Ấn tượng sai lầm - Chương 40 - 41

Chương 40

Khi Krantz tỉnh dậy sau cuộc
phẫu thuật, điều đầu tiên mà cô ta nhận thấy là cảm giác đau buốt ở vai phải.
Cô ta cố nhấc đầu khỏi gối vài inch và nhìn quanh căn phòng nhỏ được sơn trắng:
chỉ có những đồ vật thật cần thiết – một chiếc giường, một chiếc tủ, một tấm
ga, một chiếc chăn và một chiếc quạt nhỏ để giường. Chắc là bệnh viện, nhưng
không phải là bệnh viện tư, bởi vì không có cửa sổ, không có hoa, không đồ ăn
thức uống. Krantz cố nhớ lại những gì đã xảy ra với cô ta. Cô ta nhớ là khẩu
súng của người tài xế tắc xi đã chĩa thẳng vào tim cô ta, và chỉ nhớ được có
thế. Cô ta chỉ có đủ thời gian để quay đi 1 inch, không hơn, trước khi viên đạn
xé bả vai cô ta. Chưa bao giờ cô ta phải đối mặt với thần chết ở cự ly gần đến
thế. Viên đạn thứ hai bị trượt hoàn toàn, nhưng cô ta đã có được khoảng thời
gian một giây giữa hai lần bắn của người tài xế tắc xi, đủ để cô ta cắt đứt
họng ông ta. Chắc chắn ông ta là một người trong nghề, một cựu sỹ quan cảnh
sát, cũng có thể là một cựu binh. Cô ta chỉ nhớ được có thế, bởi vì sau khi kịp
cắt họng ông già, chắc chắn cô ta đã ngất đi.

Jack đăng ký ngủ qua đêm tại
Wentworth Arms, và đặt một bàn ăn tối vào lúc 8 giờ. Sau khi tắm rửa và thay
quần áo, anh mong đợi phút giây được nghiến ngấu một tảng bít tết to dày. Cho
dù chắc chắn Anna đã ngủ lại Lâu đài Wentworth, Jack vẫn không thể yên tâm khi
anh nghĩ tới chuyện Người Lùn có thể đang lảng vảng đâu đây. Anh đã yêu cầu Tom
thông báo cho cảnh sát địa phương, trong khi bản thân anh vẫn tiếp tục tự mình
theo dõi. Anh ngồi trong phòng đợi, nhấm nháp một cốc Guinness và nghĩ về Anna.
Trước khi đồng hồ điểm 8 giờ, Tom bước vào, nhìn quanh và thấy bạn mình đang
ngồi gần lò sưởi. Jack đứng dậy chào anh ta, và xin lỗi vì đã lôi anh ta xuống
Wentworth trong khi nhẽ ra anh ta đã được hưởng một buổi tối vui vẻ với câu lạc
bộ Chloe và Hank.

“Một khi quán này có thể chế
được món đồ uống Tom Collins ngon lành thì cậu sẽ không phải nghe lời phàn nàn
của tớ”, Tom trả lời.

Tom đang giải thích với Jack
về lịch sử hơn nửa thế kỷ của câu lạc bộ Hank thì người phục vụ bàn bước tới và
ghi các món mà hai người gọi. Cả hai cùng chọn bít tết, nhưng với tư cách là
một người Texas, Tom thú nhận anh vẫn không thể nào quen với kiểu bít tết của
Anh quốc, vì theo anh thì bít tết bò của Anh quốc trông giống như được làm từ
thịt cừu.

“Tôi sẽ gọi cho hai anh”,
người phục vụ bàn nói, “ngay khi bàn ăn sẵn sàng”.

“Cảm ơn”, Jack nói, trong khi
Tom cúi xuống và mở cặp ra. Anh ta lấy ra một tập hồ sơ dày và đặt lên bàn.
Chuyện phiếm chưa bao giờ là sở trường của anh ta.

“Hãy bắt đầu bằng những tin
quan trọng trước nhé”, Tom vừa nói vừa mở tập hồ sơ ra. “Bọn mình đã xác định
được người phụ nữ trong bức ảnh mà cậu gửi tới từ Tokyo”. Jack bỏ cốc đồ uống
xuống và tập trung vào nội dung của tập hồ sơ. “Tên cô ta là Olga Krantz, và cô
ta có một điểm chung với Tiến sỹ Petrescu”.

“Đó là gì vậy?”, Jack hỏi.

“Mọi người cũng nghĩ rằng cô
ta đã mất tích, có thể đã chết. Như cậu có thể thấy trong hồ sơ về cô ta”, Tom
vừa nói thêm vừa đẩy một tờ giấy qua bàn, “chúng ta đã mất dấu cô ta vào năm
1989, khi cô ta không còn là vệ sỹ của Ceausescu nữa. Nhưng bây giờ thì có thể
kết luận cô ta hiện nay đang làm việc cho Fenston”.

“Chỉ là suy diễn”, Jack nói,
cùng lúc đó, người hầu bàn đem đến một ly Tom Collins và một cốc Guinness.
“Không phải thế, nếu cậu xem xét các sự kiện một cách lôgíc”, Tom nói, “và nối
kết các chi tiết lại với nhau”, anh ta nói thêm rồi nhấp một ngụm rượu. “Ừm,
không phải tồi. Suy cho cùng, cô ta và Fenston có thời cùng làm việc cho
Ceausescu”.

“Chỉ là trùng hợp”, Jack nói.
“Không thể đứng vững trước toà”.

“Có thể, nếu cậu biết rõ công
việc của cô ta”.

“Cậu thử nói xem nào”, Jack nói.

“Cô ta có nhiệm vụ loại bỏ
bất kỳ ai có thể gây nguy hiểm cho Ceausescu”.

“Vẫn chỉ là suy diễn”.

“Cho đến khi cậu phát hiện ra cách thức giết người của cô ta”.

“Một con dao làm bếp?”, Jack hỏi mà không nhìn xuống tờ giấy trước mặt.

“Cậu đoán đúng”, Tom nói.

“Nếu cậu đúng, thì còn một
mắt xích nữa trong chuỗi lôgíc này”.

“Gì vậy?”, Tom hỏi.

“Anna sẽ là nạn nhân tiếp
theo của cô ta”.

“Không, chuỗi lôgíc bị vỡ ở
chỗ này, bởi vì sáng nay Krantz đã bị bắt tại Bucharest”.

“Cái gì?”, Jack hỏi.

“Cảnh sát địa phương đã bắt
giữ cô ta”, Tom nói thêm.

“Khó có thể tin là họ lại
tiếp cận được cô ta, dù là cách một dặm”, Jack nói. “Tớ luôn bị mất dấu cô ta
ngay cả khi tớ biết cô ta đang ở đâu”.

“Cảnh sát địa phương thừa
nhận rằng”, Tom nói, “cô ta lúc đó đang bị bất tỉnh”.

“Cho tớ biết chi tiết đi”,
Jack nói một cách nôn nóng.

“Có vẻ như, và người ta vẫn
đang gửi thêm các báo cáo bổ sung khi tớ rời đại sứ quán, là Krantz đã cãi cọ
với một người tài xế tắc xi. Trong túi ông này có 500 đôla. Ông ta đã bị cắt
đứt họng, còn cô ta thì bị dính đạn vào vai. Chúng ta không biết lý do của vụ
việc này, nhưng vì ông ta bị giết chỉ vài phút trước khi cậu cất cánh, bọn tớ
nghĩ cậu có thể giúp làm rõ chuyện này”.

“Chắc Krantz muốn biết Anna
sẽ đi chuyến bay nào, nhưng ông già kia sẽ không đời nào nói cho cô ta biết.
Ông ta bảo vệ Anna giống như một người cha bảo vệ cho con gái mình, và 500 đôla
chỉ là trùng hợp. Krantz không bao giờ giết người vì một món tiền nhỏ như thế.
Và người tài xế tắc xi này không phải là phường lừa đảo khách hàng”.

“Dù thế nào thì bây giờ
Krantz cũng đã bị khoá chặt. Nếu may mắn, cô ta sẽ được ngồi tù cho đến hết
đời. Nhưng chắc cô ta khó có thể gặp may như thế, bởi vì một nửa nước Romania
muốn bóp cổ cô ta”. Tom liếc nhìn xuống tập hồ sơ. “Và hoá ra người tài xế tắc
xi kia là Đại tá Sergei Slatinaru, một người anh hùng trong cuộc nổi dậy”. Tom
uống một hớp bia trước khi nói thêm, “Vậy là cậu không còn phải lo lắng cho sự
an toàn của Petrescu nữa”.

Người hầu bàn xuất hiện và
mời hai người bọn họ vào phòng ăn.

“Cũng giống như phần lớn
người Romania, tớ chỉ có thể yên tâm khi tận mắt thấy Krantz đã chết”, Jack
nói. “Nếu không, tớ vẫn còn lo cho Anna”.

“Hay mời cô ta tới đây với
bọn mình?”.

“Quên chuyện đó đi, chắc lúc
này cô ta đang ăn tối với Phu nhân Arabella tại Lâu đài Wentworth”.

Một người hầu bàn đặt một bát
xúp khoai tây trước mặt Tom và một đĩa xa lát Caesar trước mặt Jack.

“Có thêm tin gì về Anna
không?”.

“Không nhiều”, Tom thú nhận,
“nhưng tớ có thể nói cho cậu biết rằng cô ta đã gọi cho Sở cảnh sát New York từ
sân bay Bucharest. Cô ta yêu cầu họ gạch tên mình ra khỏi danh sách những người
mất tích, nói rằng cô ta đang ở Romania thăm mẹ mình. Cô ta cũng gọi cho bác
mình ở Danville, Illinois, và Phu nhân Arabella ở Lâu đài Wentworth”.

“Vậy thì cuộc gặp của cô ta ở
Tokyo hẳn là đã thất bại”, Jack nói.

“Cậu phải giải thích chuyện
đó cho tớ nghe”, Tom nói.

“Cô ta đã có một cuộc gặp gỡ
tại Tokyo với một nhà tài phiệt trong ngành thép gọi là Nakamura. Ông ta có một
bộ sưu tập tranh ấn tượng lớn nhất thế giới, theo lời của người gác cửa tại
khách sạn Seiyo cho tớ biết”. Jack dừng lại. “Chắc chắn là cô ta đã không bán
được bức tranh Van Gogh cho Nakamura, và vì thế cô ta đã đưa bức tranh trở lại
London, và từ đó gửi sang New York”.

“Có thể là như thế”, Tom vừa
nói vừa lấy một tờ giấy từ tập hồ sơ ra. “Tiện đây xin nói thêm, cô ta đang bị
hãng Happy Hire truy tìm. Họ nói rằng cô ta đã để một chiếc xe của họ lại biên
giới Canada, mất chắn bùn trước, mất cả hai thanh ba đờ sốc, tất cả các bóng
đèn đều cháy”.

“Đó chỉ là chuyện vặt”, Jack
nói.

“Cậu phải lòng cô gái này
à?”, Tom hỏi.

Jack không trả lời. Người hầu
bàn xuất hiện bên cạnh họ. “Hai bít tết, một tái, một chín”, anh ta nói.

“Tái là của tớ”, Tom nói.

Người hầu bàn đặt hai chiếc đĩa xuống rồi nói: “Chúc ngon miệng”.

“Lại thêm một lối nói mà người Mỹ đã xuất khẩu”, Tom cằn nhằn.

Jack mỉm cười. “Cậu có biết thêm gì về Leapman không?”

“Ồ, có”, Tom nói. “Chúng ta đã biết thêm nhiều điều về Leapman”. Anh ta
liếc nhìn một tập hồ sơ khác trên bàn. “Ông ta là người Mỹ, thế hệ thứ hai, và
học luật ở đại học Colombia. Không giống như cậu”, Tom vừa nói vừa cười nhăn
nhở. “Sau khi tốt nghiệp, ông ta làm việc cho nhiều ngân hàng, thường là thăng
tiến rất nhanh, cho đến khi ông ta dính vào một vụ lừa đảo. Ngón nghề của ông
ta là bán trái phiếu cho những bà quả phụ không có thật”. Tom dừng lại. “Quả
phụ thì có thật, trái phiếu thì không có thật”. Jack cười. “Ông ta ngồi tù hai
năm tại Trung tâm Cải tạo Rochester ở New York, và bị cấm hành nghề suốt đời
tại bất kỳ một ngân hàng hay một tổ chức tài chính nào”.

“Nhưng ông ta là cánh tay phải của Fenston?”.

“Đúng là của Fenston, nhưng không phải của ngân hàng Fenston Finance. Tên
của ông ta không xuất hiện trong bảng lương của họ, dù là với tư cách người
quét dọn. Ông ta đóng thuế thu nhập cá nhân đối với khoản tiền mà ông ta nhận
hàng tháng từ một bà cô của mình ở Mêhicô”.

“Thôi đi nào…”, Jack nói.

“Và cho dù cậu có nói gì, phòng của mình vẫn chưa tìm ra bất cứ một đầu mối
nào cho thấy bà cô ấy thực sự tồn tại hay không”.

“Có mối quan hệ nào với người Romania không?”, Jack vừa hỏi vừa cắt bít
tết.

“Không, với những gì chúng ta biết”, Tom nói.

“Leapman có thể sẽ là đầu mối tốt nhất của chúng ta”, Jack nói. “Giá mà
chúng ta có thể tóm ông ta để khai thác…”.

“Không có hy vọng”, Tom nói.
“Kể từ khi ra tù, ông ta hết sức cẩn thận, thậm chí ông ta còn chưa bao giờ bị
phạt vì tội đỗ xe không đúng quy định, và tớ nghĩ rằng ông ta còn sợ Fenston
hơn cả sợ chúng ta”.

“Giá mà Hoover còn sống”,
Jack nhăn nhở nói.

Cả hai người cùng nâng cốc,
trước khi Tom nói thêm, “Vậy khi nào cậu bay về Mỹ? Tớ hỏi như thế để biết khi
nào thì tớ có thể quay trở lại với công việc hàng ngày”.

“Ngày mai, tớ nghĩ thế”, Jack
nói. “Bây giờ khi Krantz đã bị bắt, tớ cần phải quay trở lại New York. Macy
chắc sẽ muốn biết tớ có tìm ra mối quan hệ nào giữa Krantz và Fenston hay
không”.

“Và cậu có tìm ra không?”,
Tom hỏi.

Cả Jack lẫn Tom không ai chú
ý tới hai người đàn ông đang nói chuyện với người trưởng nhóm hầu bàn. Chắc
chắn không phải họ đang đặt bàn, bởi vì họ không để áo khoác lại quầy tiếp tân.
Sau khi người trưởng nhóm hầu bàn đã trả lời câu hỏi của họ, họ đi thẳng qua
phòng ăn.

Tom đang cho các tập hồ sơ
vào cặp của mình thì hai người bọn họ bước tới bên bàn.

“Xin chào các ông”, người cao
lớn hơn nói. “Tôi là Thám tử, Trung sỹ Frankman, còn đây là đồng nghiệp của
tôi, Thám tử, Hạ sỹ Ross. Tôi xin lỗi vì đã làm hỏng bữa ăn của các ông, nhưng
tôi cần nói đôi lời với ông”, anh ta vừa nói vừa chạm tay vào vai Jack.

“Tại sao, tôi đã làm gì?”,
Jack vừa hỏi vừa đặt dao và dĩa xuống. “Đỗ xe trên vạch vàng đôi à?”.

“Tôi e là nghiêm trọng hơn
thế, thưa ông”, viên trung sỹ nói, “và vì vậy tôi phải mời ông về đồn”.

“Vì tội gì?”, Jack hỏi.

“Tôi nghĩ sẽ là khôn ngoan
hơn nếu chúng ta không tiếp tục nói chuyện ở một quán ăn đông người”.

“Và theo lệnh của ai…”.

“Tôi nghĩ ông không nên tham
dự vào chuyện này”.

“Đó là quyền của tôi”, Tom
nói và móc phù hiệu FBI từ túi áo trong ra. Anh ta vừa định mở chiếc ví da ra
thì Jack chạm vào khuỷu tay anh và nói, “Không nên gây chú ý. Không nên để Cục
phải dính líu vào chuyện này”.

“Bọn người này nghĩ họ đang
nói chuyện với…”.

“Thôi nào, Tom. Đây không
phải là nước Mỹ. Tớ sẽ đi với họ tới đồn cảnh sát để giải quyết chuyện này”.

Tom miễn cưỡng cho tấm phù
hiệu FBI vào túi áo, và cho dù anh ta không nói gì, khuôn mặt của anh ta nói rõ
với hai người cảnh sát kia cảm xúc của anh ta. Khi Jack đứng lên, viên trung sỹ
ngay lập tức cho còng vào tay anh.

“Này, có thật cần thiết phải
làm thế không?”, Tom nói.

“Tom, đừng can dự vào chuyện
này”, Jack nói bằng một giọng ôn hoà.

Tom miễn cưỡng theo Jack ra
khỏi phòng ăn, qua một căn phòng đầy khách, những người chăm chú nói chuyện và
ăn uống như thể không có chuyện gì bất thường xảy ra quanh họ. Khi ra tới cửa,
Tom nói, “Cậu có cần tớ cùng đi tới đồn cảnh sát không?”.

“Không”, Jack trả lời, “tại
sao cậu không ở lại. Đừng lo, tớ sẽ về kịp giờ để uống cà phê”.

Có hai người phụ nữ nhìn Jack
chằm chằm từ phía bên kia hành lang.

“Có phải anh ta không, thưa
bà?”.

“Đúng là anh ta”, một trong
hai người phụ nữ ấy khẳng định.

Khi Tina nghe thấy tiếng mở
cửa, chị ngay lập tức tắt màn hình theo dõi. Chị không nhìn lên, bởi vì chỉ có
một người không bao giờ gõ cửa khi bước vào phòng chị.

“Tôi nghĩ cô biết Petrescu
đang trên đường trở về New York?”.

“Tôi đã nghe nói”, Tina vừa
nói vừa tiếp tục đánh máy.

“Nhưng cô có nghe nói rằng”,
Leapman đặt cả hai tay lên bàn chị, “cô ta đã tìm cách đánh cắp bức tranh Van
Gogh?”.

“Bức tranh trong phòng chủ
tịch à?”, Tina hỏi một cách ngây thơ.

“Đừng vờ vịt với tôi”,
Leapman nói. “Cô nghĩ tôi không biết là cô nghe lỏm mọi cuộc nói chuyện điện
thoại của chủ tịch à?”.. Tina ngừng đánh máy và nhìn lên. “Có lẽ đã đến lúc báo
cho ngài Fenston biết về nút chuyển mạch dưới bàn làm việc của cô, và việc cô
có thể theo dõi chủ tịch mỗi khi ông ấy nói chuyện với bất kỳ ai trong văn
phòng”.

“Ông doạ tôi đấy à, ông
Leapman?”, Tina hỏi. “Bởi vì nếu thế, tôi cũng có chuyện muốn nói với chủ
tịch”.

“Và tại sao tôi lại phải quan
tâm tới chuyện của cô?”, Leapman hỏi.

“Về những cuộc điện thoại mà
hàng tuần ông nhận được từ một người tên là Pickford, và có thể chúng ta sẽ
biết ai là người đang vờ vịt”.

Leapman bỏ tay ra khỏi bàn và
đứng thẳng dậy.

“Tôi nghĩ cơ quan điều tra sẽ
rất quan tâm khi biết rằng ông đã quấy rối nhân viên của một ngân hàng mà ông
không làm việc cho nó, không có văn phòng trong đó, và không nhận lương của
ngân hàng ấy”.

Leapman lùi lại một bước.

“Lần sau tới thăm tôi, ông
Leapman, ông hãy gõ cửa, như bất kỳ một vị khách nào của ngân hàng”.

Leapman lùi lại một bước nữa,
lưỡng lự, rồi bước ra ngoài mà không nói lấy một lời.

Khi cánh cửa đóng lại, Tina
run tới mức chị phải nắm chặt lấy tay ghế.

Chương 41

Khi chiếc xe cảnh sát trở về
đồn, Jack bị đẩy xuống xe. Sau khi viên trung sỹ trực ban đã ghi tên anh, hai
viên thám tử đưa anh xuống cầu thang tới phòng thẩm vấn. Trung sỹ Frankham bảo
anh ngồi xuống một chiếc ghế đối diện với anh ta qua bàn làm việc. Một chuyện
mà Jack chưa từng trải qua bao giờ. Hạ sỹ Ross đứng yên lặng ở một góc.

Jack băn khoăn không hiểu ai
trong hai người bọn họ sẽ chứng minh được rằng mình là một cảnh sát giỏi hơn.

Trung sỹ Frankham ngồi xuống,
đặt một tập hồ sơ lên bàn và lấy ra một tờ khai mẫu.

“Tên?”, Frankham bắt đầu.

“Jack Fitzgerald Delaney”,
Jack đáp.

“Ngày sinh?”.

“22 tháng 10 1963”.

“Nghề nghiệp?”.

“Sỹ quan điều tra cao cấp của
FBI, văn phòng New York”.

Viên trung sỹ bỏ bút xuống,
nhìn lên và nói: “Ông có mang thẻ không?”.

Jack đưa thẻ FBI và chứng
minh thư của anh cho anh ta.

“Cảm ơn ông”, Frankham nói
sau khi đã xem kỹ hai tấm thẻ. “Ông có thể chờ ở đây một lát được không?”. Anh
ta đứng dậy và quay sang người đồng nghiệp của mình. “Anh có thể mời Đặc vụ
Delaney một cốc cà phê không? Chuyện này cần phải mất chút thời gian”. Khi ra
tới cửa, anh ta nói thêm, “Và hãy giúp ông ấy thắt lại caravát, dây lưng và dây
giày nhé”.

Hoá ra trung sỹ Frankham nói
đúng, bởi vì một giờ sau chiếc cánh cửa nặng nề mới mở ra và một người lớn tuổi
hơn có nước da đen sạm bước vào. Ông ta mặc một bộ đồng phục được cắt may cẩn
thận, có viền bạc trên ống tay, ngù vai, và mũ. Ông ta bỏ mũ ra và để lộ một
mái tóc muối tiêu, rồi ngồi xuống chiếc ghế đối diện với Jack.

“Xin chào ông Delaney. Tôi là
Renton, Chánh thanh tra Renton, và bây giờ khi chúng tôi đã kiểm tra lại thông
tin về ông, xin ông làm ơn trả lời một vài câu hỏi của chúng tôi”.

“Nếu tôi có thể”, Jack nói.

“Tôi nghĩ là ông có thể”, Renton nói. “Vấn đề là ông có muốn hay không”.

Jack không trả lời.

“Chúng tôi đã nhận được lời phàn nàn từ một nguồn tin đáng tin cậy rằng
trong suốt tuần qua, ông đã bám theo một phụ nữ mà không báo trước cho cô ta biết.
Điều này vi phạm điều luật chống quấy rối đã được áp dụng ở nước Anh từ năm
1997, mà chắc chắn là ông cũng biết. Tuy nhiên, tôi nghĩ là ông có một lời giải
thích đơn giản”.

“Tiến sỹ Petrescu liên quan đến một cuộc điều tra đang được tiến hành, mà
phòng của tôi đã tham gia trong một thời gian”.

“Cuộc điều tra ấy có liên quan gì tới cái chết của Phu nhân Victoria
Wentworth hay không?”.

“Có”, Jack trả lời.

“Và Tiến sỹ Petrescu bị tình nghi là thủ phạm giết người?”.

“Không”, Jack trả lời một cách quả quyết. “Rất may là kẻ sát nhân đã bị bắt
tại Bucharest”.

“Và ông cảm thấy không thể chia sẻ thông tin này với chúng tôi?”, Renton
nói. “Bất chấp thực tế là các ông biết chúng tôi cũng đang tiến hành điều tra
vụ này”.

“Tôi xin lỗi, thưa ngài”, Jack nói. “Chính tôi cũng mới đi đến kết luận vài
giờ trước. Nhưng tôi tin chắc văn phòng London của chúng tôi sẽ thông báo cho
các ngài”.

“Ông Tom Crasanti đã thông báo vắn tắt với tôi, nhưng tôi nghĩ ông ta làm
chuyện đó chỉ vì đồng nghiệp của mình đang bị tạm giữ”. Jack không nói gì.
“Nhưng đúng là ông ta có khẳng định với tôi rằng các ông sẽ thông báo diễn tiến
của vụ điều tra này cho chúng tôi”. Một lần nữa, Jack không nói gì. Viên chánh
thanh tra cảnh sát đứng dậy. “Tạm biệt, ông Delaney. Tôi đã ra lệnh thả ông
ngay lập tức, và hy vọng ông có một chuyến bay an toàn về nước”.

“Cảm ơn ngài”, Jack nói khi Renton đội mũ lên và rời khỏi phòng.

Jack cảm thấy thông cảm với viên chánh thanh tra. Suy cho cùng, NYPD, chưa
nói gì tới CIA, cũng hiếm khi cho FBI biết họ đang làm gì. Một lát sau, trung
sỹ Frankham quay trở lại.

“Mời ông đi theo tôi”, anh ta nói, “chúng tôi đã cho xe chờ để đưa ông về
khách sạn”.

“Cảm ơn”, Jack nói rồi đi theo viên trung sỹ ra khỏi phòng, leo lên cầu
thang và bước ra phòng tiếp tân.

Viên trung sỹ trực ban cúi chào khi anh bước ra khỏi toà nhà. Jack bắt tay với trung sỹ Frankham. Anh ta có vẻ xấu
hổ. Rồi Jack lên chiếc xe của cảnh sát đang đỗ ở trước cổng. Tom đã ngồi sẵn ở
ghế sau.

“Thêm một bài tập thảo luận
để Quantico đưa vào giáo trình của mình”, Tom nói đùa. “Lần này là về việc làm
thế nào để gây ra những vụ việc nghiêm trọng trong quan hệ ngoại giao với một
đồng minh lâu năm nhất”.

“Có lẽ tớ đã thêm nét nghĩa
cho cụm từ mối quan hệ đặc biệt”, Jack nói.

“Tuy nhiên, kẻ bị cáo buộc sẽ
có cơ hội để lấy lại danh dự”, Tom nói.

“Cậu có gì trong đầu đấy?”,
Jack hỏi.

“Chúng ta đã được mời tới Lâu
đài Wentworth để dùng bữa sáng với Phu nhân Arabella và Tiến sỹ Petrescu, và
này, tớ đã biết tại sao cậu lại phải lòng Anna”.

Báo cáo nội dung xấu