13 vụ án - Chương 01
1
CÂU LẠC BỘ NGÀY THỨ BA
“Chuyện lạ.”
Raymond West ngồi phì phà một hơi thuốc,
mồm lẩm bẩm lần nữa có vẻ đắc ý:
“Chuyện lạ thật.”
[Chúc bạn
đọc sách vui vẻ tại www.gacsach.com/ -
gác nhỏ cho người yêu sách.]
Anh ta nhìn quanh
khoái chí. Bên trong văn phòng cũ kỹ, trần nhà gác đà ngang bằng gỗ mun, đồ đạc
bày biện trông đẹp mắt với những món đồ cổ thích hợp khung cảnh của ngôi nhà xưa.
Raymond West nhìn thích thú. Nghề của anh
ta là viết văn.
Mỗi khi đến nhà bà dì
Jane, anh ta đều cảm thấy hài lòng cách bố trí ngôi nhà, nó hợp với tính cách
của bà. Anh ta nhìn qua nơi bà đang ngồi trên chiếc ghế bành bên bếp sưởi. Marple
mặc chiếc áo dài đen thêu kim tuyến, may bó sát người. Tay đeo găng kết bằng
sợi đăng ten đen, đội mũ đăng ten đen che mái tóc bạc bồng bềnh. Bàn tay đưa
những mũi que đan thoăn thoắt một
sợi len trắng mịn, xốp. Đôi mắt bà xanh nhạt, cái nhìn dịu dàng âu yếm hướng về
người cháu trai và đám bạn bè ngồi quanh. Trước mắt là Raymond vẻ mặt yêu đời
tự tin; cô nàng Joyce Lemprière - một nghệ sĩ, mái tóc đen cắt ngắn, đôi mắt
màu hạt dẻ; rồi qua tới người đàn ông thanh lịch, ngài Henry Clithering. Nhìn
lại còn hai ông khách nữa, tiến sĩ Pender, ngài mục sư già trong xóm đạo; ông luật sư Pentherick, người nhỏ thó,
gương mặt nhăn nhúm đeo kính, mắt nhìn lờ đờ. Marple để ý nhìn qua một lượt rồi
quay lại với những que kim đan trên tay, một nụ cười dịu dàng vừa thoáng hiện
trên môi bà.
Ông luật sư Petherick
có tật thường húng hắng ho trước khi lên tiếng.
“Raymond, cậu nói
sao? Chuyện lạ ư? Chà... Thế là thế nào?”
“Chẳng thế nào cả.” Nàng
Joyce Lemprière nói xen vô. “Raymond thích đánh tiếng thế thôi, anh ấy thì lúc
nào chả vậy.”
Raymond West nhìn qua
như muốn trách móc, cô ta thì ngả người ra sau cười ngất.
“Anh ta muốn đánh lừa
kẻ khác, phải vậy không bà Marple?” Nàng hỏi vặn lại. “Bà thì phải biết rõ điều
đó.”
Bà Marple nhếch mép
cười nhìn lại, không cho biết ý kiến.
“Cuộc sống là cả một
điều lạ lùng khó hiểu.” Ngài mục sư mỉa mai.
Raymond vội quăng
điếu thuốc và ngồi ngay người lại.
“Nói vậy mà không
phải vậy, tôi không thích chuyện triết lý viển vông.” Anh ta nói. “Tôi muốn
nhắc những chuyện bình thường, chuyện không ai có thể nghĩ ra được.”
“Tôi biết mấy chuyện
đó.” Bà Marple nói. “Cụ thể như trường hợp bà Carruthers mới vừa sáng hôm qua
đây. Bà ra cửa hàng Elliot’s mua hai lạng tôm loại ngon. Ra về bà ghé vô hai
cửa hàng nữa, lúc về tới nhà kiểm lại không thấy món tôm đâu. Trở lại nơi hai
cửa hàng tìm thì không thấy. Tôi thấy việc này mới kỳ lạ thật.”
“Chuyện nói nghe khó
tin.” Ngài Henry Clithering
nghiêm giọng nói.
“Thiệt ra có nhiều cách lý giải việc này.”
Marple lên tiếng, hai gò má đỏ ửng lên vì thích thú. “Ví dụ như, lúc đó có một
người lạ...”
“Thưa dì,” Raymond West vui miệng nói,
“tôi không muốn nghe chuyện ở làng quê. Tôi sực nhớ những vụ án và những kẻ bỏ
đi mất tích... Mấy chuyện này thì ngài Henry có thể ngồi kể hàng giờ chưa hết.”
“Tôi không bao giờ nói chuyện mua sắm,”
ngài Henry rụt rè nói. “Không, tôi chẳng khi nào nói tới việc mua sắm.”
“Ta còn nhớ trước đây ngài Henry đã từng
là cảnh sát ở Scotland Yard.”
“Tôi cho là còn nhiều vụ việc và cả những
vụ án, cảnh sát chịu bó tay không tìm ra.” Joyce Lemprière nói.
“Điều đó ta phải công nhận.” Petherick nói.
“Tôi chưa nghĩ ra.” Raymond West lên tiếng.
“Liệu có một bộ óc tinh tường có thể tìm ra tất cả manh mối? Thường thì ai cũng
cho là một thám tử không phải lúc nào sử dụng hết khả năng trí tưởng tượng của
mình.”
“Người tầm thường thì họ cho là vậy.” Ngài
Henry nói mỉa.
“Ông có cần triệu tập một hội đồng,” Joyce
vừa nói vừa cười. “Chuyện tưởng tượng và triết lý xin dành cho các nhà văn...”
Nàng khiêm tốn nghiêng người trước mặt
Raymond, và thấy anh ta tảng lờ đi.
“Tài viết lách của nhà văn nhìn thấy tận
tâm can mỗi người.” Anh ta nghiêm giọng nói. “Thấy được cái mà người tầm thường
không nhận ra.”
“Tôi biết mà cậu ơi,” bà Marple lên tiếng.
“Sách của cậu viết toàn chuyện cao siêu. Cậu có nghĩ là các nhân vật cảm thấy
khó chịu khi được hư cấu?”
“Thưa dì,” Raymond dịu giọng xuống, “dì cứ
tin đi. Cháu mong là không làm cho họ phải bực mình.”
“Ý dì muốn nói là...” bà Marple nói, vừa
nhíu mày nhẩm tính lại mấy mũi đan, “có nhiều người không hẳn là tốt hay xấu cả
đâu, chỉ có điều rất là ngớ ngẩn.”
Ông luật sư Petherick lại húng hắng ho.
“Này Raymond,” ông nói, “cậu nghiêng về
phần trí tưởng tượng nhiều quá thì phải? Trí tưởng tượng có khi là nguy hại
lắm, trong nghề làm luật tôi hiểu rõ điều đó. Phải biết tách ra những chứng cứ
phân minh, manh mối nào ra manh mối đó... Tôi cho đó một phương pháp hợp lôgic
để tìm ra chân lý. Trong nghề lâu năm mới thấy được phương pháp đó hoàn toàn
đúng.”
“Ô hay!” Joyce kêu lên một tiếng, nàng ngả
người ra sau, vẻ mặt bực bội. “Tôi dám đánh cuộc với ông một phen này. Không kể
tôi là phận đàn bà - tùy ông nghĩ, phụ nữ có bản năng trực giác mà cánh đàn ông
thì không. Tôi còn là một nghệ sĩ. Có những việc tôi biết mà ông thì không. Là
một nghệ sĩ tôi phải tiếp xúc với nhiều giới, và nhiều loại người khác nhau. Tôi
biết nhiều điều mà bà Marple thân yêu đây không hề biết tới.”
“Tôi thì chả biết gì mấy việc đó,” bà
Marple nói. “Tôi chỉ biết chuyện ở trong làng vẫn con nhiều điều trái tai gai
mắt.”
“Tôi có thể nói được chứ?” Ngài mục sư
Pender vừa nói, miệng nở một nụ cười. “Lúc này mấy ông mục sư thường bị trêu,
tôi biết chứ, chúng tôi nghe kể lắm điều, chúng tôi biết cả mặt xấu của con
người mà người ngoài thì không hay biết gì.”
“Khá lắm,” Joyce nói, “tôi thấy đây là một
cuộc họp mặt khá hoàn chỉnh. Thế thì ta nên lập ra một câu lạc bộ có được không?
Ngay hôm nay? Hay là chờ đến thứ ba? Lúc đó ta đặt cho câu lạc bộ cái tên ‘Câu
lạc bộ ngày thứ Ba’. Mỗi tuần gặp nhau một lần, theo thứ tự lần lượt mỗi hội
viên đề xuất ý kiến. Một vài vụ việc bí ẩn có thể từng người sẽ tìm ra được câu
giải đáp. Để tính coi ta có bao nhiêu người? Một, hai, ba, bốn năm. Vậy là sáu
cả thảy.”
“Còn thiếu tôi nữa, cưng ơi.” Bà Marple
cười hớn hở lên tiếng.
Joyce có phần hơi lúng túng và nàng nhanh
trí phớt lờ ngay.
“Thế thì hay biết mấy, bà Marple,” Joyce
nói. “Tôi tưởng đâu bà không thích tham gia.”
“Tôi thấy nó cũng hay hay,” bà Marple nói.
“Nhất là có thêm mấy ông thông minh tài trí thì còn gì bằng, vì ở quanh vùng St.
Mary Mead lâu nay nên tôi hiểu rõ về bản chất con người.”
“Được vậy thì chúng tôi mừng lắm.” Ngài
Henry lịch sự nói.
“Ai muốn phát biểu trước?” Joyce nói.
“Tôi chắc là có,” ngài mục sư Pender nói. “Chúng
ta may mắn được gặp gỡ một nhân vật có tiếng tăm như ngài Henry đây,” bỗng ông
im lặng, lịch sự nhìn về phía ngài Henry.
Vị khách quý ngồi lặng thinh một hồi. Chợt
thở ra, vắt chéo chân lại, nói:
“Tôi thấy khó mà nói ra cho đúng trọng tâm
nhưng mà thấy sao tôi kể ra vậy, câu chuyện có phần trùng hợp với nội dung muốn
đề cập. Chắc các bạn còn nhớ vụ án báo đã đăng cách nay cả năm. Vụ đó đâu đã
phá được, may sao cách đây vài hôm tôi tình cờ nghĩ ra được một phương án giải
quyết.”
“Chuyện xảy ra cũng đơn giản. Trên bàn ăn
chỉ có ba người, ngoài các món bình thường còn có món tôm hùm đóng hộp. Tối hôm
đó, cả ba người thấy đau, vội mời bác sĩ tới. Hai người được chữa khỏi còn
người kia chết.”
“Ấy chà!” Raymond kêu lên một tiếng.
“Như tôi đã kể, manh mối chẳng có gì, cái
chết là do ăn nhầm ptomaine(*) bác sĩ pháp y xác nhận và nạn nhân được chôn cất
tử tế. Nhưng vụ việc chưa dừng ở đó.”
(*)
Chất độc có ở động vật.
Bà Marple gật đầu.
“Phải có chuyện gì trong bữa ăn, theo tôi
nghĩ,” bà nói, “bữa ăn nào cũng vậy.”
“Để tôi kể về các vị khách trong bữa ăn. Tôi
cho mời hai vợ chồng ông bà Jones, luôn cả người bạn thân của bà vợ là cô Clark.
Ông Jones nguyên là một nhân viên giao dịch cho hãng dược phẩm. Nhìn bề ngoài
ông điển trai, cầu kỳ, dù hơi thô lỗ, tuổi đã ngũ tuần. Vợ ông trông có vẻ dân
dã hơn, khoảng bốn lăm tuổi. Bà đi cùng với một người bạn là bà Clark, tuổi sáu
mươi, mập mạp, da dẻ hồng hào. Nói chung nhìn mọi người không thấy một nét nào
đáng lưu ý.”
“Mọi việc diễn ra trong một tình huống
thật bất ngờ. Câu chuyện như vầy, đêm trước đó ông Jones ngủ ở khách sạn ở
Birmingham. Hôm đó tập giấy thấm mới vừa được thay và người hầu phòng trong lúc
rảnh rỗi mới đem tờ giấy thấm soi vô gương chơi, nhằm lúc ông Jones vừa mới
viết thư. Qua mấy bữa sau trên báo đăng tin bà Jones chết do ngộ độc thức ăn
tôm hùm đóng hộp, người hầu phòng mới đem kể lại cho đồng nghiệp nghe, nội dung
đọc được mấy dòng chữ in trên tờ giấy thấm. Có đoạn thế này: Cái đó để hỏi lại vợ tôi... nếu bà ấy chết thì
tôi... có cả hàng trăm hàng ngàn…”
“Các bạn còn nhớ cách đây không lâu xảy ra
một vụ chồng đầu độc vợ. Chẳng có gì lạ khi trí tưởng tượng của mấy người hầu
được khơi dậy. Ông Jones lập mưu muốn giết vợ để chiếm đoạt mức tài sản lên tới
hàng trăm ngàn bảng Anh. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên trong số bạn bè người hầu
khách sạn lại đang sống tại vùng thị trấn gần nhà ông bà Jones. Cô ta viết thư
cho bạn và rồi nhận được thư trả lời, cho hay ông Jones đang để ý cô con gái
ông bác sĩ trong làng, cô nàng trẻ đẹp, ba mươi ba tuổi. Mọi việc ầm ĩ cả lên,
đến nỗi ông Bộ trưởng bộ Nội vụ phải can thiệp. Thư nặc danh gởi tới sở mật
thám Scotland Yard tố cáo ông Jones giết vợ. Câu chuyện đồn đại khắp làng. Để
trấn an dư luận, một cuộc khai quật được tiến hành. Theo tin đồn thì không có
bằng chứng xác đáng, tuy vậy cần phải đưa ra bằng chứng cụ thể. Y như rằng, sau
cuộc giải phẫu tử thi khám nghiệm nạn nhân bị trúng độc thạch tín. Sở mật thám
Scotland Yard cùng với chính quyền địa phương đang truy tìm thủ phạm vụ đầu độc
chất thạch tín.”
“Chà!” Joyce nói. “Vụ này coi vậy mà đáng
cho ta lưu ý.”
“Mọi giả thiết đổ dồn về phía người chồng,
người được thừa hưởng món tiền kếch xù. Không phải số tiền lên tới hàng trăm
ngàn như cô hầu phòng tưởng tượng, thực sự chỉ khoảng từ 8000 đồng bảng Anh. Trong
túi ông ta chỉ vừa đủ tiền xài, ngoài ra không có của cải gì khác, hay thích
tiêu pha và ham thích của lạ. Chúng tôi đã cho điều tra kỹ chuyện lui tới giữa
ông và cô nàng con gái ông bác sĩ trong vùng mới hay là hai bên tuy có gắn bó
với nhau một thời gian nhưng cách đây hai tháng bỗng cắt đứt quan hệ. Ông bác
sĩ đã có tuổi sống vô tư, nhàn nhã, hay tin cuộc khám nghiệm tử thi khiến ông
sững sờ. Tối hôm đó ông tới nơi khám cho ba người đang rên rỉ, thấy bà Jones là
nặng nhất nên sai người lại hiệu thuốc mua mấy viên thuốc giảm đau, nha phiến. Dù
đã đến cứu chữa tận tình nhưng nạn nhân vẫn không qua khỏi; chính ông cũng không
nghi vấn có việc gì không ổn. Ông chẩn đoán nạn nhân chết do ngộ độc thức ăn. Bữa
ăn tối hôm đó dọn ra bàn có món tôm hùm đóng hộp, rau cải, món bánh ngọt, bánh
mì và phó mát. Điều không may là trên bàn không còn sót một chút nào món tôm
hùm... mọi người ăn hết, lon hộp thì vứt đi. Ông cho mời Gladys Linch, hầu
phòng ra thẩm vấn. Trông cô nàng có vẻ bối rối, run sợ và xúc động, lúc này khó
mà kể lại cho chính xác, cô quả quyết nhìn thấy hộp đồ ăn còn nguyên nắp không
căng phồng, món tôm hùm rất ngon miệng.
“Ta đã có được manh mối. Nếu ông Jones có
ý đầu độc vợ thì cớ gì phải làm hại luôn cả ba người trong bữa ăn. Hơn nữa, còn
một điểm, ông Jones vừa từ Birmingham trở về nhà thì bữa ăn đã dọn sẵn ra bàn,
làm sao có thể nghi cho ông bỏ thuốc độc vô món ăn trước đó được.”
“Thế còn người bạn của bà ấy thì sao?”
Joyce hỏi. “Cái bà mập ú có gương mặt ngộ nghĩnh đó.”
Ngài Henry gật đầu.
“Ta không nên bỏ qua manh mối cô Clark,
tôi xin nhắc lại. Nhưng thử hỏi việc gì bà ta nhúng tay vô chuyện đó. Bà Jones
không để lại cho bà ta một món tài sản nào hết, sau khi bạn mình chết đi bà ta
phải đi chỗ khác.”
“Vậy ta có thể gác qua một bên.” Joyce
ngẫm nghĩ nói.
“Ta hãy chờ xem có ông thanh tra mật thám
đưa ra manh mối xác đáng.” Ngài Henry tiếp tục câu chuyện. “Sau bữa ăn ông
Jones trở xuống bếp nhờ nấu một tí cháo ngô, ông nghe bà vợ nói thấy trong
người khó chịu. Ông chờ Gladys Linch nấu xong bưng lên phòng vợ.”
Ông luật sư gật đầu.
“Manh mối khác là...” Ông nói, nhẩm tính
trên đầu mấy ngón tay, “… thời cơ. Ông ta là nhân viên tiếp thị cho hãng dược
phẩm có kinh doanh thuốc độc.”
“Gã là một tay dễ sa
ngã.” Ngài mục sư nói chêm vô.
Raymond West chăm chú nhìn qua ngài Henry.
“Còn một điểm ta chưa phát hiện,” anh nói.
“Sao ngài không ra lệnh bắt giữ thủ phạm?”
Ngài Henry cười mỉa.
“Đấy là một phần kẽ hở trong vụ án. Khi
mọi việc tưởng chừng êm xuôi, đùng cái nửa chừng phải dừng lại. Jones không thể
bị bắt giữ vì sau cuộc thẩm vấn cô Clark khai ra hôm đó cô ta đã ăn hết tô cháo
ngô chứ không phải bà Jones.”
“Quả thực, như mọi bữa bà ta vẫn vô ra
phòng bà Jones, tô cháo thì để gần chỗ bà ngồi trên giường.”
“Tôi thấy trong
người hơi khó chịu, Milly. Cũng chỉ tại tôi mà ra, ham ăn món tôm hùm buổi tối.
Tôi nhờ Albert chạy đi nấu tô cháo ngô, nhưng mà sao tôi thấy nuốt không vô.”
“Tội nghiệp chưa,” cô Clark lên
tiếng. “Cháo nấu ngon. Gladys thật khéo tay. Bọn trẻ ngày nay ít có đứa nào
biết nấu cháo ngô ăn cho vừa miệng. Nói thiệt đang đói bụng tôi cũng thích ăn
một tô cháo.”
“Ủa sao chị nói gì lạ vậy?” Bà Jones hỏi.
“Tôi phải nói cho rõ hơn.” Ngài Henry cắt
ngang. “Cô Clark sợ mập, đang ăn kiêng.”
“Không nên, Milly, nó không tốt cho chị
đâu,” bà Jones nhắc, “Nhưng nếu Thượng Đế tạo ra chị mập thì chị phải mập. Chị
cứ ăn hết tô cháo, chẳng lên ký nào đâu.”
“Tức thì cô Clark bưng tô cháo húp hết một
hơi. Vậy là rõ quy tội cho người chồng là sai.” Khi được hỏi mấy dòng chữ in
trên tờ giấy thấm, ông Jones nói ra ngay. Đó là khi ông vừa viết trả lời cho
ông anh ở bên Úc xin tiền, trong thư ông kể ông sống nhờ bên vợ. Khi nào vợ chết
thì ông mới nắm được tiền trong tay, lúc đó mới có thể giúp đỡ anh em. Tiếc là
lúc này chưa giúp gì được, trên đời này còn có hàng trăm ngàn người cùng một
cảnh ngộ khó khăn.”
“Tức là vụ án coi như
bế tắc.” Ông mục sư Pender
nói.
“Vụ án đành để vậy.” Ngài Henry nghiêm
giọng nói. “Chúng tôi không có cơ sở để bắt giữ ông Jones vì thiếu bằng chứng.”
Cả gian phòng lặng lẽ một lúc chợt Joyce
lên tiếng. “Thế là hết, phải vậy không?”
“Một vụ án điển hình trong năm rồi, sở mật
thám Scotland Yard đang nắm giữ bí mật vụ án, đợi mấy hôm nữa coi báo thì biết.”
“Bí mật vụ án…” Joyce ngẫm nghĩ nói. “Chưa
biết sao. Ta hãy dành năm phút động não tìm câu giải đáp.”
Raymond West gật, đưa tay chỉnh kim đồng
hồ. Vừa hết năm phút anh nhìn qua ông mục sư Pender.
“Ngài muốn phát biểu trước à?” Anh nói.
Ông Pender lắc đầu. “Thú thật, tôi đang
còn bối rối. Theo tôi nghĩ thì người chồng chính là thủ phạm nhưng trường hợp
phạm tội ra sao tôi chưa thể nghĩ ra được. Theo tôi thì có thể ông đã cho thuốc
độc vô đồ ăn mà ta chưa thể làm sao chứng minh được việc đó.”
“Joyce nghĩ sao?”
“Tôi cho là người bạn thân.” Joyce nhất
quyết. “Đích thị là người bạn của bà ấy. Làm sao ta có thể biết động cơ nào cô
ta phải ra tay? Cô ta yêu chồng của bạn mình nhưng
ông ta không đáp lại, thứ nhất cô ta đã có tuổi, người mập mạp xấu xí thì làm
sao ông Jones yêu được. Cô ta có lý do để chán ghét bà chủ - trong vai người
bạn - lúc nào cũng phải vui vẻ, phải biết nhịn nhục. Cho đến một bữa chịu không
nổi cô ta quay ra giết bà chủ. Chuyện cô ta bỏ thạch tín vô tô cháo ngô là có
thật, còn chuyện cô ta ăn hết tô cháo là chuyện láo.”
“Ông Petherick nghĩ sao?”
Ông luật sư chúm mấy đầu ngón tay lại theo
kiểu nhà nghề. “Tôi thấy khó nói quá. Có nhiều duyên cớ tôi thấy khó nói ra.”
“Xin ông cứ tự nhiên, ông Petherick,”
Joyce nói, “ông đừng nên giữ kẽ
mà nói ‘sợ tổn hại’, theo luật mà nói. Ông phải tham gia ý kiến.”
“Thật ra thì...” Ông Petheriek lên tiếng. “Tôi
thấy không có gì đáng nói, vì đã có rất nhiều vụ trong đó người chồng là thủ
phạm. Có một cách giải thích, nhiều chứng cứ cho thấy bà Clark góp phần che đậy
cho ông chồng. Vì có thể cả hai bên đã bàn tính đến chuyện tiền nong. Ông thì
biết rõ mình là nghi can số một, về phía bà ta trước sau gì cũng là một kẻ
nghèo túng nên đã rắp tâm bịa ra chuyện húp hết phần tô cháo ngô. Đổi lại bà ta
sẽ được một món tiền hậu hĩ. Nếu trình tự diễn ra theo đúng bài bản thì phải
nói đây là một vụ án khác thường. Rất là khác thường.”
“Tôi không cho là vậy đâu,” Raymond nói
“Ông đã quên mất một manh mối quan trọng trong vụ này. Người con gái ông bác sĩ.
Tôi sẽ giả thiết như sau: Cái hộp tôm hùm đã hư, như vậy là ăn vô có thể bị
trúng độc. Ông bác sĩ được mời tới. Lúc này bà Jones bị nặng nhất - bà ăn nhiều tôm hơn hai người kia - và
theo lời ông kể lại, thầy thuốc sai người về lấy mấy viên thuốc giảm đau. Nên
nhớ là ông nhờ người khác đi lấy thuốc. Ai đứng ra giao thuốc cho người kia?
Phải là con gái ông, tức là nàng thay mặt ông phát thuốc cho bệnh nhân. Cô nàng
đang yêu ông Jones. Nhân lúc này, vì tình mà tâm trí nàng mụ đi, chỉ còn nghĩ
tới chuyện ông muốn được tự do với nàng vì thế nàng quyết định ra tay. Nàng mới
giao cho người kia mấy viên thạch tín nguyên chất. Đấy là cách giải thích của
riêng tôi.”
“Đến lượt ngài Henry cho biết ý kiến.”
Joyce thúc giục.
“Để tôi nghĩ lại,” Henry nói. “Còn bà
Marple chưa thấy nói gì hết.”
Bà Marple buồn bã lắc đầu.
“Ối giời ơi,” bà kêu lên. “Tôi lỗi mất một
mũi đan, mà để tai nghe kể chuyện. Một câu chuyện thương tâm, thật đáng thương
tâm. Nghe rồi tôi mới nhớ lại câu chuyện lão Hargraves ở vùng Mount. Vợ ông
không hề hồ nghi... cho đến lúc ông chết để lại tất cả tiền bạc cho người đàn
bà ông đã ăn ở với nhau có năm mặt con. Trước kia nàng là người giúp việc trong
nhà. Con bé thật dễ thương - bà Hargraves vẫn thường nhắc - cô ta làm việc hàng
ngày, trừ ngày thứ Sáu được nghỉ. Thế rồi lão Hargraves đem con bé gởi cho
người quen ở làng kế cận xin được một chân làm người quyên tiền cho nhà thờ vào
mỗi ngày lễ Chủ nhật.”
Thưa dì Jane,” Raymond có vẻ bồn chồn nói.
“Vậy chuyện ông Hargraves chết thì có dính dáng gì tới vụ này?
“Nghe chuyện này tôi chợt nhớ lại ông ta
ngay” Bà Marple nói. Manh mối thì cũng như nhau, phải vậy không? Tôi thấy để
cho cô gái ra khai hết chắc là có manh mối, ngài Henry.”
“Có cô gái nào?” Raymond hỏi lại. “Thưa,
dì vừa mới nói gì vậy?”
“Cái cô giúp việc đáng thương kia, Gladys
Linch đó mà - vừa nghe ông bác sĩ phán một câu là nó đã run sợ khiếp vía... hay
không chừng là nó, của đáng tội. Ta muốn thấy lão Jones bị treo cổ. Còn con bé
chính là thủ phạm, cũng nên xử tội treo cổ.”
“Tôi e là, thưa bà Marple, trong vụ này bà có phần ngộ nhận.” Ông
luật sư Petherick góp lời.
Bà Marple lắc đầu cứ nhất quyết là mình
nghĩ đúng, bà nhìn qua ngài Henry.
“Tôi nói đúng chứ, phải không? Tôi thấy
chuyện rõ như ban ngày. Trên giấy còn ghi lại... ‘có cả hàng trăm ngàn...
và món bánh ngọt...’ chi tiết này không thể bỏ qua.”
“Món bánh ngọt và dòng chữ viết hàng trăm
ngàn, nghĩa là thế nào?” Raymond thốt lên.
Bà dì quay qua nhìn.
“Mấy bà nấu bếp như mọi khi bỏ thêm cả
trăm thứ vô món bánh, cháu hiểu chưa?” Bà nói. “Mấy cái thứ đường cát đủ màu
hồng hồng trăng trắng. Tất nhiên khi nghe nhắc chuyện dọn món bánh ngọt ra trên
bàn và khi nghe kể chuyện ông chồng viết thư có nhắc mấy chữ...
‘có cả hàng trăm ngàn...’ khiến ta liên tưởng đến hai việc đó là một.
Và đây cái món chất độc thạch tín... có cả hàng trăm ngàn hạt li ti. Ông để lại
đó cho con sen dặn nhớ thêm vô trong món bánh ngọt.”
“Chuyện nghe thật phi lý,” Joyce nhanh
miệng nói. “Vì mọi người cùng ăn món bánh ngọt.”
“Ôi, không,” bà Marple nói, “cô bạn đang
ăn kiêng, em nhớ cho. Một khi cô đang kiêng ăn thì không nên ăn đồ ngọt, và giả
sử Jones lấy muỗng cạo lớp màu rải trên mặt phần bánh rồi để qua một bên, làm
vậy thì được thôi, nhưng mà cũng không ổn lắm.”
Mọi cặp mắt đổ dồn về phía ngài Henry.
“Tôi thấy vụ này lạ lắm.” Ông chậm rãi nói.
“Bà Marple vừa nghĩ ra một chuyện có thật. Lão Jones đã đưa Gladys Linch vô
tròng như nhân gian thường nói. Cô nàng gần như tuyệt vọng. Lão cầu cho vợ chết
để lấy Gladys như đã ước nguyện trước với cô nàng. Lão bịa ra mấy chữ ‘có cả trăm ngàn’ lưu lại để cho cô nàng đem ra kể lại
cho mọi người nghe nên sử dụng như thế nào. Gladys Linch đã chết cách nay một
tuần lễ. Con cô ta mới sinh ra đã chết, lão Jones bỏ theo một cô khác. Lúc sắp
chết cô nàng muốn thú tội.”
Mọi người ngồi lặng thinh một lúc, chợt
nghe Raymond lên tiếng:
“Vậy là, thưa
dì Jane, việc này giống như điều
dì đoán. Không hiểu sao dì lại nghĩ ra được một câu chuyện có thật như vậy được.
Tôi thì không dám cho là một người giúp việc lo việc nấu ăn lại dính dáng vô
mấy việc này.”
“Làm gì có,” bà Marple nói, “cháu chưa
hiểu đời bằng ta. Một người như lão Jones - thô lỗ nhưng mà vui tính - khi dì
được nghe trong nhà có con hầu xinh đẹp thì dì biết ngay lão chủ chẳng để cho
nó yên thân đâu. Phải nói đấy là một câu chuyện đau thương chớ không hay ho gì
mà kể ra. Bà Hargraves cũng sốc một thời gian dài và đấy cũng là câu chuyện bị
đàm tiếu một thời trong làng.”