Giao Lộ Sinh Tử - Chương 38 - 39
CHƯƠNG 38
Cánh cửa nhà
tôn đằng sau tôi nằm cách một khoảng dễ gây nản chí. Trước khi tôi đến được đó,
con đầu đàn sẽ ngự trên lưng tôi, răng nó để ở cổ tôi và mấy con kia sẽ cắn xé
chân tôi, kéo lê phần dưới tôi đi.
Trong tay
tôi, chai bia bể như món đồ dễ vỡ, một vũ khí cực kì không tương thích, chẳng
ích lợi gì hơn ngoài việc cứa vào cổ của chính tôi.
Xét sức ép
bất ngờ đè nặng lên bàng quang của tôi thì bọn dã thú này sẽ có món thịt ướp
nước khi chúng ngoạm lấy tôi... nhưng rồi thực khách hung tợn bên trái tôi ngân
tiếng gầm gừ lại và thốt ra giọng rên rỉ phục tùng.
Bộ ba rụt rè
bên phải tôi, như con kia, đổi thái độ đe dọa thành lúng túng. Chúng bỏ tư thế
theo đuổi, nhổm thẳng dậy, tai vểnh và cụp ra trước.
Sự thay đổi
trong hành vi của bọn sói đồng cỏ, quá bất ngờ không thể lí giải, khiến giây
phút đó giống bỏ bùa, như thể một thiên thần hộ mệnh gieo rắc phép lành lên vạn
vật ban cho tôi sự giải thoát khỏi cảnh bị moi ruột.
Tôi đứng
thẳng đơ và ngơ ngẩn, sợ cử động sẽ xóa tan bùa chú. Sau đó nhận ra sự chú ý
của bầy đã chuyển sang một cái gì đó phía sau tôi.
Thận trọng
quay đầu, tôi phát hiện người bảo vệ mình là một cô gái xinh xắn nhưng quá mảnh
dẻ với mái tóc vàng bù xù và đường nét mong manh. Cô gái đứng phía sau, bên
trái tôi, chân trần, không mặc gì ngoài cái quần lót viền ren nhỏ xíu, đôi tay
thon thả khoanh lại che ngực.
Làn da nhợt
nhạt mịn màng của cô dường như tỏa sáng trong ánh trăng. Đôi mắt xanh dương,
hai hồ nước mênh mang, là cửa sổ cho thấy nỗi u sầu quá sâu sắc, tôi biết ngay
cô ấy thuộc về cộng đồng những hồn người chết chưa yên nghỉ.
Con sói đơn
lẻ bên trái tôi ngồi xuống đất, mọi cơn thèm khát bị lãng quên, ý chí đấu tranh
tan biến. Con vật tỏ thái độ với cô như kiểu một chú chó đang chờ đợi lời âu
yếm từ người chủ đáng kính của nó.
Bên phải
tôi, ba con sói đầu tiên không khúm núm như con thứ tư nhưng bọn chúng cũng
chết khiếp trước cảnh tượng này. Tuy lúc nãy không gắng sức nhưng chúng thở hổn
hển và liếm mép liên tục, hai biểu hiện căng thẳng thần kinh ở giống chó. Khi
cô gái bước qua tôi, hướng đến chiếc Chevy, bọn sói tránh sang bên, không phải
theo kiểu sợ sệt mà như thể chiều ý.
Khi đến
chiếc xe, cô quay lại phía tôi. Nụ cười của cô là mảnh trăng lưỡi liềm lộn
ngược nặng trĩu nỗi buồn.
Tôi lặng lẽ
cúi nhặt cái chai vỡ dưới đất rồi đứng thẳng lên, khâm phục khả năng nhận thức
và ưu tiên của bọn sói, chúng có vẻ coi sự trải nghiệm điều kì lạ quan trọng
hơn hẳn nhu cầu ăn uống.
Ở chỗ chiếc
xe, tôi đóng cửa sau, mở cửa phía trước bên phần ghế hành khách.
Cô gái nhìn
tôi một cách trang nghiêm, như thể cô cực kì xúc động vì được nhìn thấy sau khi
qua đời đã nhiều năm, cũng như tôi xúc động thấy cô gái trong chốn ăn năn do
chính cô tạo ra.
Xinh như đóa
hoa hồng mới hé và vẫn chứa đựng nhiều hứa hẹn, xem ra lúc chết cô gái này mới
hơn mười tám tuổi, quá trẻ để bị trói buộc rất lâu vào những xiềng xích của thế
giới này, vào việc chịu đựng sự bơ vơ kéo dài như thế.
Cô gái ắt
hẳn là một trong ba ả mại dâm bị một tên điên bắn chết năm năm về trước trong
vụ việc làm đóng cửa vĩnh viễn Bánh kẹp Thì thầm. Nghề đã chọn lẽ ra phải khiến
cô chai sạn nhưng cô có vẻ là một linh hồn hiền lành và nhút nhát.
Cảm động bởi
tình cảnh bấp bênh của cô và bởi sự tự trừng phạt khắc nghiệt giam dữ cô lại
đây, tôi chìa tay ra.
Thay vì nắm
tay tôi, cô cúi đầu dè dặt. Sau thoáng ngần ngừ, cô không khoanh tay nữa mà hạ
xuống hai bên, để lộ bộ ngực và hai lỗ đạn đen ngòm làm trầy xước khe ngực.
Vì tôi không
nghĩ cô còn chuyện chưa hoàn thành tại chốn tiêu điều này, và vì cuộc đời cô rõ
ràng quá nghiệt ngã nên cô có rất ít lí do để yêu quý thế giới này đến mức
không chịu rời bỏ nó nên tôi cho rằng sự miễn cưỡng không muốn đi tiếp của cô
xuất phát từ nỗi sợ hãi điều này xảy đến kế tiếp, có lẽ sợ bị trừng phạt.
“Đừng sợ,”
tôi nói. “Cô đâu phải kẻ tàn ác trong cuộc đời này, đúng không? Chỉ cô đơn, lạc
lõng, hoang mang, đau khổ, như tất cả những ai đi trên con đường này mà thôi.”
Chầm chậm,
cô ngẩng đầu lên.
“Có lẽ cô yếu
đuối và dại dột, nhưng rất nhiều người như thế. Tôi cũng vậy.”
Cô lại bắt
gặp ánh mắt của tôi. Nỗi u sầu của cô dường như đối với tôi giờ đây càng sâu
sắc hơn, nhói buốt như lòng tiếc thương nhưng kéo dài như nỗi thất vọng.
“Tôi cũng
vậy,” tôi lặp lại. “Nhưng khi chết, tôi sẽ đi tiếp, và cô nên làm thế, không
khiếp sợ.”
Cô mang vết
thương không phải như đeo dấu hiệu linh thiêng mà như thể chúng là vết sắt nung
của quỷ dữ, nhưng thật ra không phải vậy.
“Tôi không
biết nó thế nào, nhưng tôi biết cuộc đời tốt đẹp hơn chờ đợi cô, vượt khỏi
những khổ sở cô đã nghe đã thấy ở đây, một nơi đúng là chỗ của cô và cô sẽ được
thương yêu thực sự.”
Qua vẻ mặt
của cô, tôi biết ý nghĩ được yêu thương đối với cô chỉ là niềm hi vọng ấp ủ chứ
chưa bao giờ thành hiên thực trong quãng đời bất hạnh ngắn ngủi. Nếm trải những
điều kinh khủng, có lẽ từ lúc lọt lòng đến khi vang lên tiếng súng kết liễu
cuộc đời, đã khiến cô nghèo nàn trí tưởng tượng, không thể hình dung thế giới
bên kia nơi tình yêu thương là lời hứa hẹn được thỏa nguyện.
Cô lại đưa
tay lên khoanh trước ngực, che cả ngực và vết thương.
“Đừng sợ,”
tôi lặp lại.
Nhoẻn miệng
cười trở lại, nụ cười của cô vẫn sầu muộn như trước nhưng giờ đây nó còn mang
vẻ bí ẩn. Tôi không thể khẳng định điều tôi nói có an ủi được cô hay không.
Ước gì nãy
tôi thể hiện niềm tin đầy sức thuyết phục hơn, và tự hỏi tại sao mình không như
thế, tôi ngồi vào ghế hành khách phía trước cửa xe. Tôi đóng cửa và trượt qua
ghế sau vô lăng.
Tôi không
muốn bỏ cô lại giữa những cây cọ héo queo và căn nhà tôn mục nát cùng niềm hi vọng
cũng nhỏ nhoi như lớp vật chất trên người cô.
Thế nhưng
đêm cứ trôi, mặt trăng và tất cả các chòm sao băng qua bầu trời không ngừng
nghỉ như cây kim di chuyển trên mặt đồng hồ. Ít giờ nữa, nỗi kinh hoàng sẽ bất
ngờ ập xuống thị trấn Pico Mundo nếu tôi không bằng cách nào đó ngăn chặn nó.
Khi chầm
chậm lái xe rời đi, tôi không ngừng liếc nhìn gương chiếu hậu. Cô gái đó trong
ánh trăng, bọn sói bị mê hoặc ngồi bên chân cô như thể cô là nữ thần Diana giữa
hai cuộc đi săn, vị chủ nhân của mặt trăng và vạn vật trên đó, đang lùi xa nhỏ
dần nhưng chưa sẵn sàng trở về mái nhà trên đỉnh Olimpus.
Tôi lái xe
từ Nhà thờ Sao chổi Thì thầm trở về thị trấn Pico Mundo, từ việc đồng hành cùng
một kẻ xa lạ bị bắn đến việc nhận được hung tin một người bạn bị bắn.
CHƯƠNG 39
Giá như tôi
biết tên hay thậm chí khuôn mặt của kẻ nên tìm kiếm thì tôi đã có thể thử vận
dụng sức hút siêu linh, đảo quanh thị trấn Pico Mundo cho đến khi giác quan thứ
sáu đưa tôi đến gặp mặt hắn. Thế nhưng kẻ đã giết Bob Robertson, và kẻ khao
khát hại chết những người khác vào ngày mai đối với tôi vẫn vô danh vô diện, và
theo đuổi bóng ma hão huyền thì thật phí phạm xăng và thời gian.
Thị trấn ngủ
yên nhưng yêu quái thì không. Bọn ông kẹ đầy đường, đông hơn nhiều và đáng sợ
hơn nhiều so với bầy sói, chạy nhảy suốt đêm trong tâm trạng như là sung sướng
mong chờ.
Tôi đi qua
những ngôi nhà nơi mấy cái bóng sống động kéo đến tụ tập với vẻ hiếu kì đặc
biệt. Lúc đầu tôi cố nhớ từng người trong ngôi nhà bị ám đó vì tôi vẫn tin
những người thu hút bọn ông kẹ cũng là những người sẽ bị sát hại trong khoảng
thời gian giữa bình minh và hoàng hôn ngày mai.
Tuy nhỏ hơn
thành phố nhưng thị trấn của chúng tôi lớn hơn nhiều so với trước đây với những
khu lân cận mới hình thành đầy các khu cư xá, chứa hơn bốn mươi ngàn người
trong một hạt có nửa triệu dân. Tôi đã gặp chỉ một phần bé tí trong số đó.
Đa số các
ngôi nhà ngập tràn ông kẹ đều thuộc về những người tôi không quen biết. Tôi
không có thời gian gặp gỡ tất cả họ và không hi vọng giành được lòng tin của họ
đến mức họ chịu nghe lời khuyên của tôi và thay đổi kế hoạch ngày thứ Tư, như
chị Viola Peabody đã làm.
Tôi cân nhắc
việc ngừng xe tại các ngôi nhà quen biết, yêu cầu họ liệt kê từng địa điểm họ
định đến vào chiều mai. May mắn thì tôi có thể phát hiện ra một điểm dừng chân
chung của tất cả mọi người.
Không ai nằm
trong vòng tròn bạn bè thân cận ít ỏi của tôi. Họ không hề biết năng lực siêu
nhiên của tôi nhưng nhiều người xem tôi là kẻ lập dị dễ mến, ở mức độ này hay
mức độ khác, và do đó họ sẽ không lấy làm ngạc nhiên trước chuyến ghé thăm bất
ngờ hay những câu hỏi của tôi.
Song bằng
việc tìm kiếm thông tin trước mặt bọn ông kẹ, tôi sẽ gieo nghi ngờ cho chúng.
Một khi đã cảnh giác tôi, trước sau gì chúng cũng nhận thức được bản chất khác
thường của tôi.
Tôi nhớ cậu
bé người Anh sáu tuổi đã lớn tiếng nói về bọn ông kẹ rồi bị nghiền nát giữa một
bức tường gạch đổ bê tông và một chiếc xe tải lạc tay lái. Cú đụng độ ghê gớm
đến mức vô số gạch đã nát vụn, phơi trần gọng thép gia cố quanh chỗ trát vữa.
Tài xế, một
thanh niên hai mươi tám tuổi, có sức khỏe rất tốt nhưng khám nghiệm tử thi cho
thấy anh ta bị đột quỵ nặng dẫn đến tử vong lập tức trong khi vẫn ngồi sau vô
lăng.
Cơn đột quỵ
chắc hẳn giết chết anh ta ngay lúc anh chạy qua đỉnh đồi, dưới chân đồi là cậu
bé người Anh. Bản phân tích hiện trường tai nạn của cảnh sát xác định góc bên
hông của sườn đồi, trong mối tương quan với con đường băng ngang bên dưới, lẽ
ra phải đưa chiếc xe tải không người lái ra xa cậu bé, đâm vào bức tường cách
hơn chín mét so với nơi trên thực tế nó đã thực hiện cú dừng chết người. Rõ
ràng, trong một phần quá trình xuống dốc, xác chết của tài xế vướng vào vô
lăng, phản lại cái góc nghiêng của con đường lẽ ra đã cứu được cậu bé.
Tôi biết các
bí ẩn của vũ trụ còn nhiều hơn cả về những người không thể nhìn thấy hồn người
chết vất vưởng, nhưng tôi chẳng hiểu được là bao cái chân lí của sự tồn tại.
Tuy nhiên tôi đạt đến một kết luận chắc chắn dựa trên những gì biết được: không
hề có chuyện trùng hợp ngẫu nhiên.
Theo tầm vĩ
mô, tôi nhìn nhận điều các nhà vật lí trình bày đúng ở tầm vi mô: Ngay cả trong
tình trạng xáo trộn cũng có trật tự, mục đích và ý nghĩa kì lạ lôi cuốn, nhưng
thường là cản trở sự nghiên cứu và thấu hiểu của chúng ta.
Vì vậy, tôi
không dừng xe ở bất kì ngôi nhà nào có bọn ông kẹ nhảy nhót, không đánh thức
những người đang ngon giấc để đặt các câu hỏi cấp bách. Đâu đó một tài xế khỏe
mạnh và một chiếc xe tải đồ sộ chỉ cần chứng phình động mạch não đúng lúc và
trường hợp hỏng phanh xe thích hợp là xe sẽ ngáng giữa đường tôi đi tạo thành
vụ đụng độ bất ngờ.
Thay vào đó,
tôi lái xe đến nhà cảnh sát trưởng Porter, cố quyết định xem có nên đánh thức
ông vào giấc ba giờ sáng bất tiện này không.
Nhiều năm
qua, tôi chỉ phải làm thế hai lần trước khi phá giấc ngủ của ông ấy. Lần đầu,
tôi ướt sũng và lấm lem bùn lầy, vẫn còn đeo một bên còng, và lôi theo nguyên
chiều dài của nó, cái còng đã trói tôi vào hai xác chết bị ném cùng tôi xuống
hồ Malo Suerte bởi những kẻ ác tâm bất lương. Lần thứ hai tôi đánh thức ông, vì
cơn khủng hoảng cần ông chú ý.
Cơn khủng
hoảng hiện thời chưa hoàn toàn ập tới chúng tôi nhưng nó đã hiện ra lờ mờ. Tôi
nghĩ ông cần biết rằng Bob Robertson không chỉ một mình mà có đồng bọn.
Thủ thuật là
làm sao trình bày tin này một cách thuyết phục mà không tiết lộ chuyện tôi tìm
thấy Robertson chết queo trong phòng tắm nhà tôi và vi phạm vô số luật lệ mà
không hề ăn năn, tôi đã đưa cái xác đến nơi yên nghỉ ít gây liên lụy hơn.
Khi rẽ qua
khúc quanh cách địa chỉ của cảnh sát trưởng Porter nửa khu nhà, tôi ngạc nhiên
thấy đèn còn sáng trong vài ngôi nhà vào giờ muộn thế này. Chỗ của cảnh sát
trưởng sáng hơn hẳn các nơi khác.
Bốn xe tuần
tra cảnh sát đậu trước nhà. Tất cả đều đã dừng một cách vội vã, lệch hẳn so với
lề đường. Còi hụ trên nóc một chiếc xe vẫn lóe sáng, xoay tròn.
Tại bãi cỏ
trước nhà, ở bên kia nơi những đốm sáng đó nhịp nhàng đuổi bắt làn sóng xanh
dương, năm sĩ quan đang tụ tập trao đổi. Điệu bộ của họ cho thấy họ đang an ủi
một người khác.
Tôi định đỗ
xe đối diện nhà cảnh sát trưởng. Tôi sẽ gọi đến số điện thoại riêng của ông sau
khi bịa xong câu chuyện tránh đề cập đến nỗ lực mới đây của tôi trong vai tài
xế taxi phục vụ một gã đã chết.
Thay vì thế,
tự nhiên lòng nôn nao, tôi bỏ chiếc Chevy trên đường, cạnh một xe tuần tra. Tôi
tắt đèn pha nhưng vẫn để máy nổ, hi vọng không cảnh sát nào đến gần để có thể
nhìn thấy không có chìa khóa trong ổ.
Các sĩ quan
đứng ở bãi cỏ đều quen biết tôi. Họ quay lại đối diện tôi khi tôi chạy đến.
Sonny
Wexler, người cao nhất, dẻo dai nhất và nói năng ôn hòa nhất trong nhóm, dang
cánh tay rắn chắc ra như ngăn tôi lao qua mặt anh ta ào vào nhà. “Dừng lại, ở
ngoài đây, nhóc. Đội điều tra hiện trường vụ án đang xem xét chỗ này.”
Đến lúc đó
tôi mới thấy Izzy Maldanado ở mái hiên trước nhà. Anh ta nhổm dậy sau một nhiệm
vụ nào đó mà anh phải quỳ gối chú tâm thực hiện, và vặn người để lưng khỏi vẹo.
Izzy làm
việc cho phòng thí nghiệm điều tra tội phạm ở Phân viện Cảnh sát thuộc hạt
Maravilla, nơi hợp tác với cảnh sát thị trấn Pico Mundo. Khi xác Bob Robertson
cuối cùng được tìm thấy trong căn nhà tôn kia thì Izzy rất có thể sẽ là nhân
viên kiểm tra tỉ mỉ hiện trường để truy tìm bằng chứng.
Dù vô cùng
muốn biết chuyện đã xảy ra ở đây nhưng tôi không thốt nên lời. Cổ họng tôi như
có một cục gì đó dính như keo chặn ngang.
Cố gắng nuốt
trôi cục nghẹn tưởng tượng kia xuống mà không xong, biết đó chỉ là cơn xúc động
gây nghẹn ngào nhưng tôi nghĩ đến Gunther Ulstein, thầy giáo rất yêu âm nhạc và
là chỉ huy dàn nhạc trường phổ thông Pico Mundo, người thỉnh thoảng gặp phải
tình trạng khó nuốt. Qua vài tuần, tình hình nhanh chóng xấu đi. Trước khi được
chẩn đoán, bệnh ung thư thực quản đã di căn khắp thanh quản của thầy.
Vì không
nuốt được thức ăn nên trọng lượng thầy giảm nhanh chóng. Bác sĩ trước hết dùng
cách xạ trị, dự kiến tiếp theo sẽ cắt bỏ toàn bộ thực quản của thầy và tạo ra
một thực quản mới từ chiều dài ruột kết. Phương pháp xạ trị khiến thầy yếu sức.
Thầy mất trước cuộc phẫu thuật.
Ốm o gầy mòn
như những ngày cuối đời, Gunny Ulstein thường xuất hiện ở xích đu trước mái
hiên ngôi nhà do chính thầy xây nên. Người vợ ba mươi năm của thầy, cô Mary,
vẫn sống tại đó.
Suốt vài
tuần cuối đời, thầy mất khả năng nói chuyện. Thầy có rất nhiều điều muốn nói
với cô Mary, rằng cô luôn mang đến điều tốt đẹp nhất cho thầy, rằng thầy yêu cô
biết bao, nhưng thầy không thể diễn tả cảm xúc với sự tinh tế và đủ các cung
bậc như bằng lời nói. Giờ đây thầy nấn ná, nuối tiếc những điều chưa thổ lộ, mơ
mộng hão huyền rằng khi thành người thiên cổ, thầy sẽ tìm ra cách trò chuyện
với cô.
Căn bệnh ung
thư làm mất khả năng nói chuyện gần như là điều may mắn nếu nó ngăn tôi hỏi
Sonny Wexler, “Chuyện gì xảy ra vậy?”
“Tôi tưởng
cậu phải nghe rồi chứ,” anh ta đáp. “Tôi tưởng đó là lí do cậu đến đây. Cảnh
sát trưởng bị bắn.”
Jesus
Bustamante, một sĩ quan khác, giận dữ nói, “Cách đây gần một tiếng, một tên
khốn nào đó đã cho cảnh sát trưởng ăn ba phát đạn vào ngực ngay tại hiên trước
ngay nhà ông.”
Dạ dày của
tôi cứ lộn tùng phèo, gần như cùng nhịp với mấy cái còi hụ xoay tròn trên chiếc
xe tuần tra gần đó, và cục nghẹn vô hình nơi thực quản của tôi thành ra có thật
khi vị đắng thức ăn trồi lên trong cổ họng.
Chắc hẳn mặt
tôi tái mét, tôi lảo đảo trên hai đầu gối bất chợt muốn khuỵu xuống, vì vậy
Jesus áp cánh tay lên lưng để đỡ tôi, và Sonny Wexler nói nhanh, “Bình tĩnh,
nhóc, bình tĩnh, cảnh sát trưởng còn sống. Ông ấy rơi vào tình trạng hiểm
nghèo, nhưng còn sống, ông ấy là người chống chọi ngoan cường mà.”
“Bác sĩ hiện
đang lo cho ông ấy.” Billi Munday lên tiếng. Vết bớt đỏ lan khắp một phần ba
khuôn mặt của anh ta dường như rực sáng một cách lạ lùng trong đêm, khiến anh
toát lên dáng dấp vị pháp sư vẻ mặt vằn vện sắp tuyên bố những cảnh báo, điềm
gở và điều xấu xa. “Ông ấy sẽ ổn. Ông ấy phải ổn thôi. Ý tôi là, không có ông
ấy thì thế nào đây?”
“Ông ấy là
người chống chọi ngoan cường,” Sonny lặp lại.
“Bệnh viện
nào?” tôi hỏi.
“Bệnh viện
đa khoa của hạt.”
Tôi chạy ra
chiếc xe để ngoài đường.

