Trăng lạnh - Phần II - Chương 25
CHƯƠNG 25
Amelia
Sachs trở về chỗ Rhyme với một cái hộp nhỏ bằng bìa đựng chứng cứ.
“Chúng
ta có gì nào?”, anh hỏi. Sachs soát lại các thứ cô tìm thấy tại hiện trường, rồi
viết bổ sung lên bảng.
Theo
cơ sở dữ liệu của Sở Cảnh sát New York, những cái sợi Sachs phát hiện ra trên bộ
quân phục là từ chiếc cổ len loại áo khoác ngắn bằng da từng được phi công sử dụng
– áo khoác dành cho phi công lái máy bay ném bom. Sachs đã kiểm tra thực địa,
và chiếc đồng hồ lần này cũng không phải thiết bị phát nổ. Nó giống hệt ba chiếc
kia, chẳng có dấu vết gì cả, trừ một vết ố mới có mà sau khi xét nghiệm thì hóa
ra do rượu metilic, loại được sử dụng làm chất khử trùng và tẩy rửa. Cũng như
trường hợp cô thợ cắm hoa, Thợ Đồng Hồ không kịp để lại bài thơ hoặc đã quyết định
không dể lại.
Rhyme
đồng ý thông báo rộng rãi về tấm danh thiếp dưới hình thức là những chiếc đồng
hồ, tuy anh phỏng đoán rằng tất cả hiệu quả của chuyện thông báo chỉ là đảm bảo
việc kẻ giết người sẽ không để lại đồng hồ cho tới khi hắn chắc chắn nạn nhân
không thể kêu cứu được nữa.
Dấu vết
Sachs tìm thấy dọc theo lối mà rất nhiều khả năng là lối sát thủ tẩu thoát
không bộc lộ điều gì hữu ích cả.
“Chẳng
còn gì khác”, cô nói.
“Chẳng
còn gì?”, Rhyme hỏi. Anh lắc đầu.
Nguyên
tắc của Locard…
Ron
Pulaski tới, cởi áo khoác và treo lên. Rhyme để ý thấy ánh mắt Sachs ngay lập tức
chuyển sang chàng cảnh sát trẻ.
Vụ Kia…
Sachs
hỏi: “Có may mắn gì ở mối liên hệ với Maryland không?”
Chàng
cảnh sát trẻ đáp: “Hiện tại đang có ba cuộc điều tra cấp liên bang về tham
nhũng ở cảng Baltimore. Một cuộc liên quan đến khu vực thành phố New York,
nhưng chỉ là các bến tàu của Jersey. Và nó không dính dáng tới ma túy. Họ đang
điều tra về những khoản lại quả và những giấy tờ vận chuyển đường biển giả mạo.
Tôi đang chờ đợi tin tức trả lời từ Sở Cảnh sát Baltimore về những cuộc điều
tra cấp bang. Tôi không phát hiện được việc Creeley hay Sarkowski có tài sản gì
ở Maryland, cũng như không phát hiện được việc họ từng tới đó làm ăn. Nơi
Creeley vốn thường xuyên gặp gỡ khách hàng mà gần đó nhất là Pannsylvania. Còn
Sarkowski thì chẳng đi đâu cả. Ồ, và Jordan Kessler vẫn chưa gửi danh sách
khách hàng. Tôi đã để lại lời nhắn lần nữa, nhưng ông ta chưa gọi lại.”
Pulaski
tiếp tục: “Tôi phát hiện ra vài nhân viên của 118 sinh ra ở Maryland, tuy nhiên
bây giờ họ không có liên hệ với ai ở đó nữa. Tôi đã đối chiếu bảng tên tất cả
nhân viên đồn này với cơ sở dữ liệu thuế tài sản ở Maryland…”
“Hẵng
khoan”, Sachs nói. “Anh đã làm việc ấy à?”
“Như
thế là không nên ư?”
“Ừm,
Ron. Nên chứ. Ý nghĩ hay đấy.” Sachs chia sẻ nụ cười với Rhyme. Anh nhướn một
bên lông mày, tỏ ra khâm phục.
“Có lẽ.
Nhưng chẳng phát hiện ra điều gì.”
“Chà,
hãy tiếp tục tìm hiểu.”
“Chắc
chắn rồi.”
Sachs
lúc ấy bước tới chỗ Sellitto và hỏi: “Tôi có một câu hỏi. Anh biết Halston Jefferies không?”
“Phó Thanh tra ở 158?”
“Đúng. Ông ta sao vậy? Bỗng dưng nổi giận đùng đùng.”
Sellitto cười thành tiếng. “Phải, phải, ông ta là kẻ
thích nổi giận.”
“Vậy tôi không phải người duy nhất bị ông ta cư xử
như thế à?”
“Không. Quát tháo anh chẳng vì lí do nào cả. Anh sẽ
đương đầu ra sao?” Sellitto liếc nhìn Rhyme.
“Không”, nhà hình sự học vui vẻ đáp. “Đó sẽ là vụ của
cô ấy. Không phải vụ của tôi.”
Vẻ bực bội của Sachs không làm Rhyme bối rối. Sự nhỏ
nhen trong một số hoàn cảnh, có thể khiến người ta khá phấn chấn, Rhyme tự nhủ
thầm.
“Tôi cần một hồ sơ và tôi đến đó tìm. Ông ta cho rằng
tôi đáng lẽ phải xin phép ông ta trước.”
“Nhưng cô lại phải giữ bí mật với ông ta về chuyện
đang diễn ra ở 118.”
“Chính xác.”
“Chỉ là cung cách của ông ta thôi. Ông ta từng gặp một
số vấn đề. Vợ ông ta trước là người có vai vế trong xã hội.”
“Đó là từ cực kì hay”, Pulaski ngắt lời. “Người
có vai vế trong xã hội, cũng giống như người theo chủ nghĩa xã hội.
Chỉ có điều họ trái ngược nhau. Ở một khía cạnh nào đấy.”
Bị Sellitto chiếu cho ánh mắt lạnh nhạt, chàng cảnh
sát trẻ im bặt.
Viên thám tử tiếp tục: “Tôi nghe nói họ mất một khoản
đáng kể, Jefferies và vợ ông ta. Tôi muốn nói là một khoản tiền tấn. Một
khoản mà cô và tôi, chúng ta thậm chí không thể biết lên đến bao nhiêu con số. Một
chuyện làm ăn mà vợ ông ta quan tâm. Ông ta lúc ấy đang hi vọng chạy chức vụ,
tôi nghĩ là ở Albany. Nhưng anh không thể mơ mộng đến đó nếu không có tiền tấn.
Và vợ ông ta bỏ ông ta sau khi chuyện làm ăn đổ bể.”
Sachs đang gật đầu trước thông tin này thì điện thoại
của cô đổ chuông. Cô trả lời. “Đúng ạ, đúng là tôi… Ôi không. Ở đâu?… Mười phút
nữa tôi sẽ ở đó.”
Mặt tái nhợt và nghiêm trang, Sachs vừa vội vã đi ra
cửa vừa nói. “Có vấn đề, Nửa tiếng nữa em sẽ quay lại.”
“Sachs”, Rhyme gọi. Nhưng anh chỉ nghe thấy đáp lại
là tiếng cánh cửa trước đóng đánh sầm.
* * *
Chiếc Camaro tạt vào lề đường trên phố Bốn mươi tư
Tây, không xa quốc lộ khu vực Tây Manhattan.
Một người đàn ông to lớn mặc áo choàng và đội mũ
lông nheo mắt nhìn Sachs khi cô trèo ra khỏi xe. Cô không biết anh ta, anh ta
cũng không biết cô, nhưng tấm thẻ Sở Cảnh sát New York trên bảng đồng hồ cho thấy
rõ ràng rằng cô là người anh ta đang chờ đợi.
Tai và mũi người thanh niên đỏ ửng, từ hai lỗ mũi những
làn hơi cuồn cuộn tỏa ra. Anh ta giậm mạnh bàn chân để giữ cho máu lưu thông. “Ôi
cha, trời này lạnh thật. Tôi phát ngấy với mùa đông rồi. Chị là thám tử Sachs?”
“Vâng, anh là Coyle?”
Họ bắt tay nhau. Anh ta có cái bắt tay mạnh mẽ.
“Chuyện
là thế nào?”, Sachs hỏi.
“Đi
nào. Tôi sẽ cho chị xem.”
“Ở
đâu?”
“Chiếc
xe thùng. Bãi đỗ phía bên trên phố.
Trong
lúc họ bước đi, gấp gáp giữa giá rét, Sachs hỏi: “Anh ở đồn nào?” Khi gọi điện,
Coyle tự xưng là một cảnh sát.
Xe cộ
ồn ào. Anh ta không nghe thấy.
Sachs
nhắc lại câu hỏi: “Anh ở đồn nào? Nam Midtown à?’
Coyle
chớp mắt nhìn Sachs: “Vâng.” Rồi hỉ mũi.
“Tôi
từng ở đó một thời gian”, Sachs bảo Coyle.
“Hừm.”
Coyle không nói gì nữa. Anh ta dẫn Sachs đi xuyên một bãi đỗ xe rộng. Đến đầu đằng
xa, Coyle dừng lại, bên cạnh một chiếc Windstar, cửa sổ gắn kính tối, máy đang
nổ.
Anh
ta liếc nhìn xung quanh. Rồi mở cửa xe
* * *
Vừa
đi hỏi thăm khắp các căn hộ và cửa hiệu khu Greenwich Vilaage, gần chỗ ở của
Lucy, Kathryn Dance vừa suy nghĩ về mối quan hệ cộng sinh giữa khoa học giám định
ngôn ngữ hình thể và kho học giám định vật chứng.
Một
chuyên gia về ngôn ngữ hình thể cần có một con người, một nhân chứng, một đối
tượng – cũng giống như một chuyên gia giám định vật chứng cần có một bằng chứng.
Tuy nhiên, vụ án Thợ Đồng Hồ đặc biệt bởi sự vắng mặt đáng ngạc nhiên của cả
con người lẫn các manh mối vật chất.
Nó
khiến Dance nản lòng. Cô chưa bao giờ tham gia vào một cuộc điều tra giống như
thế này.
Xin lỗi,
ông, bà, xin chào, anh bạn trẻ, hôm nay cảnh sát đã có hoạt động ở gần đây,
ông, bà, anh, chị có nghe nói không ạ, tốt, tôi băn khoăn không biết ông, bà,
anh, chị có tình cờ nhìn thấy ai ở khu vực ấy không, bỏ đi một cách hấp tấp. Hay
ông, bà, anh, chị có nhìn thấy bất cứ điều gì đáng ngờ vực không, bất cứ điều
gì bất bình thường? Xin hãy xem bức ảnh này.
Nhưng
chẳng có gì cả.
Dance
thậm chí chẳng nhận ra căn bệnh mãn tính của các nhân chứng, cái tình trạng là
người ta rõ ràng biết được gì đó, nhưng cứ khăng khăng rằng họ không biết, vì
lo sợ cho bản thân hoặc cho gia đình. Không, sau bốn mươi phút lạnh cóng ngoài
phố, cô nhận ra vấn đề đơn giản là không có ai nhìn thấy bất cứ điều gì.
Xin lỗi,
thưa ông, vâng, đây là thẻ cảnh sát California, nhưng tôi đang làm việc với Sở
Cảnh sát New York, ông có thể gọi xác minh theo số điện thoại này, bây giờ, xin
hỏi liệu ông có nhìn thấy…
Lại một
con số không.
Dance
sửng sốt, thực tế là bàng hoàng, khi cô tiến đến gần một người đàn ông bước ra
từ một căn hộ. Cô chớp mắt và các ý nghĩ đông cứng lại trong lúc nhìn chằm chằm
vào anh ta – anh ta trông giống hệt người chồng đã qua đời của cô. Cô tự kiềm
chế và lại nói những câu tẻ ngắt kia. Tuy nhiên, anh ta cảm nhận được có điều
gì đó và cau mày, hỏi cô không sao chứ.
Chúng
ta có thể vi phạm các tiêu chuẩn nghề nghiệp tới mức nào? Dance tức giận nhủ thầm.
“Không sao.” Cô mỉm cười gượng gạo nói.
Cũng
giống như những người hàng xóm, nhà doanh nghiệp ấy chẳng nhìn thấy điều gì bất
bình thường và đi ngược lên bên trên phố. Sau khi nhìn lại anh ta hồi lâu,
Dance tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình.
Cô muốn
có một manh mối, muốn giúp đỡ để tóm cổ đối tượng này. Tất nhiên, cũng giống
như bất cứ cảnh sát nào, cô muốn đưa gã đàn ông nguy hiểm, bệnh hoạn ra khỏi đời
sống. Nhưng bên cạnh đó cô còn muốn dành thời gian phỏng vấn hắn sau khi hắn đã
bị tóm cổ rồi. Thợ Đồng Hồ khác tất cả những đối tượng cô từng đối đầu. Kathryn
Dance rất muốn tìm hiểu xem cái gì khiến hắn tích tắc – và tự bật cười vì sự lựa
chọn từ ngữ rất vô tình của mình.
Cô tiếp
tục dừng mọi người lại hỏi thăm thêm một khối phố nữa, nhưng không phát hiện ra
ai có thể giúp đỡ.
Cho tới
khi cô gặp người đàn ông đi mua hàng ấy.
Trên
vỉa hè cách căn hộ của Lucy một khối phố, Dance dừng một người đàn ông đang đẩy
chiếc xe chất đầy thực phẩm lại. Anh ta liếc nhìn bức ảnh chắp ghép thể hiện gương
mặt Thợ Đồng Hồ và hấp tấp nói: “Ồ, vâng, tôi nghĩ là tôi đã nhìn thấy một ai
đó trông giống như kẻ này…” Rồi anh ta ngập ngừng: “Nhưng tôi không chú ý lắm.”
Anh ta dợm bước đi.
Tuy
nhiên, Kathryn Dance ngay lập tức biết rằng anh ta đã nhìn thấy nhiều hơn thế.
Căn bệnh
mãn tính của các nhân chứng.
“Việc
này thực sự quan trọng.”
“Tất
cả những gì tôi nhìn thấy là một ai đó chạy ngược lên bên trên phố. Thế thôi.”
“Nghe
này, tôi nảy ra một ý kiến. Có cái gì mau hư hỏng ở kia không?” Dance bắt đầu
chỉ chiếc xe đẩy chứa thực phẩm.
Người
đàn ông lại ngập ngừng, cố gắng phỏng đoán ý đồ của cô. “Cũng không hẳn.”
“Nếu
chúng ta ngồi uống tách cà phê và tôi hỏi thêm anh vài câu thì sao? Anh không cảm
thấy phiền chứ?”
Dance
có thể nói là anh ta cảm thấy rất phiền, nhưng đúng lúc đó, một luồng gió mạnh
lạnh băng quất vào họ, và anh ta trông có vẻ không cảm thấy phiền được thoát khỏi
cái giá rét.
“Tôi
nghĩ thế cũng được. Nhưng tôi thực sự không thể nói với bà thêm điều gì.”
“Ồ,
chúng ta sẽ xem.”
* * *
Amelia
Sachs ngồi vào phía sau chiếc xe thùng.
Với sự
giúp đỡ của Coyle, cô đánh vật để dựng viên thám tử hưu trí Art Snyder ngồi lên
ghế sau chiếc xe. Ông ta ở trạng thái lơ mơ, lẩm bẩm những lời cô không thể
nghe được.
Khi
Coyle vừa mở cửa xe, Snyder nằm thẳng duỗn, đầu ngặt ra đằng sau, bất tỉnh, và
cô nghĩ – trong nỗi khiếp sợ – là ông ta đã tự tử. Ngay sau đó cô biết rằng đơn
giản ông ta say, tuy nhiên say bí tỉ. Cô nhẹ nhàng lay ông ta. “Art?” Ông ta mở
mắt, cau mày và không xác định được gì cả.
Lúc
này hai người cảnh sát đã dựng ông ta ngồi lên ghế.
“Không,
chỉ muốn ngủ thôi. Để tôi một mình. Tôi muốn ngủ.”
“Đây
là xe ông ấy?”
“Phải”,
Coyle trả lời.
“Chuyện
gì đã xảy ra? Làm sao ông ấy đến đây được?”
“Ông ấy
đã ở quán Harry ngoài phố. Họ không phục vụ ông ấy nữa, ông ấy say rồi mà, thế
là ông ấy lang thang ra bên ngoài. Ngay sau đó tôi vào mua ít thuốc lá. Tay
nhân viên quầy bar biết tôi là cảnh sát và nói với tôi về ông ấy. Tôi không muốn
ông ấy lái xe đi để tự giết mình hoặc giết người khác. Tôi tìm thấy ông ấy ở
đây. Danh thiếp của chị ở trong túi áo khoác ông ấy.”
Art Snyder chuếnh choáng cựa quậy. “Để tôi một mình.”
Mắt ông ta nhắm nghiền.
Sachs liếc nhìn Coyle. “Từ lúc này, tôi tiếp quản
ông ấy.”
“Chị chắc chắn chứ?”
“Vâng. Chỉ có điều, anh vẫy cho một chiếc taxi, bảo
nó tới đây nhé?”
“Được.”
Người cảnh sát trèo ra khỏi chiếc xe thùng và bước
đi. Sachs khom mình, chạm vào cánh tay viên thám tử. “Art?”
Ông ta mở mắt, rồi nheo lại khi nhận ra cô.
“Cô…”
“Art, chúng ta sẽ về nhà bác.”
“Để tôi một mình. Mặc xác tôi.”
Có một vết cắt trên trán Snyder và ống tay áo ông ta
rách vì bị ngã. Ông ta vừa nôn.
Ông ta quát: “Cô làm chưa đủ à? Cô làm cái đếch gì ấy
chưa đủ với tôi à?” Cặp mắt ông ta lồi ra. “Đi đi. Tôi muốn một mình. Để tôi một
mình!” Ông ta trượt xuống bằng đầu gối, cố gắng trườn tới ghế người lái. “Đi…
đi!”
Sachs kéo Snyder lại. Ông ta không phải bé nhỏ gì,
tuy nhiên rượu đã khiến ông ta yếu ớt. Ông ta cố gắng đứng dậy, nhưng bị ngã xuống
ghế.
“Bác uống khá đấy.” Sachs hất đầu chỉ cái chai một
panh[66] nằm trên sàn xe. Nó đã hết nhẵn.
[66] Pint: Đơn vị đo lường, tương đương 0,5l.
“Thế thì liên quan gì đến cô nào? Thế thì liên quan
đếch gì đến cô nào?”
“Chuyện gì đã xảy ra vậy?”, Sachs kiên trì hỏi.
“Cô
không hiểu à? Đó là cô. Cô.”
“Cháu?”
“Tại
sao tôi lại nghĩ rằng chuyện sẽ được giữ bí mật nhỉ? Chẳng có bí mật quái nào tại
cái sở đó cả. Tôi hỏi vài câu cho cô, bộ hồ sơ chết tiệt ấy ở đâu, người ta đã
làm gì với nó… tiếp theo, ông bạn tôi đợi đến đánh pool cùng, mà tôi bảo với cô
đấy? Ông ấy không xuất hiện. Và không trả lời điện thoại của tôi…” Ông ta lấy ống
tay áo lau miệng. “Rồi tôi nhận được một cú điện thoại, người này từng là cộng
sự của tôi trong ba năm, anh ta và tôi, với hai bà vợ, từng cùng dạo chơi trên
biển. Thử nghĩ xem… Tất cả chỉ vì tôi đã hỏi. Một cảnh sát về hưu đã hỏi… Đáng
lẽ tôi phải bảo cô tự hỏi mẹ nó đi, ngay cái phút cô bước chân qua ngưỡng cửa.”
“Art, cháu…”
“Ồ, yên tâm, thưa cô. Tôi không đả động đến tên cô
đâu. Không đả động đến bất cứ điều gì.” Snyder mò mẫm tìm cái chai. Ông ta nhận
ra nó đã cạn. Và lại ném nó xuống sàn xe.
“Nghe này, cháu biết một luật sư giỏi. Bác có thể…”
“Luật sư? Ông ta sẽ khuyên ngăn tôi điều gì? Tôi đã
hủy hoại cuộc đời tôi ra sao?”
Sachs liếc nhìn về phía cái chai. “Bác đã phạm sai lầm.
Ai mà chả phạm sai lầm.”
“Không phải cái tôi đang nói tới. Cái này là vì tôi
đã hủy hoại mọi thứ.”
“Ý
bác là gì, Art?”
“Vì
tôi đã làm cảnh sát. Tôi đã phí phạm mọi thứ. Tôi đã phí phạm cuộc đời mình.”
Sachs
cảm thấy một cơn ớn lạnh, lời của Snyder âm vang những tình cảm của chính cô. Ông
ta đang diễn đạt chính xác cái lí do khiến cô muốn rời khỏi lực lượng. Cô nói:
“Art, chúng ta về nhà bác nhé?”
“Tôi
đáng lẽ đã có thể làm hàng trăm việc khác. Em trai tôi là thợ ống nước. Em gái
tội học xong cao học và bây giờ làm việc tại một hãng quảng cáo. Nó làm quảng
cáo cho các đồ nữ trang. Nó nổi tiếng. Tôi đáng lẽ đã có thể làm nên cái gì đó.”
“Chẳng
qua bác đang cảm thấy…”
“Đừng”,
Snyder quát, chỉ ngón tay vào cô. “Cô không biết đủ về tôi để nói với tôi theo
kiểu đó. Cô không có quyền.”
Sachs
im bặt. Đúng. Cô không có quyền.
“Dù xảy
ra chuyện gì vì cái việc điều tra của cô, thì tôi cũng chẳng ra cái đếch gì. Tốt
hay xấu, tôi đều chẳng ra cái đếch gì.”
Con
tim Sachs hoảng sợ khi cô chứng kiến cơn giận dữ và nỗi đau đớn của Snyder, cô
quàng tay ôm ông ta. “Art, nghe này…”
“Bỏ
tay ra khỏi người tôi.” Snyder dựa đầu vào cửa kính xe.
Lát
sau, Coyle đi bộ quay lại, chỉ đường cho một chiếc Yellow Cab. Coyle cùng Sachs
giúp đỡ Snyder sang chiếc taxi. Cô đưa người lái xe địa chỉ của Snyder, sau đấy
vét tất cả tiền trong ví ông ta, đưa người lái xe gần năm mươi đô la và chìa
khóa xe của viên thám tử. “Tôi sẽ gọi điện cho vợ ông ấy, để bà ấy biết là ông ấy
đang về”, cô bảo người lái xe. Chiếc taxi từ từ hòa vào dòng xe cộ dày đặc khu
Midtown.
“Cảm
ơn anh”, Sachs bảo Coyle, anh ta gật đầu và bước đi. Cô cảm thấy biết ơn anh ta
vì đã không đặt bất cứ câu hỏi nào.
Sau
khi anh ta đi rồi, Sachs thò tay vào túi áo khoác rút ra khẩu súng ngắn của
Snyder mà cô lấy khỏi bao súng đeo ở thắt lưng lúc cô quàng tay ôm ông ta. Có
thể ông ta còn có một khẩu khác tại nhà, nhưng ít nhất ông ta sẽ không sử dụng
khẩu súng này để tự sát. Cô tháo và giữ lấy đạn, giấu khẩu súng bên dưới ghế
hành khách phía trước. Rồi cô khóa cửa xe, trở về xe của mình.
Ngón
tay trỏ của Sachs chọc vào ngón tay cái. Da cô ngứa ngáy. Cô nổi cơn giận dữ
khi nhận ra rằng bên cạnh việc đánh cắp và bóp méo chứng cứ, có một tội ác lớn
hơn mà cha cô – và tất cả các cảnh sát không trung thực – đã phạm phải. Cái nỗ
lực ngây thơ của cô nhằm đạt được sự thật trở thành một cái gì đó độc ác và
nguy hiểm, thậm chí ảnh hưởng đến những người vô tội. Cuộc đời nghỉ hưu mà
Snyder hằng chờ đợi suốt nhiều năm đang tan tành thành mây khói. Vì bất kể là
chuyện gì đã xảy ra ở đồn cảnh sát khu vực 118.
Cũng
giống như gia đình những cảnh sát bị kết tội thuộc Câu lạc bộ Đại lộ Mười sáu,
cuộc đời họ vĩnh viễn thay đổi bởi những việc cha cô và các chiến hữu của ông
đã thực hiện. Những người vợ và những đứa trẻ bị bắt buộc phải giao nhà cho
ngân hàng, bỏ học để đi làm, bị tẩy chay, bị ô uế vĩnh viễn bởi vụ bê bối.
Sachs
vẫn còn thời gian để từ bỏ – rời khỏi lực lượng, và từ bỏ. Vào công ti Argyle,
thoát khỏi những thứ vô nghĩa và những thủ đoạn, tạo một cuộc đời mới cho chính
bản thân cô. Cô vẫn còn thời gian. Nhưng đối với Art Snyder, đã quá muộn.
Tại
sao, cha? Tại sao cha lại làm thế?
Amelia
Sachs sẽ không bao giờ biết được.
Thời
gian qua đi và mang theo mọi cơ hội cho cô để có thể tìm ra lời đáp trước câu hỏi
này.
Tất cả
những việc cô có thể làm là phỏng đoán, một việc chẳng giải quyết vấn đề gì,
ngoại trừ để lại trong tâm hồn vết thương dường như sẽ không bao giờ lành.
Quay
ngược kim đồng hồ là câu trả lời duy nhất, và như thế, tất nhiên, hoàn toàn chẳng
phải câu trả lời.
Tony
Parsons ngồi đối diện Kathryn Dance trong quán cà phê, bên cạnh họ là xe thực
phẩm của anh ta.
Anh
ta nheo mắt và lắc đầu. “Tôi đã cố gắng nhớ, tuy nhiên, thực sự tôi không thể
nghĩ thêm điều gì.” Anh ta nhe răng cười. “Theo tôi bà đã lãng phí tiền đấy.”
Anh ta cầm tách cà phê lên.
“Chà,
chúng ta sẽ thử.” Dance biết anh ta vẫn còn thông tin. Cô phỏng đoán rằng lúc
trước anh ta nói mà chưa kịp suy nghĩ – ôi, những nhân viên thẩm vấn mới yêu
quý các đối tượng hấp tấp làm sao – và rồi nhận ra gã đàn ông anh ta nhìn thấy
có thể là một kẻ giết người, thậm chí có thể là kẻ thực hiện hai vụ giết người
kinh khủng ở cầu tàu và con hẻm đêm hôm qua. Dance biết những người vui vẻ cung
cấp lời khai về chuyện hàng xóm lừa đảo và về đám thiếu niên ăn cắp đồ trong cửa
hiệu vốn vẫn trở nên mắc thói hay quên khi tội ác chuyển thành nghiêm trọng.
Có thể
anh ta sẽ rắn như sành, Dance tự nhủ, nhưng điều đó không khiến cô bối rối. Cô
mê các thách thức (niềm phấn chấn mà cô thường xuyên cảm thấy, mỗi khi một đối
tượng rốt cuộc chịu thú nhận, luôn luôn bị giảm đi bởi ý nghĩ rằng chữ kí trên
bản lời khai của hắn đánh dấu sự kết thúc của một trận chiến bằng lời nữa).
Cô
rót sữa vào tách cà phê của mình và thèm thuồng nhìn miếng bánh táo trong hộp
bày mẫu ở quầy hàng. Bốn trăm năm mươi ca-lo. Ôi chà. Cô quay lại với Parsons.
Anh
ta đổ thêm đường vào cà phê và khuấy lên. “Bà biết đấy, nếu chúng ta cứ nói
chuyện một lát nữa, tôi sẽ có thể nhớ thêm điều gì.”
“Ý kiến
rất hay.”
Parson
gật đầu. “Nào, thế thì, chúng ta hãy tâm tình thật thân mật.”
Và mỉm
cười với Dance.

