Những năm ảo mộng - Chương 5 phần 2
Một buổi chiều mưa tháng chạp, khi bóng tối đã ập xuống
thành phố, Duncan ngẩng đầu lên khỏi kính hiển vi và thấy giáo sư Lee đang quan
sát mình.
- Giáo sư bỏ lỗi cho, tôi không nghe tiếng.
- Anh khỏi xin lỗi. Tôi chỉ đến mời anh ăn tối thôi.
- Ăn tối! - Duncan nhắc lại, ngạc nhiên.
- Vâng, tối nay, ở nhà tôi, đúng tám giờ (đôi mắt sáng quắc
của ông cụ lấp lánh). Hình như dạo này anh cũng ít đi dự các buổi tiếp tân. Ít
ra cũng không thấy anh ở nhà Overton!
- Đúng thế, thưa giáo sư.
Duncan nhìn xuống.
- Thật lạ đời cho một đao phủ chuyên hành hạ trái tim phụ
nữ đấy, Stirling (Lee bật cười khanh khách). Này, người ta tạo cho anh một danh
tiếng vang dội trên báo nhỉ!
Mặt Duncan đỏ gay lên.
- Thế nào! (Giáo sư Lee hơi xoa tay) Tối nay, ở nhà tôi
nhé, sẽ không có phụ nữ đâu, chỉ có cánh đàn ông thôi. Tôi muốn giới thiệu anh
với những nhân vật trong Hội đồng lãnh đạo viện: Bác sĩ Inglis mà anh đã từng
biết, chánh án Lenzie, giáo sư Brandt, bác sĩ Gibbson và đương nhiên, cả tôi
nữa.
Không thể nào không hiểu ra ý nghĩa của lời mời này, nhất
là với vẻ thân mật của chủ nhân khi nó được đưa ra.
- Thưa giáo sư, ông thật tốt! Dĩ nhiên là tôi rất mê rồi!
Tôi sẽ đến đúng giờ.
- Tốt lắm (ông cụ gật gật đầu). Tôi báo trước là anh sẽ
phải đối đầu với sự tò mò khá ồn ào về anh, phải trả lời về một vài lời đồn đại
mới đây về anh đấy. Cố gắng tìm ra cách chống chế khả dĩ hợp lí nhé!
- Thưa giáo sư, tôi thích nói thật.
Giáo sư Lee bật cười.
- À này, tôi mới đọc bản tham luận của anh tối qua. Khá
lắm.
Sau khi ông ra về, Duncan ngồi lặng ở bàn, lòng tràn ngập
reo vui. Anh gần như không nghe tiếng cửa mở khi Anna, mặc áo choàng, bước
vào.
- Anh quên là tối nay chúng ta đi Nhạc viện à?
- Chị phải đi một mình thôi, Anna ạ, - anh bình thản nói, -
tôi bận.
Hơi cau mày, chị ghé ngồi lên một góc bàn.
- Duncan này, - chị bắt đầu nói với vẻ nghiêm trang đặc
biệt (và trong mắt chị lại ánh lên tia sáng mà dạo này thường lóe lên khi chị
nói với anh). - Tôi biết chí bền gan táo tợn của anh, nét cứng đầu Tô Cách Lan
của anh. Nhưng, anh bạn ạ, khi tôi khuyên anh nộp đơn ứng cử, tôi không ý định
muốn thấy anh chết vì làm việc quá sức. Chết rồi thì anh chẳng còn có ích gì
nữa.
- Chị khỏi lo, tôi sẽ sống lâu hơn ai hết.
- Má của anh đã hóp lại và đúng vậy, tóc anh bắt đầu bạc.
Anh cũng không chơi thể thao nhiều. Dù anh có không chịu đi Nhạc viện nghe nhạc
nữa thì anh cũng phải chơi một môn thể thao nào đó như côn cầu, quần vợt, gì
cũng được.
Giọng chị dịu đi, khác lạ, tràn ngập tình mẫu tử khác
thường ngày. Anh nhìn chị, ngạc nhiên. Có chuyện gì xảy ra nơi chị?
- Chơi côn cầu, quần vợt ư? Trời đất! Không đâu Anna, tôi
đang có trong đầu biết bao nhiêu chuyện quan trọng hơn (anh liếc xéo chị) như
đi ăn cơm tối ở nhà giáo sư Lee, chẳng hạn!
- Sao?
Chị thẳng người lên.
- Mới cách đây chưa đầy năm phút, giáo sư đứng đúng vào chỗ
chị vào lúc này (anh ngừng một lát). Ông đã rất thân thiện. Đầu tiên ông hơi
pha trò về cuộc quảng cáo trên báo mà ngài bạn quý mến đã dành cho chúng ta,
rồi sau đó ông mời tôi đến ăn cơm tối với các thành viên trong Hội đồng.
Chưa bao giờ anh thấy Anna rối lên như thế. Giọng chị run
lên:
- Chẳng lẽ anh không thấy điều này có ý nghĩa gì à? (xúc
động đã làm chị gần như nói không ra đầu ra đuôi gì cả). Thật rõ như ban ngày!
Lee muốn anh kế vị ông ấy. Tôi vẫn biết là ông ấy rất thích anh. Nếu anh khéo
léo lật ngửa bài (giọng chị trở nên cao dần), chắc chắn họ sẽ tìm cách khơi mào
cho anh. Hãy kích thích óc tò mò của họ tới mức tối đa. Khi tới giờ uống rượu
mạnh thì hãy chơi trò giả vờ ngập ngừng rồi đưa những bức thư Overton viết cho
Damson ra.
Anh buồn rầu gật gật đầu:
- Đó là dịp ta hằng
mong mỏi.
Chị hân hoan reo lên:
- Tốt lắm! Phải chi tôi thấy được mặt họ vào lúc ấy. Thật là một quả bom! Coi như anh đã trúng cử.
- Chà, chị hãy bình
tĩnh lại nào, Anna. - Anh vội vàng nói. - Tôi chưa đến lúc đó!
Nhưng anh không thể
làm chị im. Chị tiếp tục nói chuyện đầy phấn khích, đi đi lại lại trong phòng
thí nghiệm.
Cuối cùng, anh mới
tạm biệt được chị và quay lại công việc của mình.
Khi Duncan về tới
nhà, anh vẫn còn nửa giờ trước khi mặc quần áo và trở ra ngoài trong cơn mưa
không dứt. Anh ngồi dựa ngửa người trong chiếc ghế bành và dùng một ít rượu cho
thư giãn. Anh cố lấy tờ báo buổi chiều và lật từng trang với vẻ thờ ơ. Thình
lình, trong phần tin tức cuối cùng, có một đoạn đập vào mắt anh:
“Thiên tai ở Strath Linton. Chiều nay, những con nước dâng
lên do những trận mưa mới đây đã gây nên một tai nạn đáng tiếc ở đập nước mới
được xây bởi Công ty điện lực khu vực Đông. Sức ép của dòng sông đã khiến năm
người bị chết và bảy bị thương. Trong khi tháo gỡ các người bị nạn, một công
cuộc kéo dài nhiều giờ, bác sĩ Murdoch, đến giúp tay bác sĩ Bailey, bác sĩ của
công ty, đã bị một tảng bê-tông rơi đè trúng. Người ta cho rằng các vết thương
rất nghiêm trọng.”
Duncan chồm dậy. Anh quên đi bữa cơm tối nay ở nhà Lee. Trí
nhớ của anh đã xóa đi tất cả những gì không liên quan đến tai nạn của bác sĩ
Murdoch. Anh liếc nhìn đồng hồ. Xe của anh đang để trong một ga-ra bên cạnh,
nếu đi nhanh, anh có thể đến Linton vào khoảng chín giờ tối.
Màn mưa đã dày thêm. Trên đường đi, xe làm tóe lên hai bên
hai cột nước cao. Bao suốt chung quanh anh, trên khắp làng mạc, qua ánh đèn pha
biến dạng, anh thấy những cảnh tàn phá do mưa lũ gây ra. Khắp nơi toàn là những
cánh đồng ngập lụt, những hố nước tràn đầy, những con sông dâng cao và chảy
xiết.
Vận tốc nhanh đã phần nào làm nhẹ bớt sự căng thẳng của
Duncan. Anh tiến dần về đích. Bỗng nhiên đèn xe anh chợt rọi vào một tấm bảng
chắn đường màu vàng hiện ra trong đêm tối đầy tiếng động và một người đàn ông
đang điên cuồng khoa tay. Anh dừng lại đúng lúc như một phép lạ.
Người gác đường bước lại xe. Ông ta mặc chiếc áo đi mưa ướt
sũng nước…
- Anh điên hay sao mà phóng nhanh như vậy vào một đêm tối
như thế này? Quay lại đi. Không thể đi xa hơn nữa!
- Tại sao thế? - Duncan gào lên về phía ánh đèn pin của
người gác đường.
- Đường đi Strath Linton bị ngập lụt rồi. Đập nước có thể
sập bất cứ lúc nào.
Duncan không phản đối, nhưng âm thầm mở máy rất nhanh, xe
chồm lên cán qua những thanh gỗ đang sụp xuống của bảng cản đường. Con đường,
dù phần lớn bị ngập nước nhưng vẫn còn đi được. Chợt có linh tính, Duncan bật
nút radio. Ngay tức khắc, anh nghe được những tin tức anh đang tìm.
- “Nguy cơ đang đe dọa Strath Linton trầm trọng hơn như
người ta tưởng. Thoạt đầu, giọng lãnh đạm của người đọc tin vang lên, không có
gì cho phép hi vọng là mưa sẽ ngừng rơi, vết nứt trong đập nước ở Strath Linton
đã có vẻ to ra. Những toán cấp cứu đã có mặt ở hiện trường. Mặc dù tình thế đã
được phòng bị kĩ nhưng theo một bản thông báo được ông Overton và các nhà chức
trách khác đưa ra thì mọi cuộc lưu thông đã bị đình chỉ trong các vùng lân cận
và để phòng bị, nhân dân trong thung lũng đã được yêu cầu rời khỏi nhà ngay lập
tức.”
Giọng nói trở nên nghiêm trang hơn:
“Số người chết đáng tiếc hiện nay đã lên tới mười lăm. Bác
sĩ Murdoch ở Strath Linton, người đã bị một khối bê-tông rơi trúng trong khi
chạy đi cấp cứu một người bị tai nạn, có vẻ đã bị chấn thương nặng hơn như đã
thông báo trước đây. Người ta đang e ngại cho tính mạng ông.”
Duncan đạp lút ga. Chiếc xe chồm lên. Đi thêm mười cây số
nữa, Duncan chìm vào phong cảnh quen thuộc. Suốt dọc đường, Duncan nhận ra xe
bò, xe hơi chất đầy đồ đạc và va li. Thêm năm cây số nữa, anh đã vào tới
Linton. Anh dừng xe ngay trước cửa nhà bác sĩ Murdoch và chạy bổ vào. Mưa quất
vào anh như một bức tường chắn. Đường phố vắng tanh.
Chính Relta ra mở cửa cho anh, người mặc áo khoác, đầu đội
nón.
- Relta, bác sĩ đâu rồi?
Cô gái ngước bộ mặt hoảng hốt, lem luốc nước mắt nhìn
anh:
- Họ đang giữ ông ở trên nhà máy ấy, bác sĩ Stirling
ạ.
- Thế còn cô Jeanne?
- Thưa, cô cũng ở trên ấy. (Cô hầu gái òa khóc) Mọi người
đều đi cả rồi và em cũng đi đây.
Cô ta chạy vội ra
đường.
Bên ngoài, trong đêm
tối của cơn mê hoảng, Duncan không thấy một ai cho đến khi một bóng dáng lẻ loi
hiện ra ở góc phố. Duncan kêu lên nhẹ nhõm khi nhận ra người quen:
- Anh Mac Kebre!
- Bác sĩ Stirling!
- Chao ôi! Gặp anh tôi mừng quá thể, anh bạn thân mến ạ!
(Duncan nắm chặt lấy cánh tay anh ta) Tôi cần lên nhà máy.
- Không được đâu, - Mac Kebre dứt khoát trả lời, - đường
không đi được nữa.
- Phải. Coi kìa, anh không hiểu gì sao? Bác sĩ Murdoch đang
ở trên ấy. Tôi phải tới với ông ấy. Tôi phải tới.
- Thôi được, - anh ta bảo, - anh không thể nào tới đó bằng
con đường thường ngày đâu. Nhưng may ra có thể gặp may nếu tôi đưa anh đi theo
con đường vòng.
oOo
Họ leo vội lên chiếc xe và Duncan mở máy. Mac Kebre chỉ cho
anh một lối đi xa lạ, ngoằn ngoèo và lởm chởm đá, lượn bên kia sườn bên kia của
ngọn đồi. Khi họ tới được nửa đường thì xe không còn lối để tiến lên nữa. Không
một lời nào, Mac Kebre nhảy xuống xe và đi dẫn trước Duncan trên con đường mòn
chật hẹp.
Họ chống trả với những cây thông, những trái thông đẫm nước
và những đường nứt đầy nước. Họ ngã vào những hố ngập nước và bùn. Họ bám vào
những tảng đá trơn trợt để tiếp tục leo lên. Tay của Duncan rướm máu, người mệt
đứt hơi, khi cuối cùng họ trèo được lên tới đỉnh. Tìm một lúc trong bóng tối,
Duncan mới nhận ra hồ nước. Họ đã đến được bên bờ của nó sau khi đi vòng qua
vùng nguy hiểm.
- Thuyền chắc chắn phải neo gần đây, - Mac Kebre gào lên,
tay khum quanh miệng như một chiếc loa để át tiếng gầm thét của sóng
đánh.
Quả thật, cách đấy một trăm thước, họ tìm ra chiếc thuyền
câu nhỏ bé, dập dềnh theo nhịp sóng đánh. Mac Kebre tháo neo và hai người đàn
ông vội chụp lấy mỗi người một mái chèo.
Duncan chèo mạnh vào nước. Anh chống lại những đợt sóng
mạnh vào mặt, đã làm dịu bớt sự căng thẳng của mối lo canh cánh bên anh.
Họ đã chèo rất lâu, bỗng Mac Kebre lo lắng nghiêng mình
trên mái chèo:
- Anh có nghe thấy gì không? - Anh ta hỏi.
Át cả tiếng sóng, Duncan nghe được tiếng gầm vang của con
thác.
- Đập nước đấy, -vMac Kebre nghiêm trọng báo. - Cầu trời
phù hộ cho chúng ta khỏi mắc vào dòng cuốn của nó!
Quay mũi thuyền ngược lại chiều gió, họ tiếp tục chèo mạnh.
Tiếng gầm gào rõ dần bên tai họ. Nhưng thình lình, đúng vào lúc họ gần kiệt sức
thì con thuyền mắc vào bờ, lẫn trong bóng đêm. Mac Kebre nhảy lên bờ và gò đôi
vai lực lưỡng của mình kéo thuyền lên.
Xa xa, trên bán đảo bao quanh cái vịnh nhỏ, họ nhận ra ánh
đèn. Với Mac Kebre bên cạnh, Duncan đi vội lại phía chúng. Trên cao nguyên, bên
cạnh nhà máy, nổi rõ lên nhờ vào ánh sáng đỏ kè tù mù của một hàng đèn dầu,
Duncan đảo mắt nhìn một cảnh tượng kinh người.
Trước cái nền trần trụi của nhà máy đúc nhôm, một đám công
nhân và người làng, bất động và im lặng như những bóng ma. Và kia, cách đấy vài
thước là đập nước, một cung bằng bê-tông với những đường cong thanh
thoát.
Qua những ngăn đập được mở toang, một thác nước sôi sục
cuộn lên như bốc khói trong bóng tối của thung lũng. Từ đỉnh, một dòng thác lũ
cao hai mươi thước đổ xuống thành những luồng xoáy hung hãn.
Nhưng kinh khủng nhất là vết nứt rùng rợn trong bức tường
màu xám của đập nước, cái chỗ hở rộng qua đó nước phun ra với một sức mạnh quỷ
quái, lôi giật theo nó những mảnh xi măng mỗi lúc một nhiều.
Duncan nóng lòng đang chạy vội tới gặp bác sĩ Murdoch, chợt
một sự rúng động chung làm xôn xao những nhóm thợ. Duncan ngoảnh nhìn đúng lúc
kịp thấy tai họa kết cục.
Trước đôi mắt hãi hùng của anh, vết nứt trong mảng bê-tông
tóe rộng, như bị banh ra bởi những bàn tay vô hình của một người khổng lồ nào đó.
Những tảng xi-măng bắn tung lên cao như những viên đạn to bắn ra từ những nòng
đại bác cực mạnh. Ban đầu đập nước nhẹ lắc lư, sau đó nó sụp xuống. Như một món
đồ chơi bằng giấy, toàn bộ cấu trúc đó chao đảo, đổ xiêu sang một bên và cuối
cùng ụp xuống vực xoáy; con thác dịu hẳn lại bởi mực nước đầy trong hồ được
giải thoát.
- Ôi trời ơi! - Mac Kebre thở ra, - cứ như là tận thế
ấy.
Trong một thoáng, Duncan đứng lặng người, rồi vụt xô mạnh
đám đông bao quanh anh, băng mình về hướng nhà máy.
Đằng sau những bức màn che các căn phòng trong khu vực ban
quản lí, anh thấy thấp thoáng bóng người và ánh đèn. Tay để trên núm vặn, anh
rùng mình, nhưng rồi nghĩ đến thái độ mà bác sĩ Murdoch sẽ có nếu là anh, anh
ngẩng cao đầu, đẩy cửa bước vào.
Trong căn phòng đầu, tất cả những kẻ tai to mặt lớn của
công ty đều có mặt: Scott, mục sư khả kính Simpson, luật sư Leggat, tất cả
những kẻ thù xa xưa của anh trong Hội đồng thành phố Levenford và đằng sau một
chiếc bàn là Joe “người lương thiện”. Khi Duncan bước vào, lão ta đần độn ngẩng
đầu lên. Một thoáng nhìn xảy ra giữa hai người đàn ông đủ để Duncan nhận ra sự
hổ thẹn và thất bại trong đôi mắt thua cuộc. Và anh cũng đọc được ở đấy nỗi
kinh hoàng tồi bại của một tên cờ bạc đã đùa cợt với bao nhiêu sinh mạng của
con người.
Duncan sang phòng thứ hai. Vị thầy thuốc già của Strath
Linton đang ở đấy.
oOo
Bác sĩ Murdoch nằm bất động, người phủ một chiếc chăn thô
màu nâu, trên một chiếc đệm đặt giữa phòng. Ở đầu chiếc giường tạm bợ ấy,
Duncan thấy Jeanne, mặt tái xanh, căng thẳng, hốc hác, không một giọt nước mắt.
Phía bên kia là một người đàn ông khá trẻ mặc complet sậm màu. Duncan đoán là
bác sĩ Bailey, bác sĩ của công ty.
Duncan rón rén bước tới. Sắc mặt vị bác sĩ già bình thường
đỏ au, giờ đây trắng bệch như tàu lá. Sự bất động của ông trong cơn hôn mê nom
thật đáng sợ. Kê dưới cổ ông là một túi nhỏ đựng cát. Khi Duncan hiểu ra đó là
cát, anh quay sang bác sĩ Bailey, nhỏ giọng hỏi:
- Tôi là bác sĩ Stirling ở Edimbourg. Có phải... có phải là
cột sống không?
Bailey, vẻ mặt đăm chiêu, phác một cử chỉ bắt buộc công
nhận.
- Gạch rơi xuống lưng ông đã làm gãy xương cột sống. Hông
của ông cũng bị trặc. Có nhiều xương sườn bị gãy. Người ta có thể nói hầu như
tất cả các xương đều bị chấn thương. Tôi nghĩ cũng có thể có xuất huyết nội.
- Anh đã làm gì rồi?
- Tất cả những gì tôi có thể làm được (Anh ta hơi có vẻ giữ
thế thủ). Tôi đã ủ nước nóng cho ông và cho ông an thần. Không thể di chuyển
ông được vì tủy sống sẽ tuột ra. - Anh ta ấp úng. - Còn làm gì khác được nữa?
Ông ấy đang chết dở.
Duncan choáng người khi thấy bác sĩ Murdoch chợt mở mắt.
Một thoáng tinh nghịch ngời lên và ông cố thì thầm:
- Thôi khỏi bắt Bailey chịu đựng tính nết khó chịu của anh.
Anh ta có lý đấy. Tôi đang chết dở
đây.
- Bác đừng nói thế.
- Người hấp hối có quyền nói theo ý
mình.
Jeanne bật lên một tiếng nấc xé ruột.
Cô quay mặt đi.
- Jsss, Jsss, con gái ba. Ba đã
không thấy con. Chắc tại phòng tối. Đưa tay cho ba nào, con gái, và đừng khóc
nữa.
Duncan nghiêng mình ra trước.
- Trời ơi! Bác không có quyền buông xuôi như thế! Jeanne,
bỏ tay ba em ra, bỏ ra, anh bảo em bỏ ra và hãy để anh với ông ấy một
mình.
Jeanne đứng dậy và lảo đảo rời khỏi phòng.
Ngay lập tức, Duncan quỳ xuống thế chỗ cô vừa rời. Giọng
anh khàn đi:
- Bác Murdoch! Bác sao thế! Thế ra về già bác y như một bà
già yếu đuối à? Bác có nghe cháu không?
- Hãy mặc tôi, con trai ạ, - bác sĩ Murdoch yếu ớt nói thều
thào.
- Cháu không bao giờ chịu mặc bác! Trời đất, bác thử gượng
lại xem nào.
Anh nhanh chóng sờ nhẹ dọc theo cột sống ông cụ. Than ôi!
Chẩn đoán của Bailey đã đúng.
Anh khám lại lần thứ hai những đốt xương sống bị gãy ở đáy
sọ và, nhanh như chớp, anh ước lượng những hi vọng mong manh của sự sống còn
đang tồn tại. Dù không có những nhận xét của bác sĩ Bailey đi nữa, anh vẫn biết
nguy cơ gì sẽ xảy ra khi đổi tư thế cho bác sĩ Murdoch. Chỉ cần một động tác
vụng về thôi là đủ để tủy sống thoát ra khỏi ống tủy, và khi đó người bác sĩ
già chết ngay lập tức.
Phải hành động ngay tức khắc, tại đây, trong căn phòng bằng
gỗ này, không có sự giúp tay của các cô y tá thạo việc cùng những điều kiện
thuận lợi của một phòng mổ tân kì. Ít ra lần này chỉ có đơn thuần sức mạnh của
con người, không thể nhờ vào sức mạnh của kĩ thuật.
Duncan đứng dậy. Anh đã quyết định xong. Những hoài bão xưa
kia của anh lại trở về trong trí nhớ. Anh đã tìm lại được niềm tin, tài trị
lành bệnh thiên phú. Anh hình dung ra mình, cúi trên người vị thầy thuốc già,
nhẹ nhàng sắp xếp lại những đốt xương gãy vào đúng chỗ, giải tỏa những dây thần
kinh bị lạc chỗ khỏi bị hành hạ, sửa lại xương và lôi chúng ra, đẩy xa sức ép
giết người của chúng khỏi những trung tâm sinh tồn khu trú tại tủy sống. Anh
quay nhanh sang Bailey:
- Ở đây chúng ta có thuốc gây mê không? Nếu có tôi nhờ anh
đánh thuốc mê.
Anh cúi xuống:
- Bác Murdoch, cháu quyết ăn thua đủ đây.
Anh ngừng một giây rồi nói thêm thẳng thừng, thành
thật:
- Bác có định giúp cháu trong cuộc chiến đấu này không? Hay là bác bỏ rơi cháu?
Một nét cười thoáng qua trên khuôn mặt
già nua rồi Duncan nghe thấy tiếng thì thào:
- Tôi vẫn bảo là anh có tật giết
người. Anh sẽ nhớ lời ấy… khi tôi không tỉnh lại… nhớ là tôi nói có lý.
*

