăngxông mà thôi.

Những ngày buồn tủi vừa qua đã kéo nàng về
với dĩ vãng, với những kỉ niệm xa xăm mà sự kéo lùi ấy đã chẳng khiến nàng
phải bận tâm lo lắng. Những người vừa mới lìa bỏ cuộc đời trong cơn phong ba
bão táp chỉ còn lại trong kí ức nàng như những bóng dáng xa lạ, những người mà
nàng vừa gặp gỡ đã vội vã chia tay và chẳng bao giờ còn gặp lại! Trái tim nàng
không còn biết thương xót. Tang tóc không làm nàng động tâm. Nàng coi tình thế
của nàng lúc này chẳng qua chỉ là một dịp nghỉ ngơi ngoài dự kiến và vô thời
hạn. Một cảnh sống đơn độc có tác dụng hồi sức và hình như nó còn rất tốt và
rất cần thiết đôi với nàng nữa! Đến nỗi có một chiếc tàu hơi nước không biết từ
đâu đến thả neo ở cái xó xỉnh gở dữ và xúi quẩy này, nàng cũng chẳng
buồn nghĩ đến nhờ nó đưa mình đi khỏi đảo!

Không nghi ngờ gì nữa, lúc rạng sáng trong
đất liền người ta đã nghe thấy những tiếng nổ ngoài đảo và bây giờ người ta
đến. Vêrôních nghĩ thế và bất giác đứng im.

Nàng thấy một chiếc xuồng máy tách khỏi
chiếc tàu lớn chạy vào bờ và cho rằng người ta sắp đổ bộ lên đảo lùng sục trong
làng. Nàng ngại bị lôi kéo vào một cuộc điều tra, mà con trai nàng rất có thể
bị dính dấp vào đó. Nàng hoàn toàn không muốn để người ta bắt gặp, người ta
chất vấn, biết rõ tên tuổi nhân cách tiểu sử của nàng và lại đưa nàng vào cái
vòng địa ngục mà nàng vừa mới từ đó thoát ra. Nàng muốn chờ một hoặc hai tuần
lễ, chờ một sự may rủi một chiếc thuyền nào đó ghé vào đây đưa nàng đi.

Nhưng liệu có ai ra tận lãnh địa Pơriơrê
heo hút này không? Chiếc tàu hơi nước đã rời khỏi đảo và chẳng còn gì khuấy
động cảnh đơn độc của người thiếu phụ trẻ nữa.

Vêrôních ở lì một chỗ ba ngày liền. Số
phận hình như thôi không giao nộp nàng cho những đợt tấn công mới. Nàng chỉ có
một mình đơn độc phải tự mình làm chủ lấy mình. Con chó Vạn Sự Tốt Lành đến với nàng như một sự hỗ trợ to lớn cũng đi đâu
mất.

Lãnh địa Pơriơrê chiếm trọn một đầu hòn
đảo nhỏ trong khu vực nhà dòng Bênêđíchtanh bỏ hoang từ thế kỉ mười lăm dần
dần đổ nát hoang tàn.

Ngôi nhà có từ thế kỉ thứ mười tám, do
một chủ hãng đóng tàu giàu có người Brơtanhơ bỏ tiền ra xây bằng các vật liệu lấy
từ khu nhà dòng đổ nát ấy, với những viên đá tảng xám xịt âm thầm muôn thuở của
nhà tu, không một chút dáng vẻ hấp dẫn về phương diện mỹ thuật của công trình
kiến trúc. Các đồ đạc bày biện trang trí ở bên trong cũng thế. Vêrôních không
dám đặt chân vào các căn phòng của ngôi nhà. Ấn tượng về người cha và đứa con
trai đã kìm chân nàng trước những khuôn cửa khép kín.

Nhưng đến ngày thứ hai, dưới ánh mặt trời
của mùa xuân tươi sáng, Vêrôních đã tìm ra khu trồng hoa. Khu vườn kéo dài đến
tận mũi hòn đảo nhỏ. Nó cũng giống như bãi cỏ trước tòa nhà nham nhở vì những
công trình đổ nát và những bụi cây trường xuân phủ kín khắp nơi.

Nàng để ý thấy tất cả các lối đi ở đây đều
hướng về một mũi đất hiểm trở, có rừng sên cổ thụ cao vút vây quanh. Đến tận
nơi Vêrôních nhìn rõ từng cây sên mọc quây quần thành một khu rừng thưa hình
bán nguyệt trông ra biển.

Chính giữa khu rừng có một bàn đá cổ, mặt
bàn hình bầu dục hơi ngắn đặt trên hai trụ bằng đá gần như vuông vắn. Nơi đây
phong cảnh hùng vĩ âm u mang dáng dấp tôn nghiêm huyền bí khiến người ta phải
sùng kính. Đứng ở chỗ này có thể phóng tầm mắt ra ngoài xa vô tận.

“Bàn Đá Các Tiên” mà Honorin kể đây rồi!
Vêrôních thầm nghĩ. Vậy thì từ đây đến Canve Nở Hoa và những bông hoa của
Magơnốc chắc không còn xa nữa.

Nàng đi vòng quanh các chân của chiếc bàn
đá cổ đồ sộ. Mặt trong của các chân bàn có khắc một vài dấu hiệu bí ẩn không
luận ra được. Nhưng ở các mặt ngoài hướng ra biển, bằng phẳng nhẵn nhụi có
những hình vẽ mới thoạt nhìn Vêrôních lại một phen rụng rời lo sợ. Trên mặt
phiến đá bên phải là những hình vẽ vụng về thô sơ khắc rất sâu, bốn cây thập
giá và bốn người đàn bà bị hành hình. Mặt phiến đá bên trái là những dòng chữ
khắc rồi lâu ngày bị mưa gió làm mờ đi hoặc cũng có thể do con người cố ý cạo
đi. Tuy nhiên cũng còn vài dòng đọc được. Cũng những dòng chữ Vêrôních đã thấy
trong bức tranh bên cạnh xác Magơnốc: “Bốn người đàn bà bị hành hình trên cây
thánh giá...” “Ba mươi chiếc quan tài.” “Hòn đá thánh cho sự sống và cái chết.”

Vêrôních lảo đảo rời khỏi những tấm bia
đá. Bức màn bí ẩn vẫn giăng kín phía trước và hình như khắp cả mọi nơi trên
đảo. Nàng kết luận chỉ có đi khỏi Xarếch! Đi ngay lập tức!

Một lối mòn từ khu rừng thưa đổ ra sát
ngay bên phải cây sên cuối cùng. Cây sên chắc bị sét đánh nên chỉ còn trơ thân
cây với một vài cành khô khẳng khiu. Xa hơn nữa bước xuống mấy bậc đá, vượt qua
một bãi cỏ hẹp có bốn hàng bia đá trồng thẳng tắp, nàng chợt dừng lại bật lên
một tiếng nghẹn ngào: “Ôi!” Nàng đứng sững sờ trước một cảnh tượng kì lạ,
miệng thì thầm: “Những bông hoa của Magơnốc.” Cứ thế Vêrôních đi theo hai hàng
bia đá đến hai tấm bia cuối cùng sừng sững như hai cột cổng chào, mở ra một
quang cảnh lộng lẫy chưa từng có. Thoạt đầu là một sân trước hình chữ nhật
chiều dài không quá năm chục mét thấp hơn lối đi mấy bậc, hai bên cũng hai dãy
bia đá cao bằng nhau với khoảng cách rất đều đặn chẳng khác gì những hàng cột
đá trong các cung diện. Khoảng giữa và các góc thấp của cung điện này (nếu có
thể gọi như thế) được lát những phiến đá hoa cương to không đồng đều và đã rạn
nứt, cỏ từ các khe nứt mọc trồi lên nom như những mạch chỉ viền xung quanh các
ô kính màu trên khung cửa sổ.

Giữa sân có một ô vuông hẹp. Trong ô
vuông, hoa đua nhau nở chen chúc quanh một pho tượng Đức Chúa cũ kĩ bằng đá.
Những bông hoa mới lạ lùng làm sao! Những bông hoa rực rỡ ngoài sức tưởng tượng!
Đẹp tuyệt trần! Những bông hoa mơ màng huyền ảo kì lạ to hơn hẳn những bông
hoa thông thường!

Vêrôních chẳng lạ gì các loài hoa nhưng
nàng vẫn hoàn toàn bất ngờ sửng sốt trước kích thước đồ sộ và vẻ đẹp huy hoàng
của những bông hoa. Có rất nhiều thứ hoa nhưng số bông hoa của mỗi thứ không
nhiều. Có thể nói đây là một lẵng hoa tập hợp tất cả màu sắc hương thơm và vẻ
đẹp của loài hoa!

Điều lạ lùng nhất là những bông hoa này
không nở cùng một lúc. Chúng kế tiếp nhau ngày này qua ngày khác, vừa sinh sôi
vừa nở hoa. Thường thường vẻ đẹp khêu gợi sống động của hoa chưa bao giờ kéo
dài hai hoặc ba tuần lễ. Đó là thời kì nở rộ và phát triển rực rỡ, lộng lẫy,
kiêu hãnh trên những cuống hoa cường tráng.

Đây là loài hoa phù du (hương sắc chóng
phai tàn) của xứ Viếcgini, kia là những giống cây mao cấu, những cây họ huệ, họ
mõm chó, hoa họ hồng đỏ như máu, những bông hoa cầu vồng sắc tím còn lóng lánh
hơn áo lễ cha côi Hoa Lalét, hoa Phơlốc sặc sỡ, hoa Phụ tử, hoa Phisia, hoa
Môngbơrơsia...

Và trên tất cả các loài hoa, ôi! Làm cho
người thiếu phụ trẻ xao xuyến đến tột độ! Trên tất cả các lẵng hoa chói lọi
kia, rất cao, trên suốt một dải hẹp vây quanh chân tượng Đức Chúa là những chùm
hoa màu xanh da trời, màu trắng, màu tím... như đang đua nhau vươn tới Vì Chúa
Cứu Thế! Những bông hoa Vêrôních!

Vêrôních xúc động ngây ngất. Và khi lại
gần tấm bảng nhỏ gắn ở đế pho tượng nhìn thấy dòng chữ “Bông hoa của mẹ,” nàng
bỗng thấy bàng hoàng.

Vêrôních không tin vào phép lạ. Cho dù
những bông hoa có kì diệu hơn hẳn những bông hoa xứ sở nàng - điều đó nàng
thừa nhận - nhưng nhất định nàng không tin các điều phi lí và khác thường lại
chỉ có thể giải thích bằng những lí lẽ siêu tự nhiên hoặc những công thức và
thủ đoạn tà thuật mà chỉ những người như Magơnốc mới nắm được bí quyết. Không,
những điều khác thường đều có nguyên nhân của nó, có thể chỉ là những nguyên
nhân rất đơn giản và từ những nguyên nhân đơn giản ấy, các sự kiện sẽ lần lượt
được phơi bày ra ánh sáng.

Tuy nhiên đứng giữa bối cảnh tà giáo,
trước một kiểu cách trang trí huyền ảo mà sức mạnh mê hoặc của nó như được nhân
lên gấp bội bởi sự có mặt của Đức Chúa Trời nổi bật hẳn lên giữa muôn hoa, đang
dâng hiến cho Người tất cả sắc đẹp và hương thơm của nó, bất giác Vêrôních cũng
quỳ xuống!

Hôm sau và hôm sau nữa Vêrôních lại đến
Canve Nở Hoa. Lần này vẻ huyền bí vây bọc quanh nàng biểu lộ dưới hình thái
khác hẳn; tươi tắn hơn, lộng lẫy hơn, khiến Vêrôních chạnh lòng nghĩ tới đứa
con trai mà lòng lâng lâng không gợn chút hận thù, không vương mối âu sầu tuyệt
vọng trước những bông họa Vêrôních màu tím!

Sang đến ngày thứ năm, Vêrôních chợt nhận
ra thức ăn của nàng đã cạn. Vào quãng xế chiều, nàng lững thững đi xuống làng.
Trong làng phần đông các ngôi nhà đều bỏ ngỏ. Hình như chủ nhà lúc ra đi vẫn có
ý trở về lấy thêm những thứ cần thiết. Những cây phong lữ thảo vẫn mọc bên rìa
cửa sổ.

Những chiếc đồng hồ quả lắc vẫn lặng lẽ
đếm thời gian trong các căn phòng trống trải. Trái tim Vêrôních thắt lại. Nàng
không dám bước qua ngưỡng cửa, ngậm ngùi quay gót trở ra.

Khi đi ngang qua một kho chứa đồ cách bến
không xa, Vêrôních thấy những túi vải và những chiếc hòm mấy hôm trước Honorin
định đưa xuống xuồng máy. Nàng nhủ thầm thế là không chết đói. Chỗ này phải
sống được hàng tuần lễ... từ nay...

Nàng nhặt nhạnh bỏ tất cả vào một cái
thùng nào sôcôla, bánh bítcốt, đồ hộp, gạo, diêm... và khi định trở về Pơriơrê
nàng lại nảy ý muốn tiếp tục đi xem tận đầu kia hòn đảo, lúc trở về sẽ mang
thùng thực phẩm về luôn thể.

Vêrôních lần theo một lối đi rợp bóng cây
vắt ngược lên quả đồi trước mặt. Phong cảnh ở đây không có gì khác. Cũng những
thung lũng, những cánh đồng bỏ hoang không trồng trọt, không một bóng gia súc,
vẫn những cánh rừng sên cổ thụ. Hòn đảo thắt lại hẹp dần, hai bên đều không có
vật che khuất, có thể nhìn thẳng ra biển và phân biệt rõ cả bờ biển xứ Brơtanhơ
xa tít tắp.

Từ bờ vực bên này sang bờ vực bên kia có
một hàng rào chắn ngang phân chia ranh giới lãnh địa, một lãnh địa với cái vẻ
ngoài ốm yếu bệnh hoạn, những dãy lán dài đổ nát, những nhà tắm mái lợp vá víu
và một mảnh sân rác rưởi bẩn thỉu không người trông nom dọn dẹp, mặt sân bề bộn
những mảnh sắt vụn và mẩu củi
cháy dở.

Đúng vào lúc Vêrôních định quay về, nàng
giật mình chợt dừng lại. Hình như có tiếng người rên rỉ đâu đây. Nàng lắng tai
nghe. Xung quanh im lặng như tờ. Nhưng rồi những tiếng kêu lại vẳng đến lần này
nghe rõ hơn. Đó là những tiếng kêu cứu thảm thiết, tiếng phụ nữ. Hóa ra dân
chúng trên đảo chưa phải đã bỏ đi hết? Nàng nghĩ thế và cảm thấy vui vui, cái vui
pha trộn chút phiền muộn. Vui vì nàng không đến nỗi đơn độc trên hòn đảo Xarếch
này. Buồn là vì những sự việc rủi ro có thể sẽ còn lôi cuốn nàng vào vòng lẩn
quẩn của cái chết và sự kinh hoàng.

Vêrôních chú ý nghe và xác định tiếng kêu
không phải từ ngôi nhà mà từ dãy nhà tắm bên phải cái sân. Lối vào sân chắn sơ
sài bằng một hàng rào đơn giản. Nàng chỉ việc đẩy ra. Một tiếng kẹt khô khan,
lập tức tiếng kêu trong dãy nhà tắm nổi lên to hơn. Không nghi ngờ gì nữa những
người trong đó đã nghe thấy tiếng động ngoài sân. Vêrôních bước nhanh đến. Mái
nhà tắm nhiều chỗ bị thủng nhưng tường dày vững chắc, cánh cửa đã cũ và cài
then sắt. Một cánh cửa đang bị đập thình thình từ bên trong xen lẫn tiếng kêu
gào cuống cuồng: “Cứu tôi với! Cứu tôi với!” Nhưng rồi trong đó hình như bắt
đầu diễn ra một cuộc giằng co gay gắt.

Một giọng nói kèm theo tiếng răng nghiến
ken két:

- Câm đi Cơlêmăng, nhỡ bọn nó đến thì sao...

Tiếp đến một giọng khác lanh lảnh nhưng đỡ chói tai hơn:

- Không, không Giéctơruyt, không phải đâu,
không phải chúng nó đâu... Ai đấy? Cứ mở cửa ra, chìa khóa vẫn còn để ở lỗ khóa
ấy!

Vêrôních đang tìm cách mở cửa, quả nhiên
nàng thấy chiếc chìa khóa to tướng vẫn cắm trong ổ khóa. Nàng chỉ việc xoay một
cái, cánh cửa đã mở tung, lập tức nàng nhận ra các bà xơ Ácchinha quần áo tả
tơi, thân hình chỉ còn da bọc xương mang dáng dấp hau háu của những mụ phù
thủy. Hai bà xơ đang ngồi trong chiếc chậu tắm chồng chất cả với những dụng cụ
nhà bếp. Một bà xơ thứ ba nằm co ro trong ổ rơm lót dưới đáy chậu đang rên rỉ,
tiếng nói phều phào như sắp chết.

Giữa lúc đó một trong hai bà xơ ngồi trong
chậu đột nhiên bị kiệt sức gục xuống, còn bà xơ kia đôi mắt sáng rực đang lên
cơn sốt rét cố đứng lên nắm tay Vêrôních, hổn hển nói:

- Bà có trông thấy bọn chúng không? Hả?
Chúng vẫn ở đây à? Sao chúng không giết bà? Từ lúc mọi người đi khỏi Xarếch bọn
chúng trở thành chúa tể... Và đến lượt chúng tôi... Thế đấy. Chúng tôi bị nhốt
ở đây đã sáu ngày rồi... Sáng hôm ấy khởi hành... Tất cả gói ghém hành lí sửa
soạn xuống thuyền. Chúng tôi quay về đây lấy thêm quần áo khô trong nhà tắm.
Bọn chúng ập đến... Chúng tôi bị bất ngờ... hoàn toàn không biết gì... Chỉ biết
cánh cửa tự nhiên đóng sập khóa chặt... Trong này sẵn có khoai tây bánh mì,
nhất là nước khoáng... nên chúng tôi không đến nỗi khốn đốn lắm... Nhưng chỉ
lo chúng quay lại giết... Liệu đã đến lượt chúng tôi chưa? Ôi, bà tốt quá! Thế
mà chúng tôi dỏng tai ra nghe ngóng, cứ run cả người lên... Chị cả phát điên...
Bà có nghe thấy chị ấy nói huyên thuyên... Chị kia là Cơlêmăng không còn có thể...
Còn tôi... là Giéctơruýt.

Bà xơ này xem ra còn khỏe vì bà ta nắm vào
cánh tay Vêrôních khá chặt.

- Corêgiu đâu? Anh ta đến đấy rồi lại đi
ngay phải không? Sao anh ta không tìm chúng tôi? Việc ấy có khó khăn gì đâu...
Rõ ràng anh ta cũng biết ba chúng tôi quay về đây. Hơn nữa cứ nghe bên ngoài có
tiếng động nhỏ chúng tôi lại kêu ầm lên... Tại sao? Tại sao vậy?...

Vêrôních dè dặt không trả lời. Tuy nhiên
nàng thấy chẳng có gì phải giấu giếm sự thật. Nàng tuyên bố:

- Hai chiếc thuyền đều bị đắm...

- Sao?

- Hai chiếc thuyền đều bị đắm. Tất cả
những người trên thuyền đều chết, ngay trước thánh địa Pơriơrê, chỗ ra khỏi
luồng “Ma quỷ...”

Vêrôních không nói thêm nữa. Nàng tránh
không nhắc đến Phơrăngxoa và ông thầy dạy nó, tránh đả động đến hành vi của hai
người. Nhưng bà xơ Cơlêmăng vụt đứng dậy mặt tái nhợt.

Giéctơruýt thì thào:

- Thế còn Honorin?

- Honorin chết rồi!

- Chết rồi!

Hai bà xơ cùng kêu lên một lúc rồi nhìn
nhau im bặt. Những ý nghĩ giống nhau đang đập mạnh vào đầu óc các bà xơ. Các bà
ngồi thừ suy nghĩ. Giéctơruýt đếm các đầu ngón tay như người ta làm tính nhẩm.
Trên khuôn mặt các bà vẻ khiếp sợ cứ tăng dần.

Cổ họng Giéctơruýt như nghẹn tắc vì sợ
hãi. Bà ta cố dằn từng tiếng rất khẽ vừa nói vừa nhìn trừng trừng vào mắt
Vêrôních.

- Này nhá... này nhá... tôi tính thử cho
bà xem... Bà biết có bao nhiêu người trên thuyền? Hai mươi... bà biết không...
Đây nhá, hai mươi cộng với Magơnốc chết đầu tiên... rồi ông Ăngtoan... cậu
Phơrăngxoa và ông Xtêphan. Rồi đến Honorin và Mari Lơ Gôn... Nào bà tính đi...
Tất cả là hai mươi sáu... hai mươi sáu... đúng không? Ba mươi trừ hai mươi sáu...
bà hiểu chứ? Ba mươi chiếc quan tài nhất định phải có đủ... ba mươi trừ hai
mươi sáu... còn bốn phải không? - Giéctơruýt không nói được nữa. Lưỡi líu lại.
Tuy nhiên những tiếng khủng khiếp cứ buột ra khỏi miệng bà xơ. Vêrôních nghe bà
ta lắp bắp... - Hả... bà có hiểu không? Thế đấy... bốn chúng ta...

Chỉ còn bốn chúng ta trên đảo nữa thôi...
bốn người đàn bà...

Vêrôních lặng lẽ nghe. Mặt hơi lấm tấm mồ
hôi. Nhưng nàng nhún vai:

- Còn bốn chúng ta thì đã sao? Các bà sợ
gì?

Vêrôních cảm thấy bực mình:

- Nhưng nếu tất cả chúng ta đều đi khỏi
đây?

Giéctơruýt hốt hoảng:

- Bà nói khẽ chứ! Chúng nghe thấy đấy?

- Ai nghe thấy?

- Bọn chúng... những người ngày xưa...

- Người ngày xưa nào?

- Vâng. Những người chuyên làm lễ tế thần...
chuyên giết đàn ông, đàn bà... để làm vui lòng các vị thần linh của họ...

- Tất cả những chuyện đó đã chấm dứt từ
lâu rồi. Các bà muốn nói các đạo sĩ dòng Gôloa phải không? Bây giờ làm gì còn
đạo sĩ dòng Gôloa?

- Khẽ chứ! Bà nói khẽ chứ! Vẫn còn đấy...
vẫn còn những hung thần.

- Họa chăng chỉ còn những linh hồn! - Vêrôních
sắp nổi khùng bởi những chuyện mê tín dị đoan.

- Đúng, những linh hồn, nhưng đó là những
linh hồn bằng xương, bằng thịt. Chúng có đủ hai bàn tay để đóng chặt cửa nhốt
chúng tôi vào đây... Chúng nhấn chìm thuyền, giết ông Ăngtoan, giết Mari Lơ
Gôn và những người khác. Chúng đã giết hai mươi sáu...

Vêrôních im lặng. Chẳng có gì buộc nàng
phải đối đáp với các bà xơ. Vì chính nàng biết rất rõ kẻ nào giết ông Ăngtoan
Đecgơmông, Mari Lơ Gôn và những người khác, kẻ nào nhận chìm hai chiếc thuyền...

Nàng hỏi:

- Các bà bị nhốt ở đây lúc mấy giờ?

- Lúc mười giờ rưỡi... Chúng tôi hẹn
Corêgiu đúng mười một giờ tập trung ở trong làng để đi.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.