Cô phương bất tự thưởng (Tập 2) - Chương 61 - Phần 1
Chương 61
Trong ánh bình minh chiếu rọi, Phi Chiếu
Hành dẫn theo đội quân khải hoàn trên con đường rộng lớn. Xa xa, cổng thành của
thành đô Quy Lạc đã hiện ra trước mắt.
Tàn quân thảm bại của Quy Lạc đã bị tiêu
diệt gọn ghẽ. Phi Chiếu Hành mang theo hai cái hộp, một đựng thủ cấp của Nhạc
Địch và một của Nhạc Chấn.
Đôi phu tử này từng là chủ nhân của Phi
Chiếu Hành. Hắn từng đi theo họ, sống chết vì họ, đổ máu và mồ hôi vì họ, để
cuối cùng nhận lấy kết cục “thố tử cẩu phanh, điểu tận cung tàn”.
Không cam lòng! Thật sự không cam lòng!
Nỗi lòng đó khiến Phi Chiếu Hành không hề do dự mà lựa chọn
phản bội. Chính sự phản bội ấy đã làm nên thành công ngày hôm nay.
Ù... Ù...
Tiếng tù và trầm thấp mà ngân nga chào đón họ trở về.
Cổng thành đã mở. Phi Chiếu Hành cưỡi trên lưng ngựa cao lớn
nhất, đi giữa tiếng tù và vang vọng, mang theo niềm vui khoan khoái tiến về nơi
đã từng là thành đô Quy Lạc.
Giờ Quy Lạc không còn nữa, Hà Túc đã chết, vương tộc Quy Lạc
đã bị diệt vong.
Dân chúng quỳ hai bên đường nghênh đón, rõ ràng những con dân
mất nước này đã bị binh sĩ đuổi ra khỏi nhà, khiếp sợ quỳ mọp ở đây, hàng vạn
ánh mắt kinh ngạc, khiếp sợ hoặc bi phẫn đan xen, tập trung về phía Phi Chiếu
Hành.
Những ánh mắt chẳng mấy thiện cảm đó không hề làm giảm bớt
niềm vui và sự đắc ý của Phi Chiếu Hành.
Hắn không cần để ý đến dân chúng thấp kém đang quỳ mọp dưới
kia. Họ chưa từng biết đến bạc nhược và bất tài của Hà Túc. Họ không biết rằng,
bậc vương giả phải quyết đoán, độc ác và vô tình.
Ai có thể so được với Hà Hiệp? Một tiểu Kính An vương hùng
tâm tráng chí, dũng mãnh thiện chiến, kiếm pháp cũng như ánh mắt vô cùng lạnh
lẽo.
Ngoài cuộc tỉnh táo, trong cuộc u mê.
Phi Chiếu Hành còn hiểu rõ hơn Hà Hiệp, rằng Diệu Thiên công
chúa là một cửa ải của Hà Hiệp.
Khi Diệu Thiên công chúa trút hơi thở cuối cùng ở vương cung
Vân Thường, khắp thiên hạ đã không còn điều gì có thể trói buộc, ngăn cản Hà
Hiệp.
Vân Thường quốc tang lại khiến Phi Chiếu Hành cảm thấy lòng
hăng hái. Đời người là một canh bạc, muốn thắng vẻ vang phải có nhãn quan. Phi
Chiếu Hành từng theo lầm Nhạc Chấn, nhưng lần này cũng coi như đã đặt đúng cửa.
Đi theo Hà Hiệp, hắn có cơ hội ngàn năm khó kiếm.
Qua cổng thành, càng tiến vào trong, đường xá càng vắng vẻ. Thỉnh
thoảng, Phi Chiếu Hành chỉ thấy những ánh đao lạnh lẽo của binh sĩ Vân Thường,
và cả những khuôn mặt bất an của muôn dân.
Trên đường lớn, một thị vệ tâm phúc của Hà Hiệp xuất hiện,
ngăn bước Phi Chiếu Hành ý chí đang hăng hái thẳng tiến đến vương cung: “Tiểu
Kính An vương không ở trong vương cung, mời Phi tướng quân qua vương phủ Kính
An.”
Phi Chiếu Hành gật đầu, thúc ngựa quay đi. Vương phủ Kính An
vốn là nhà của Hà Hiệp, Hà Hiệp ở đó hoàn toàn thấu tình đạt lý.
Phi Chiếu Hành xuống ngựa trước cổng vương phủ Kính An. Đập
vào mắt hắn là một phủ đệ giờ chỉ còn là phế tích. Sững sờ một lúc, hắn mới
theo thị vệ, bước qua bục cổng cao.
Rêu xanh phủ kín vương phủ, cỏ mọc đầy sân.
Phía bên kia, trụ đá cháy nham nhở, Hà Hiệp một mình một bóng
đứng giữa hoang vu.
Bóng dáng đó đã có được cả một dải núi sông rộng lớn, từ nay
ngàn thu muôn thuở, hậu thế sẽ truyền tụng cái tên của người này.
Phi Chiếu Hành không dám sơ ý, bước đến gần đó, đứng lại, rồi
mới cung kính nói: “Bẩm tiểu Kính An vương, mạt tướng đã đem theo thủ cấp của
Nhạc Địch và Nhạc Chấn về đây.”
Hà Hiệp sớm đã biết Phi Chiếu Hành đến, bèn quay lại, cười
nói: “Vất vả rồi, ngươi làm rất tốt. Ta đã chuẩn bị sẵn phần thưởng cho ngươi.
Đến đây, đọc đi.”
Một thị vệ bước đến, giở cuộn gấm trong tay, lần lượt đọc
hết, quả nhiên đồ ban thưởng không ít. Phi Chiếu Hành trước đây theo Nhạc Chấn,
cũng thường xuyên ra vào vương cung Quy Lạc, nghe thấy trong danh sách ban
thưởng của Hà Hiệp có vài món được Quy Lạc vương coi như báu vật vô giá.
Hà Hiệp ngồi xuống, vẻ lãnh đạm, hình như đang cười, nhưng
ánh mắt chẳng hề tươi tỉnh, khiến người ngoài nhìn mà không hiểu.
Phi Chiếu Hành đợi thị vệ đọc xong, hành lễ tạ ơn: “Nhờ phúc
của tiểu Kính An vương, mạt tướng mới được đánh một trận vẻ vang như vậy, mạt
tướng sao dám nhận nhiều tặng phẩm thế này.” Nói xong hắn lại thận trọng hỏi, “Thủ
cấp của Nhạc Địch và Nhạc Chấn, tiểu Kính An vương vẫn chưa nhìn qua, có...”
“Không cần,” Hà Hiệp lắc đầu, “Ta còn không tin ngươi sao?”
Hai thị nữ xinh đẹp dâng trà lên Hà Hiệp và Phi Chiếu Hành.
Phi Chiếu Hành tạ ơn Hà Hiệp, hai tay nhận lấy chén trà. Chén trà trong suốt
mỏng tang, nhìn qua đã biết là đồ quý hiếm, nhưng hoàn toàn không ăn nhập với
nơi phủ trạch tiêu điều này.
Hình như biết rõ Phi Chiếu Hành đang nghĩ gì, Hà Hiệp nhấp
một ngụm trà, nói: “Ta đã từng cho treo lụa đỏ gấm xanh nơi này, rồi sắp xếp
những đồ gia dụng tinh xảo, nhưng vẫn không thêm được chút ít sinh khí. Ta cũng
sai người sửa chữa những bức tường đổ nát ấy, nhưng vừa bắt đầu, ta lại hạ lệnh
dừng ngay. Ngươi biết tại sao không?”
Phi Chiếu Hành đặt chén trà xuống, ngồi ngay ngắn lại, rồi
thận trọng đáp: “Vương phủ Kính An ngày trước chính là vương phủ Kính An ngày
trước, cho dù tu sửa thế nào cũng không thể quay trở lại.”
Đôi môi mỏng của Hà Hiệp khẽ động, hình như đang mỉm cười,
nhưng chỉ thoáng qua: “Đúng thế, nếu đã mất đi, sẽ không bao giờ quay lại được.
Tại sao vào thời khắc phải chọn lựa lấy hay bỏ, con người ta không thể nhìn
thấu điều này? Ta thực sự rất hối hận.” Giữa hai hàng lông mày của Hà Hiệp ẩn
chứa nỗi bi thương không hề che giấu.
Không ngờ Hà Hiệp lại nói với mình những lời gan ruột này,
Phi Chiếu Hành vừa vui lại vừa sợ, ngôn ngữ cử chỉ càng thêm thận trọng.
Trong mắt Phi Chiếu Hành, Hà Hiệp là bậc kiêu hùng vô song
thiên hạ. Hà Hiệp trí dũng hơn người, dã tâm hừng hực, ngôn ngữ cử chỉ thận
trọng, luôn giấu kín nỗi lòng, kỵ nhất để người khác nhìn thấu tâm tư.
Phi Chiếu Hành cúi xuống bê chén trà lên, nhấp một ngụm, vờ
cho trơn họng.
“Ta đã giết cả nhà Hà Túc,” Hà Hiệp nói xong lại hỏi, “Ngươi
có nghe lời đồn bên ngoài không?”
Phi Chiếu Hành gật đầu: “Có nghe qua.”
“Ngươi thấy thế nào?”
“Vương tộc mất nước, chẳng qua chỉ là thân con sâu con kiến.
Tiểu Kính An vương đã có được cả thiên hạ, giết mấy con sâu con kiến cũng có gì
là không được?”
“Ta không muốn giấu ngươi,” Hà Hiệp nhìn Phi Chiếu Hành, mỉm
cười, “Lời đồn ngoài kia cũng chẳng sai, Hà Túc không hề có ý định cùng vương
hậu mưu hại ta, là ta vô cớ giết cả ba người họ.”
Phi Chiếu Hành sững người, đang không biết đáp thế nào, Hà
Hiệp đã chuyển sang chuyện khác: “Thương Lộc tướng quân tử trận, cánh quân Vĩnh
Xương hiện do ai tiếp quản?”
Phi Chiếu Hành đáp: “Trên chiến trường mất chủ tướng, phải
lập tức quyết đoán, nên mạt tướng đang tạm thời tiếp quản.”
Hà Hiệp chậm rãi nói: “Đông Chước cũng trưởng thành rồi, cần
có cơ hội để luyện tập. Hiện giờ Vân Thường đã ổn định, ta muốn điều Đông Chước
ra sa trường để rèn luyện bản lĩnh, hãy giao cánh quân Vĩnh Xương cho Đông
Chước quản lý. Sau khi trở về, ngươi hãy bàn giao mọi việc.”
Phi Chiếu Hành nhận lệnh.
Không biết tại sao, hôm nay có quá nhiều cảm xúc, Hà Hiệp thở
dài, đứng dậy nói với Phi Chiếu Hành: “Đi, ngươi cùng ta đi một vòng xem sao.”
Phi Chiếu Hành theo Hà Hiệp, chậm rãi đi một vòng quanh vương
phủ Kính An.
Đình viện đã hoàn toàn hoang phế, mặt hồ đầy bèo, thỉnh
thoảng có đám bọt khí trôi qua trôi lại. Nhưng dưới mặt nước không phải đàn cá
chép lộng lẫy sắc màu tung tăng bơi lội, mà là những con cá đen sì, chẳng biết
chúng đã vào đây bằng cách nào.
Côn trùng rả rích kêu trong đám cỏ.
Hai người một đi trước một theo sau, bước thấp bước cao trên
những đám cỏ. Một lúc lâu, Hà Hiệp bất chợt lên tiếng: “Mọi chuyện xảy đến thật
nhanh, cả Quy Lạc cũng không còn nữa,” ngôn ngữ chất chứa bao cảm khái.
Phi Chiếu Hành thầm ngạc nhiên, Hà Hiệp đã có được thiên hạ,
sao vẫn rầu rĩ? Phi Chiếu Hành vừa nghĩ vừa liếc trộm bóng lưng thẳng và căng
như dây đàn của Hà Hiệp.
Cũng có thể vì giờ không còn đại quân nào đủ sức chống chọi
với Hà Hiệp, nên lần này gặp lại, Phi Chiếu Hành cảm thấy Hà Hiệp đã xa cách
hơn trước rất nhiều, khắp người bắt đầu tỏa ra sự uy nghiêm của bậc chí cao vô
thượng.
“Đại quân Quy Lạc đã bị tiêu diệt, tứ quốc đã thống nhất, ta
định ra chiếu thư, lấy danh nghĩa của tiểu Kính An vương thành lập tân quốc,
lấy quốc hiệu Kính An.”
Chần chừ một lát, Phi Chiếu Hành thử khuyên nhủ: “Lập tân
quốc tất nhiên quan trọng, nhưng việc Trấn Bắc vương vẫn chưa giải quyết xong,
liệu có nên...”
“Không cần lo lắng. Dù Sở Bắc Tiệp có bản lĩnh đến mức nào,
cũng không thể một mình chống lại mấy chục vạn quân của ta. Tướng không có quân
thì có gì đáng sợ?” Hà Hiệp cười gằn, “Đợi sau khi ta đăng cơ, hắn sẽ không còn
là Trấn Bắc vương của Đông Lâm nữa, mà là nghịch tặc của Kính An quốc, giết hắn
hoàn toàn là lẽ tất nhiên. Có được một đối thủ thế này cũng chẳng dễ dàng gì,
đợi có thời gian, ta sẽ từ từ đối phó với hắn.”
Nghe ý Hà Hiệp, tứ quốc đã thống nhất, giờ không còn đối thủ
xứng tầm, nên Hà Hiệp không muốn dồn Sở Bắc Tiệp vào chỗ chết ngay lập tức, mà
muốn chơi trò mèo vờn chuột dần dần ép Sở Bắc Tiệp tới đường cùng.
Cũng không thể nói Hà Hiệp tự kiêu tự đại, khắp tứ quốc,
những đại quân có thể đối kháng với hắn đã dần bị tiêu diệt. Một mình Sở Bắc
Tiệp liệu có được bản lĩnh gì để khiêu chiến với đại quân Vân Thường? Nếu Sở
Bắc Tiệp dám công khai chiêu mộ phản quân, ngay lập tức đại quân Vân Thường sẽ
kéo đến vây bắt, thế quân đông gấp mười lần, chắc chắn Sở Bắc Tiệp sẽ chết tại
trận.
Tuy cảm thấy không ổn, nhưng từng từ của Hà Hiệp đều vô cùng
chắc chắn, không thể thay đổi, Phi Chiếu Hành đành im miệng, gật đầu.
Hà Hiệp bất chợt dừng lời: “Có việc này phải giao cho ngươi
đi làm.”
“Vâng.”
“Ta muốn ngươi đi thu thập châu báu các nước, đặc biệt là
trân châu đá quý hảo hạng và một đội thợ giỏi chuyên khảm nạm đá quý cũng như
chế tác đồ trang sức.”
Phi Chiếu Hành hiểu ngay lập tức: “Tiểu Kính An vương muốn
chế tạo vương miện?”
Hà Hiệp lắc đầu, giơ hai ngón tay lên: “Hai chiếc, một mũ
vua, một mũ hậu. Cả hai đều phải tinh xảo đẹp mắt không gì sánh kịp, không được
để xảy ra bất cứ sai sót nào.”
Phi Chiếu Hành nhận lệnh, nghe Hà Hiệp dặn dò thêm vài câu
rồi cáo từ ra khỏi vương phủ Kính An.
Trở về phủ đệ mình vừa được sắp xếp, Phi Chiếu Hành nghĩ đi
nghĩ lại, vẫn cảm thấy có chỗ không ổn, bèn gọi một tâm phúc ở Quy Lạc đến,
hỏi: “Sau khi trở về Quy Lạc, tiểu Kính An vương có để mắt đến nữ nhân nào
không?”
Tâm phúc kia suy nghĩ kỹ càng, rồi lắc đầu đáp: “Thuộc hạ
không nghe nói tiểu Kính An vương gần gũi nữ sắc. Sau khi trở về thành đô Quy
Lạc, tiểu Kính An vương chỉ ở trong vương phủ Kính An xử lý sự vụ. Cũng đúng
thôi, vương phủ Kính An giờ chẳng còn ai, tiểu Kính An vương quay về đất cũ,
khó tránh khỏi lòng thương nhớ chuyện xưa.”
Phi Chiếu Hành nghe xong, cảm thấy có điều gì đó đang nghẹn
trong cổ họng, nhưng không thể nói thành lời, chỉ thấy mình đã bỏ sót một số
chuyện. Đang suy nghĩ, bỗng một thuộc hạ vào báo, đồ ban thưởng của Hà Hiệp đã
được đưa đến.
Phi Chiếu Hành đích thân ra nhận, mở một hộp ra xem, đều là
những đồ quý hiếm. Hà Hiệp không tiếc ngàn vàng ban thưởng, xem ra sau này
không phải là một đại vương keo kiệt. Phi Chiếu Hành mừng thầm trong lòng,
thưởng cho thị vệ đưa tới không ít tiền vàng.
Trưởng thị vệ của Hà Hiệp cũng đích thân đến, sau khi cung
kính cười với Phi Chiếu Hành, lại nói: “Huynh đệ ta phụng lệnh đến đây còn có
một việc, đó là Đông Chước tướng quân sẽ cai quản cánh quân Vĩnh Xương, mời Phi
tướng quân lấy soái ấn bàn giao rõ ràng.”
Phi Chiếu Hành đã sớm biết việc này, nên vui vẻ đóng ấn lên
công văn vừa đưa tới, cũng coi như đã bàn giao xong đạo quân Vĩnh Xương, rồi
mới tiễn đám thị vệ vừa được ban thưởng không ít tiền vàng ra về.
Vì trong lòng đang vui, nên dù cả chặng đường trở về thành đô
mệt mỏi, Phi Chiếu Hành vẫn chưa buồn ngủ, liền gọi mấy tướng lĩnh dưới trướng
đến uống rượu chúc mừng.
“Cạn! Chén này chúc cho phò mã của chúng ta sớm lên ngai
vàng! Chén này chúc cho tướng quân của chúng ta thăng tiến vùn vụt, tiền đồ
rộng mở...”
Một phó tướng vội vã hạ giọng: “Đừng nhắc đến hai tiếng ‘phò
mã’ nữa, bên trên đã hạ lệnh, từ nay nhất loạt gọi là ‘tiểu Kính An vương’. Trương
tướng quân, ông phải cẩn thận đó, đừng phạm húy.”
“Ồ, ta vốn là kẻ lỗ mãng chỉ quen giết chóc trên sa trường,
đâu biết thế nào là phạm húy. Cạn!”
Vị phó tướng lại định khuyên nhủ, Trương tướng quân đã vội
xua tay, vẻ mặt bất đắc dĩ: “Biết rồi, biết rồi, chẳng mấy chốc sẽ không gọi là
‘tiểu Kính An vương’ nữa đâu, mà gọi là ‘hoàng thượng’. Nghe nói đám quan văn
đã tự xưng ‘vi thần’ rồi.”
Đều là những tướng lĩnh cầm quân ra trận, kỳ thật trong quân
nghiêm ngặt, cấm uống rượu, mồm miệng đã nhạt thếch, nay đến lúc cao hứng,
chẳng mấy chốc họ đã uống hết sạch mấy bình rượu, cuối cùng, đến cả Phi Chiếu
Hành cũng mơ mơ màng màng được dìu về giường.
Đúng lúc đang ngủ say, không hiểu tại sao Phi Chiếu Hành bỗng
cảm thấy toàn thân lạnh toát, giật mình tỉnh giấc.
Phi Chiếu Hành ngồi bật dậy, trợn trừng mắt, tim đập tình
thịch, cảm giác bất an trào lên.
Nhất định là có chỗ nào không ổn.
Phi Chiếu Hành vốn rất để ý đến dự cảm của mình.
Khi Nhạc Chấn chuẩn bị giết người diệt khẩu, Phi Chiếu Hành
cũng vì cảm thấy bất an mà trở nên cảnh giác, nửa đêm chạy ra khỏi thành, thoát
được kiếp nạn. Lúc này, cảm giác lo sợ khiến hắn trở nên thận trọng. Hắn suy
nghĩ một lượt tất cả đoạn đối thoại với Hà Hiệp hôm nay, nhưng vẫn không tìm ra
điều gì khác lạ.
Những việc Hà Hiệp cần Phi Chiếu Hành làm, hắn đều đã làm
hết, không những tiêu diệt đại quân Đông Lâm, tiêu diệt Nhạc Địch và Nhạc Chấn,
mà còn trừ khử cả Thương Lộc, chẳng lẽ còn điều gì sơ hở?
Nếu nói bản thân có chút tham lam tiền tài, cũng có thể Hà
Hiệp đã biết việc này, nhưng không thể chỉ vì chút chuyện cỏn con đó mà phải
đối phó với mình.
Rốt cuộc là không đúng ở điểm nào?
Không lẽ lại là “thố tử cẩu phanh, điểu tận cung tàn”? Sau
phút kinh hãi, Phi Chiếu Hành liên tục lắc đầu.
Không, không thể, Hà Hiệp không phải là Nhạc Địch, cũng chẳng
phải Nhạc Chấn. Hà Hiệp là tiểu Kính An vương có tài thao lược, có tấm lòng
rộng lượng. Đã đánh trận xong, sắp lập nên tân quốc, Hà Hiệp uy nghi lẫm liệt
trở thành chủ nhân thiên hạ cũng là thuận theo lẽ trời, chỉ cần vinh hoa phú
quý vẫn có phần Phi Chiếu Hành là được.
Phi Chiếu Hành khổ tâm suy nghĩ, nhưng vẫn không thể tìm ra
nguyên nhân, cuối cùng lại mơ màng ngủ tiếp.
Song, từ đó trở đi, Phi Chiếu Hành cũng thận trọng hơn.
Binh quý thần tốc, Sở Bắc Tiệp dẫn theo binh mã tiến thẳng
đến thành Thả Nhu. Lúc đầu Sở Bắc Tiệp còn lo Sính Đình không chịu nổi đường xa
mệt nhọc, nhưng nàng đã thường xuyên viễn chinh theo quân, nên Sở Bắc Tiệp cũng
không còn lo lắng nữa, mà một lòng gấp rút lên đường.
Một ngàn tinh binh đến biên cương bắt đầu xé nhỏ thành những
tiểu đội, tiến vào vùng bụng Vân Thường, rồi lặng lẽ tập hợp bên ngoài thành
Thả Nhu. Đây đều là những binh sĩ tinh nhuệ còn trụ lại sau các trận đại chiến,
người nào cũng tinh nhanh, không ai gặp bất trắc, không một tin tức nào lọt ra
ngoài.
Quân Vân Thường vẫn không biết Trấn Bắc vương đã gần trong
gang tấc. Dân chúng trong thành Thả Nhu càng không cảm nhận được kiếp nạn này.
Phiên Lộc cũng chẳng hề biết mình đã trở thành mồi săn của Trấn
Bắc vương.
Vị thủ thành Thả Nhu này còn đang đau đầu vì sự việc khác
hoàn toàn không liên quan gì đến Trấn Bắc vương.
“Bọn họ cố tình ép chết ta! Được thôi, đến đi, lão tử ở trong
quân bao nhiêu năm, cũng chưa bao giờ phải chịu uất ức như thế này!” Phiên Lộc
vò nát tờ công văn vừa đưa đến, vứt xuống đất. Xung quanh đều nghe thấy tiếng
gầm quát của thủ thành đại nhân.
“Ta làm sao biết được hai đại nhân đó chạy đi đâu? Bao nhiêu
người tận mắt thấy họ đi khỏi thành Thả Nhu, họ lại thích đi thị sát khắp nơi,
chưa biết chừng đã thị sát đến tận biên cương rồi. Người không thấy đâu, sao
lại hạ lệnh cho lão tử điều tra? Lão tử đi đâu mà điều tra chứ? Mẹ kiếp!”
Sai dịch phụ trách truyền tin đã ôm đầu chuồn ra ngoài từ
lâu, chỉ còn lại sư gia Đỗ Kinh đang cau mày nhìn Phiên Lộc giờ như con hổ bị
đá đít, đi đi lại lại trong phòng.
Nộ khí của thủ thành đại nhân hôm nay thật không nhỏ.
“Đại nhân hãy bớt cơn thịnh nộ, tuy công văn này thật vô lý, nhưng
là ý quan trên, chúng ta không thể mặc kệ, việc này...”
“Ta biết là không thể mặc kệ,” Phiên Lộc gầm gừ một hồi, nộ
khí cũng đã giảm bớt phần nào, cảm giác nhẹ nhàng hơn, khuôn mặt nở nụ cười,
ngón chân đùa với tờ công văn trên đất, rồi bỗng đá vèo nó vào góc tường.
Phiên Lộc chậm rãi ngồi xuống ghế, còn gác cả chân lên bàn. “Điều tra thì điều tra. Sư gia, hãy dán
cáo thị khắp thành Thả Nhu cho ta, vẽ hai con... À, vẽ hai vị đại nhân, nhớ là
phải vẽ giống một chút, sau đó viết là...,” Phiên Lộc ngậm cán bút, giọng không
còn rõ ràng, “Có hai vị quan mất tích, thủ thành đại nhân phụng mệnh tìm kiếm.
Sống phải thấy người, chết phải thấy xác. Tìm được người, thưởng một trăm lạng
bạc, tìm được xác, thưởng hai trăm lạng bạc. Cứ thế đi.”
Nghe giọng điệu ấy, biết rõ trong lòng
Phiên Lộc đang âu sầu vì hai vị đại nhân kia, nhưng Đỗ Kinh không thể biết có
phải thủ thành đại nhân đang đùa hay không, chỉ biết dở khóc dở cười thưa: “Đại
nhân, một, hai trăm lạng bạc, e là hơi ít, theo tiểu nhân, vẫn nên tăng thêm
một chút. Vả lại, câu nếu tìm thấy xác, tốt nhất đừng cho vào...”
“Được rồi, sư gia cứ làm đi,” Phiên Lộc
xua tay, ngáp dài, “Ta đã xử lý xong công vụ ngày hôm nay, sư gia mau đi dán
cáo thị, thủ thành đại nhân phải đi nghỉ đây.”
Phiên Lộc quay vào hậu viện, tìm thấy
Túy Cúc, liền cầm tay, kéo nàng ra cổng.
Tự nhiên bị lôi đi, Túy Cúc kinh ngạc: “Lại
làm sao thế hả? Bộ dạng ngươi cứ như chạy loạn ấy.”
“Thời tiết đẹp thế này, hãy cùng thủ
thành lão gia ra ngoài giải khuây.”
Túy Cúc nghe thế thì đứng sững lại, rút
tay về: “Thả tay ra, ta còn chưa kịp tưới nước cho thảo dược. Vì việc giải
khuây của ngươi mà để thảo dược phải chết khô sao?”
Phiên Lộc túm chặt cổ tay Túy Cúc, không
chịu buông ra, quay lại nhìn nàng: “Hôm nay quan trên gửi công văn đến nói, hai
vị đại nhân Bồ Quang, Bồ Thịnh đã mất tích, hạ lệnh cho ta điều tra. Này, rốt
cuộc ngươi có đi cùng ta không?”
Túy Cúc thất kinh, vội nhìn xung quanh.
Bồ Quang, Bồ Thịnh đã chết thế nào, hai
người rõ hơn ai hết.
Sau khi lên nắm quyền, Hà Hiệp đã ra các
chính sách vô cùng tàn khốc, khiến lòng người Vân Thường trên dưới bàng hoàng.
Nếu việc này bị điều tra ra, kết cục sẽ thế nào? Có lẽ nàng và Phiên Lộc phải
tìm một nơi để bàn bạc thật kỹ. Nàng đang nghĩ hay Phiên Lộc đưa mình ra ngoài
tránh tai mắt để bàn bạc việc này, thì cả người bị Phiên Lộc lôi ra ngoài cổng
phủ.
Thả Nhu tuy chỉ là một thành nhỏ nhưng
đường phố rất nhộn nhịp. Phiên Lộc mặc thường phục ra khỏi cổng, Túy Cúc trước
nay vẫn không thích ăn mặc diêm dúa, nên cũng chẳng ai để ý đến họ.
“Kẹo hồ lô không?”
“Tào phớ không?”
Đi trên phố, chỉ cần thấy thứ gì vừa mắt
là Phiên Lộc liền móc tiền mua ngay rồi đưa cho Túy Cúc. Lúc đầu, Túy Cúc lắc
đầu không lấy, Phiên Lộc tiện tay cho mấy đứa bé bên đường. Cuối cùng, Túy Cúc
hết cách, đành phải nhận của Phiên Lộc một con tò he.
Đi hết cả một buổi chiều, Phiên Lộc chỉ
toàn nói đến những chuyện chẳng liên quan, không hề nhắc đến việc của Bồ Quang,
Bồ Thịnh.
Túy Cúc không thể chờ thêm, bèn hỏi: “Này,
vậy phải làm thế nào?”
“Cái gì làm thế nào?”
“Chúng ta làm thế nào? Có phải đi khỏi
thành Thả Nhu không?”
Phiên Lộc quay lại nhìn nàng, hỏi: “Ngươi
tưởng chúng ta đi chạy nạn thật à?”
Nhìn thần thái của Phiên Lộc không giống
như đang đùa, nhưng lời hắn trước nay vẫn chẳng thể tin tưởng hoàn toàn, Túy
Cúc cố hạ thấp giọng, hỏi: “Vậy tại sao ngươi lại dẫn ta ra ngoài? Quan trên
giao cho ngươi điều tra mà? Nhỡ chăng bị phát hiện, người có một trăm cái đầu
thì cũng không đủ.”
“Đã nói dẫn người ra ngoài giải khuây
cùng ta, ngươi lại có tật giật mình, cố tình nghĩ sang chuyện khác.” Phiên Lộc
hất hàm về phía cổng thành, “Lão gia ta đã bắt đầu điều tra rồi, có thấy cáo
thị dán trên cổng thành đằng kia không?”
Nói đến chuyện chính, Túy Cúc còn hăng
hái hơn Phiên Lộc. Vừa nhìn thấy cáo thị, Túy Cúc chẳng kịp nói gì, vội kéo tay
Phiên Lộc tới xem.
Trước nay đều là Phiên Lộc cầm tay Túy
Cúc, đây là lần đầu tiên Túy Cúc chủ động cầm tay hắn.
Được bàn tay mềm mại như không xương cầm
vào, Phiên Lộc bỗng thấy tim đập thình thịch, quay sang ngó Túy Cúc, nhưng nàng
hoàn toàn chẳng hề để ý đến thần sắc Phiên Lộc.
Đỗ Kinh làm việc không chút chậm trễ,
quả nhiên cáo thị đã được dán ngay cổng thành. Bao nhiêu cái đầu xúm đen lại
xem cáo thị, nhưng trăm dân cũng biết rõ tiếng xấu của Bồ Quang, Bồ Thịnh, nên
vẻ mặt ai nấy bình tĩnh như vừa nghe một câu chuyện phiếm. Túy Cúc chen vào đám
người đọc hết cáo thị, tạm thời chỉ là điều tra hướng đi của hai vị đại nhân
kia, trong lòng nàng cũng thở phào nhẹ nhõm, hạ giọng: “Là ngươi bảo sư gia
viết à?”
Phiên Lộc hừ một tiếng, chửi đổng: “Mẹ
kiếp, Đỗ Kinh dám sửa cáo thị của ta. Sư gia thật chẳng phải thứ gì tử tế.”
Túy Cúc ngạc nhiên: “Đỗ Kinh đã sửa cái
gì?”
“Vốn viết là có hai con lợn mất tích,
sao giờ lại đổi thành hai vị quan mất tích?”
Túy Cúc cười khúc khích, rồi cố nhịn
cười trừng mắt nhìn Phiên Lộc: “May ngươi còn được là thủ thành lão gia, cả
ngày không đàng hoàng, chỉ nghĩ cách chọc người khác.”
Phiên Lộc vốn chẳng chịu thua ai bao
giờ, lần này lại chỉ hừ một tiếng, nói với Túy Cúc: “Cáo thị cũng đọc xong rồi,
chúng ta đi thôi.”
Hai người dắt tay nhau quay về, bỗng
Phiên Lộc hạ giọng hỏi: “Người có sợ nhìn thấy người chết không?”
Túy Cúc cau mày: “Ngươi lại muốn giết
người?”
Túy Cúc chỉ tiện miệng hỏi thế, ai ngờ
Phiên Lộc lập tức trả lời: “Chính thế.”
Túy Cúc run bắn, nắm chặt bàn tay Phiên
Lộc.
Giọng Phiên Lộc nhỏ hơn lúc nãy, chỉ thì
thầm vào tai nàng: “Có một tên xấu xí cứ theo chúng ta nãy giờ. Ngươi đừng sợ,
ta dẫn hắn vào ngõ tối, rồi bắn cho hắn mấy tên như bắn con thỏ trên núi.”
Vòng qua mấy ngã rẽ, tiếng huyên náo
cũng bớt dần, hai người bước trong ngõ nhỏ, càng đi ngõ càng hẹp. Hai bên,
tường đất kẹp chặt con đường nhỏ, chật đến nỗi ánh mặt trời cũng không sao
chiếu vào được.
Càng đi sâu, ngõ càng tối.
Vốn là tay ngang ngược, từ khi trở thành
thủ thành, cả ngày chúi mũi vào đống công văn, Phiên Lộc chỉ mong có ai đến là
bia đỡ tên cho dứt cơn phiền. Cảm giác của một người từng làm mật thám cực kỳ
nhạy bén, biết rõ chỉ có một người đang bám theo mình nên hắn yên tâm rẽ vào
con ngõ cụt. Đến trước bức tường đất cuối cùng trong ngõ, Phiên Lộc quay lại,
một tay nắm tay Túy Cúc, một tay lấy chiếc nỏ đã căng sẵn tên, rồi hỏi Túy Cúc:
“Ngươi muốn ta bắn vào cổ hay tim hắn?”
Túy Cúc thấy mũi tên sáng loáng thì càng
sợ: “Ngươi đừng hỏi ta,” hai tay nàng nắm chặt tay Phiên Lộc.
Trong lòng càng vui, Phiên Lộc khẽ nhếch
môi cười gằn: “Vị huynh đệ đi theo hãy bước ra ngoài, chúng ta nói chuyện.”
Phía góc tường thoáng có bóng người,
chẳng mấy chốc, một người chầm chậm bước ra, mỉm cười: “Gặp được cô nương thật
mừng quá. Cô nương cũng chẳng chịu gửi thư báo với chúng ta một tiếng, cô nương
không biết chúng ta đã lo lắng thế nào đâu?” rõ ràng người này đang nói chuyện
với Túy Cúc.
Túy Cúc mở choàng mắt, giọng thất thanh:
“Mạc Nhiên!”
Mạc Nhiên gật đầu, rồi quay sang Phiên
Lộc, nói từng tiếng rõ ràng: “Thủ thành đại nhân, đại nhân cũng thật may mắn
đấy. Nếu không phải Túy Cúc cô nương đi bên cạnh, đại nhân đã đầu lìa khỏi cổ
từ lâu rồi.”
Phiên Lộc cười ha ha, quay sang nói với
Túy Cúc: “Ta rất thích cái cổ, một tên bắn đi, hắn sẽ im miệng ngay lập tức.”
Hắn đang định bắn tên, bỗng toàn thân cứng đờ.
Một lưỡi đao sắc lạnh giơ ra từ phía
sau, chuẩn xác kề vào cổ Phiên Lộc, giọng nam thấp trầm vang lên: “Ta cũng
thích cái cổ.”
Phiên Lộc vốn vô cùng tự tin về cảm giác
nhạy bén của mình, trước nay chưa từng có người nào có thể lặng lẽ tiến đến sau
lưng như thế, trong lòng hắn vô cùng kinh ngạc. Phiên Lộc có sở trường về việc
thăm dò địch, nghe khí thế ung dung nói cười của nam nhân sau lưng, biết gặp
phải cao thủ, hắn thức thời buông chiếc nỏ trong tay, cố cười nói: “Vòng qua
vòng lại, hóa ra chính ta lại là con thỏ xúi quẩy.”
Túy Cúc quay đầu nhìn lại, càng thêm
kinh ngạc, bịt miệng kêu lên: “Trời ơi, là vương gia...”
Sở Bắc Tiệp đứng sau Túy Cúc, ngó nàng
một cái: “Ngươi đã làm Sính Đình đau lòng lâu quá rồi.”
“Bạch cô nương?” Túy Cúc quá kích động,
đưa hai tay ôm lấy ngực mình, cảm thấy trước mắt như có từng vòng lửa sáng lóa,
nước mắt chỉ chực trào ra. Nàng hít mấy hơi thật dài, ngập ngừng hỏi: “Bạch cô
nương... vẫn sống sao? Tốt quá rồi... Tốt quá rồi... Thế hài nhi? Hài nhi...”
“Lát nữa hãy hàn huyên. Ngươi nhìn xem,
cổ ta vẫn đang có thứ gì này,” Phiên Lộc ngắt lời Túy Cúc.
Túy Cúc đang xúc động, vừa gạt lệ, vừa
trừng mắt nhìn Phiên Lộc: “Đến lúc này mà ngươi còn dám lớn tiếng với ta sao?
Ngươi có biết sau lưng mình là ai không? Chỉ động tay một chút là đầu ngươi sẽ
lìa khỏi cổ.”