Ấn tượng sai lầm - Chương 12 - 13
Chương 12
Anna chạy hết tốc lực, và cô
nhận thấy mọi thứ quanh mình đang trở nên tĩnh lặng hơn sau mỗi bước chạy của
cô. Những tiếng la hét lắng dần, và cô biết mình phải tiếp tục chạy nữa. Dường
như phía sau cô không còn ai, lần đầu tiên trong đời, cô mong có người vượt
mình trên đường chạy, ai cũng được, để cô không phải cảm thấy mình là người duy
nhất còn lại trên trái đất. Giờ thì cô hiểu được cảm giác của những người bị
tuyết lở rượt đuổi với tốc độ gấp hàng chục lần tốc độ tối đa của con người. Cô
cũng đang chạy trốn tuyết lở, một trận tuyết lở màu đen.
Anna hít những hơi thở sâu
trong khi bắt cơ thể mình phải đạt tới một tốc độ mà cô chưa từng biết đến. Cô
kéo chiếc áo cánh bằng lụa màu trắng - giờ đã chuyển thành màu đen và ướt sũng -
lên che miệng, chỉ một tích tắc trước khi cô bị con rồng màu đen bắt kịp.
Một dòng không khí cuồng nộ
quật cô xuống đất và quăng cô về phía trước, nhưng cô cố đứng dậy và chạy tiếp.
Chỉ được vài bước, cô cảm thấy nghẹt thở như sắp bị ngất đi. Cô cố lao lên vài
bước nữa, vài bước nữa, cho đến khi cô đập đầu vào một vật cứng. Anna đặt tay
lên bề mặt một bức tường và bắt đầu dò dẫm tìm đường đi. Nhưng cô đang tránh xa
hay đang xông vào giữa luồng khói? Tro và bụi xộc đầy vào miệng, mắt, tai, mũi
cô và bám vào da cô. Cô có cảm giác như mình sắp bị thiêu sống. Cô nghĩ tới
hình ảnh những người nhảy ra khỏi toà nhà. Một cái chết như vậy nhẹ nhàng hơn
rất nhiều so với việc bị khói và lửa tra tấn đến chết. Giờ thì cô đã hiểu cảm
giác của họ, nhưng cô đâu có ở trên một toà nhà cao tầng nào để có thể nhảy
xuống. Cô chỉ còn có thể nghĩ đến một điều là bao lâu nữa mình sẽ chết ngạt. Cô
bước lên một bước nữa, quỳ xuống và bắt đầu cầu nguyện.
Đức Chúa trời… Cô cảm thấy lòng nhẹ nhõm, và khi cô vừa chuẩn bị
nhắm mắt để buông mình vào một giấc ngủ vĩnh hằng thì trông thấy ánh đèn pha
của xe cảnh sát.Người ở trên thiên đường… Cô thu hết tàn lực đứng
lên và loạng choạng bứơc về phía ánh đèn.Tên Người là linh thiêng…
nhưng chiếc xe chạy nhanh quá, và không nhận thấy tiếng kêu cứu yếu ớt của
cô.Vương quốc của Người… Anna lại ngã xuống và bị mép đường cứa
rách đầu gối,Người là đấng tối thượng, nhưng cô chẳng cảm thấy
gì.Dưới trần thế, cũng như trên thiên đường. Cô bám vào mép hè
đường và không hiểu bằng cách nào đó, cô tiến lên được một vài insơ nữa. Cô vừa
sắp tắt thở thì cảm thấy mình chạm vào một cái gì đó âm ấm. Còn sống không?
“Cứu”, cô kêu lên một cách yếu ớt và hoàn toàn không hy vọng nhận được câu trả
lời.
“Đưa tay cho tôi”, câu trả
lời đến ngay lập tức. Cánh tay của anh ta rất rắn chắc. “Cố đứng lên nào!”
Với sự giúp đỡ của anh ta,
bằng một phép mầu nào đó, Anna đã đứng dậy được. “Cô có trông thấy ánh đèn ở
đằng kia không?” giọng nói hỏi cô, nhưng cô thậm chí chẳng trông thấy anh ta
đang chỉ tay về hướng nào. Anna xoay một vòng, và nhìn chằm chằm vào không gian
tối đen đang bao phủ quanh mình. Bỗng cô hét lên một tiếng kêu vui sướng khi cô
nhìn thấy một tia nắng đang xuyên qua màn khói dầy đặc. Cô nắm chặt tay người
lạ và cả hai cùng nhích dần về phía luồng sáng mỗi lúc một lớn dần, cho đến khi
cô bước ra khỏi địa ngục và trở về với New
York.
Anna quay sang nhìn người vừa
cứu cô. Một hình người phủ đầy tro bụi. Nếu không có chiếc mũ và phù hiệu, cô
sẽ không thể nhận ra đó là một viên cảnh sát. Anh ta mỉm cười và đôi hàm răng
trắng bóng của anh ta hiện ra trên khuôn mặt đen như bồ hóng. “Cứ nhằm hướng
ánh sáng mà đi”, anh ta nói, và biến vào màn khói đen kịt trước khi cô kịp nói
lời cảm ơn.Amen.
Fenston chỉ dừng tìm cách
liên lạc với văn phòng của mình khi toà Tháp Bắc đổ sụp xuống trước mắt ông ta.
Ông ta để ống nghe xuống rồi chạy dọc theo hành lang để tìm Leapman. Gã đang
nguệch ngoạc dòng chữ “ĐÃ BÁN” lên cánh cửa một văn phòng không có người.
“Ngày mai sẽ có mười nghìn
người tới thuê chỗ này”, gã nói. “Ít nhất thì chúng ta cũng đã giải quyết được
một chuyện”.
“Ông có thể thay thế một văn
phòng, nhưng thứ ông không thể thay thế là tiền của tôi”, Fenston nói một cách
bực bội. Ông ta dừng lại. “Và nếu tôi không sờ được vào bức Van Gogh…”
Leapman nhìn đồng hồ. “Chắc
đã bay qua được một nửa Đại Tây Dương”.
“Hy vọng là thế, bởi vì bây
giờ thậm chí chúng ta chẳng còn tài liệu nào để chứng minh bức tranh đó thuộc
về mình”, Fenston vừa nói vừa nhìn ra ngoài cửa sổ. Ông ta nhìn chằm chằm vào
đám mây xám xịt đang lơ lửng trên khu vực nơi trước đó toà Tháp đôi vẫn vươn
lên kiêu hãnh.
Anna nhập vào một nhóm người
tả tơi khi họ thoát ra khỏi bóng tối. Mọi người quanh cô trông đều rã rời như
thể họ vừa kết thúc một cuộc chạy maratông, nhưng vẫn chưa đến đích. Thoát ra
khỏi bóng đen kinh hoàng đó, Anna nhận thấy mình không dám nhìn thẳng vào ông
mặt trời; thậm chí việc mở mí mắt ra cũng đã là một khó khăn đối với cô. Đi
tiếp, đi tiếp, cô loạng choạng, từng ly một, từng bước một và sau mỗi bước lại
gập người ho ra bụi và tro. Cô tự hỏi không hiểu còn bao nhiêu thứ chất lỏng
đen đặc ấy đọng lại trong người cô. Đi tiếp được vài bước nữa, cô khuỵu gối
xuống, rồi tiếp tục ho và khạc nhổ. Khi ngẩng nhìn lên, cô thấy một đám người
đang nhìn mình một cách kinh ngạc, như thể cô vừa hạ cánh xuống từ một hành
tinh khác.
“Chị đã có mặt ở một trong
hai toà tháp đó à?” một người hỏi cô. Anna không còn sức để trả lời, và cô
quyết định tránh xa những cặp mắt tò mò ấy càng nhanh càng tốt. Đi được vài
bước nữa, Anna đụng phải một du khách Nhật Bản đang cúi khom người để chụp ảnh
cô. Cô bực mình xua tay. Ông ta lại cúi thấp mình hơn nữa và xin lỗi.
Khi tới ngã tư tiếp theo, cô
ngã ngồi xuống bên vỉa hè và nhìn lên biển chỉ đường-cô đang ở giao lộ giữa phố
Franklin và phố
Nhà thờ. “Mình chỉ còn cách nhà Tina vài khu nhà nữa” là ý nghĩ đầu tiên của
cô. Nhưng Tina vẫn còn ở đâu đó sau cô, làm sao cô ấy có thể sống sót? Không
một tín hiệu cảnh báo, một chiếc xe buýt đỗ lại ngay sát bên cô. Cho dù trên xe
đã chật cứng người, giống như những toa xe điện ở San Francisco vào giờ cao điểm, mọi người vẫn
cố mở một đường cho cô lên. Chiếc xe buýt dừng lại ở mọi góc phố, để đón một số
người lên và thả một số người khác xuống, và không có ai hỏi thu tiền. Dường
như mọi người dân New York
đang đoàn kết lại để vượt qua thảm kịch này.
“Chúa ơi”, Anna thì thầm khi
ngồi trên xe buýt, hai tay ôm lấy mặt. Lần đầu tiên cô nghĩ tới những người
lính cứu hoả đi ngược chiều với mình nơi cầu thang bộ, tới Tina và Rebecca,
những người chắc có lẽ là đã thiệt mạng. Một thảm kịch không chỉ còn là một bản
tin khi một nạn nhân của nó là người mà ta quen biết.
Khi chiếc xe buýt dừng lại
tại một ngôi làng gần công viên Quảng trường Washington, Anna gần như ngã ra khỏi xe. Cô
loạng choạng đi lên vỉa hè, ho ra những cục bụi đen kịt. Cô đã cố nhịn để không
ho trên xe buýt. Một người phụ nữ cúi xuống và đưa cho cô một chai nước. Anna
súc miệng và nhổ ra một bãi nước đen nhờ. Cô tiếp tục súc miệng hết chai nước
mà không dám uống lấy một giọt. Người phụ nữ chỉ về phía một khách sạn nơi
những người thoát nạn đang vào ra từng đoàn. Chị ta nắm lấy tay Anna, rồi đưa
cô tới khách sạn đó và dẫn cô tới tận toa lét dành cho nữ giới ở tầng trệt.
Trong toa lét đầy người, cả nam lẫn nữ. Anna nhìn mình trong gương và hiểu tại
sao những người đi đường lại nhìn cô một cách tò mò như vậy. Trông cô như thể
vừa bị ai đó dội mấy thùng nước tro lên đầu. Cô rửa tay dưới vòi nước cho đến
khi chỉ còn những vết đen bám ở móng tay. Rồi cô bắt đầu tìm cách gột rửa lớp
bụi bám trên mặt-một công việc đầy khó khăn. Cô quay lại để cảm ơn người phụ nữ
lạ, nhưng chị ta, cũng giống như viên cảnh sát kia, đã biến mất.
Anna khập khiễng đi ra đường,
cổ họng khô rát, đầu gối rớm máu, chân phồng rộp và đau nhức. Vừa loạng choạng
đi dọc khu Waverly Place,
cô vừa cố nhớ số nhà của Tina. Cô đi qua nhà hàng Waverley Diner không một bóng
người, rồi dừng lại trước số nhà 273.
Anna nắm lấy thanh thép quen
thuộc ở bao lơn như nắm một sợi dây cứu mệnh và khập khiễng đi lên những bậc
thềm tới cánh cửa trước. Cô lấy tay lần theo những cái tên gắn trên một tấm
bảng cạnh cửa: Amato, Kravits, Gambino, O”Rourke, Forster… Forster, Forster, cô
lặp lại cái tên một cách sung sướng, trước khi ấn cái chuông nhỏ. Nhưng làm sao
Tina có thể trả lời tiếng gọi chuông của cô, khi mà chắc chắn là cô ta đã chết,
là ý nghĩ duy nhất của Anna lúc đó. Cô bỏ tay ra khỏi bảng tên như thể điều đó
có thể làm cho Tina sống lại. Cuối cùng cô quay mình bước đi, nước mắt chảy dàn
dụa trên khuôn mặt bám đầy tro bụi, rồi thình lình một giọng nói bực bội lên
tiếng hỏi, “Ai đấy?”
Anna khuỵu xuống bậc thềm.
“Ôi, Chúa ơi”, cô kêu lên,
“cậu vẫn còn sống, vẫn còn sống”.
“Nhưng cậu không thể”, một
giọng nói đầy ngờ vực cất lên.
“Mở cửa ra”, Anna nói, “và
cậu sẽ thấy mình vẫn còn đây”.
Tiếng chốt cửa được rút ra là
âm thanh tuyệt vời nhất mà Anna được nghe ngày hôm ấy.
Chương 13
Cậu vẫn còn sống ư?” Tina vừa
nói vừa mở toang cánh cửa và ôm chầm lấy bạn. Anna trông giống một người vừa
chui ra từ ống khói, nhưng điều đó không ngăn cản Tina ôm chặt lấy cô.
“Mình đang nghĩ lại chuyện
cậu lúc nào cũng làm mình bật cười và đang tự hỏi không hiểu từ giờ trở đi mình
có còn được cười nữa hay không, vừa lúc ấy thì có tiếng chuông”.
“Còn mình thì nghĩ rằng dù cậu
có tìm cách thoát được ra khỏi toà nhà, cậu cũng khó mà sống sót khi toà tháp
đổ xuống”.
“Nếu có một chai sâm banh, tớ
sẽ mở để chúng ta ăn mừng”, Tina nói và buông bạn ra.
“Mình chỉ cần một cốc cà phê,
và thêm một cốc nữa, rồi mình sẽ đi tắm”.
“May quá, mình có cà phê”,
Tina nói rồi nắm lấy tay bạn mình và dẫn Anna tới căn bếp nhỏ ở cuối hành lang.
Anna để lại phía sau cô những dấu chân xám xỉn trên thảm.
Anna ngồi xuống chiếc bàn
tròn nhỏ bằng gỗ và để tay vào lòng trong khi chiếc tivi không tiếng đang chiếu
những hình ảnh liên quan tới câu chuyện. Cô cố ngồi yên vì biết rằng bất kỳ thứ
gì bị cô chạm vào đều vấy bẩn. Tina dường như không để ý đến chuyện đó.
“Mình biết chuyện này nghe có
vẻ kỳ cục”, Anna nói, “nhưng mình thực sự không biết chuyện gì đang xảy ra”.
Tina vặn to chiếc tivi.
“Chỉ mười lăm phút”, Tina vừa
nói vừa rót cà phê, “và cậu sẽ biết hết mọi chuyện”.
Anna nhìn hình ảnh quay đi
quay lại cảnh một chiếc máy bay đang đâm vào Tháp Nam,
những người nhảy ra khỏi cửa sổ từ các tầng trên cao để chọn một cái chết ít
đau đớn, và sự sụp đổ của Tháp Nam
rồi đến Tháp Bắc.
“Và một chiếc máy bay nữa đâm
vào Lầu Năm góc à?” cô hỏi. “Vậy có tất cả bao nhiêu chiếc?”
“Còn một chiếc thứ tư nữa”,
Tina vừa nói vừa đặt hai cốc cà phê lên bàn, “nhưng không ai biết chắc nó đang
hướng tới đâu”.
“Nhà Trắng, chắc là thế”,
Anna nói, vừa lúc cô trông thấy Tổng thống Bush trên màn hình. Ông ta đang nói
từ căn cứ không quân Barksdale ở Louisiana:
“Hoa Kỳ sẽ truy tìm và tiêu diệt những kẻ đã thực hiện những hành động hèn nhát
này”.
Tivi lại chuyển sang những
hình ảnh về chiếc máy bay thứ hai đang lao vào Tháp Nam.
“Ôi, Chúa ơi”, Anna thốt lên.
“Mình thậm chí còn chưa nghĩ tới những hành khách vô tội trên những chiếc máy
bay đó. Kẻ nào đã gây nên tất cả những chuyện này?” cô hỏi, trong khi Tina rót
thêm cà phê cho cô.
“Bộ Ngoại giao khá thận
trọng”, Tina nói. “Và tất cả những đối tượng khả nghi nhất - Nga, Triều Tiên,
Iran, Iraq - đều vội lên tiếng, “Không phải tôi”, và thề rằng họ sẽ làm tất cả
để giúp truy tìm những kẻ phải chịu trách nhiệm”.
“Nhưng các cơ quan truyền
thông nói gì, bởi vì họ chẳng có lý do gì để phải giữ mồm giữ miệng”.
“CNN thì nói thẳng thủ phạm
là nhóm khủng bố Al-Qaeda ở Afghanistan - mình nghĩ mình đã đánh vần chính xác
cái tên đó, nhưng cũng không dám chắc vì chưa bao giờ chúng ta nghe nói đến tổ
chức này”, Tina vừa nói vừa ngồi xuống chiếc ghế đối diện với Anna.
“Mình nghĩ bọn chúng là một
lũ cuồng tín tôn giáo, những kẻ mà theo mình chỉ muốn nuốt chửng Arập Xêút để
chiếm đoạt nguồn dầu lửa ở đó”. Anna nhìn lên màn hình tivi và lắng nghe bình
luận viên đang nói về cảm giác của những người trong Tháp Bắc khi chiếc máy bay
đầu tiên đâm vào đó. Làm sao ông biết được cảm giác ấy, Anna muốn hỏi ông ta.
Một trăm phút thu lại thành vài giây, rồi quay đi quay lại giống như một mẩu
quảng cáo quen thuộc. Khi trên tivi hiện ra hình ảnh Tháp Nam đang đổ sụp
xuống và khói bụi bốc lên cuồn cuộn, Anna ho rũ rượi và làm tro bụi bay khắp
xung quanh.
“Cậu không sao chứ”, Tina vừa
hỏi vừa đứng bật dậy và nhoài người về phía bạn.
“Không sao đâu”, Anna nói rồi
uống một ngụm cà phê. “Mình tắt tivi được không, mình không thể chịu được cảnh
ấy thêm nữa”.
“Tất nhiên là được”, Tina vừa
nói vừa đưa tay với chiếc điều khiển từ xa. Những hình ảnh trên màn hình liền
tan biến.
“Mình không thể không nghĩ
đến những người bạn của chúng ta trong toà tháp”, Anna nói, trong khi Tina rót
thêm cà phê vào cốc của cô. “Mình băn khoăn không biết liệu Rebecca…”
“Không thấy tin tức gì từ cô
ấy”, Tina nói. “Barry là người duy nhất đã lên tiếng cho đến giờ phút này”.
“Ừ, mình cũng tin rằng Barry
là người đầu tiên thoát ra khỏi toà tháp. Anh ta sẽ xô ngã tất cả những ai cản
đường. Nhưng anh ta đã gọi cho ai?” Anna hỏi.
“Fenston, bằng điện thoại di
động”.
“Fenston?” Anna hỏi. “Làm sao
ông ta có thể thoát ra khi mà mình vừa rời văn phòng của ông ta được vài phút
thì máy bay đâm vào toà tháp?”
“Lúc đó ông ta đã tới Phố
Wall rồi - ông ta có hẹn với một khách hàng tiềm năng. Tài sản duy nhất của
khách hàng đó là một bức tranh của Gauguin. Đời nào ông ta chậm trễ trong những
chuyện như vậy”.
“Thế còn Leapman?” Anna nhấp
một ngụm cà phê rồi hỏi.
“Sau ông ta một bước, như mọi
khi”, Tina nói.
“Và đó là lý do tại sao cửa
thang máy lại mở sẵn”.
“Cửa thang máy à?” Tina hỏi
lại.
“Chuyện đó không quan trọng”,
Anna nói. “Nhưng tại sao sáng nay cậu lại không đi làm?”
“Mình có hẹn với nha sỹ”,
Tina nói. “Cuộc hẹn ấy đã được mình ghi vào nhật ký từ mấy tuần nay rồi”. Tina
dừng lại, nhìn qua bàn rồi nói tiếp, “Từ khi nghe tin, mình liên tục gọi điện
cho cậu, nhưng chỉ nghe thấy tiếng chuông. Vậy cậu đã ở đâu?”
“Bị tống ra khỏi phòng”, Anna
nói.
“Lính cứu hoả lôi đi à?” Tina hỏi.
“Không”, Anna đáp, “con vượn Barry ấy hộ tống mình”.
“Nhưng tại sao?” Tina ngạc nhiên hỏi tiếp.
“Bởi vì Fenston vừa đuổi việc mình”, Anna nói.
“Đuổi việc cậu?” Tina hỏi lại một cách ngờ vực. “Tại sao ông ta lại đuổi
cậu, vô lý thế?”
“Vì trong bản báo cáo mà mình gửi lên ban giám đốc, mình có kiến nghị rằng
Victoria Wentworth nên bán bức Van Gogh, vì điều đó sẽ cho phép bà ấy không
những thanh toán được nợ mà còn giữ lại được toàn bộ những tài sản khác”.
“Nhưng bức Van Gogh ấy là lý do duy nhất khiến Fenston đồng ý cho Victoria
vay tiền”, Tina nói. “Mình nghĩ là cậu biết rõ điều đó. Ông ta đã săn tìm một
bức như vậy trong nhiều năm trời. Chẳng đời nào ông ta chịu bán nó đi và giải
thoát cho Victoria. Nhưng không thể vì chuyện đó mà ông ta sa thải cậu. Cái cớ
mà - ”
“Mình cũng gửi một bản sao báo cáo đó cho khách hàng, mà mình nghĩ đó chỉ
là chuyện đạo đức nghề nghiệp”.
“Fenston thì có bao giờ nghĩ đến đạo đức nghề nghiệp. Nhưng đó cũng không
phải lý do khiến ông ta phải đuổi việc cậu ngay lập tức như thế”.
“Bởi vì mình sắp bay đi Anh quốc để báo cho Victoria Wentworth biết là mình
thậm chí đã tìm được một khách hàng tiềm năng cho bà ấy. Một nhà sưu tầm nổi
tiếng người Nhật Bản tên là Takashi Nakamura, một người mà mình nghĩ sẽ rất vui
sướng nếu vụ mua bán diễn ra nhanh gọn, nếu chúng ta biết cách ra giá”.
“Cậu thật sai lầm khi đề cập đến cái tên Nakamura”, Tina nói. “Dù là giá
cao đến mấy, Fenston cũng không bao giờ chịu bán cho Nakamura, bởi vì cả hai
người bọn họ đều đã cố tìm cho bằng được một bức tranh của Van Gogh trong nhiều
năm trời, và cũng là hai người luôn theo đến cùng trong mọi cuộc bán đấu giá
tranh của các hoạ sỹ Ấn tượng”.
“Tại sao ông ta không nói với mình điều đó?” Anna nói.
“Bởi vì Fenston không mấy khi muốn cho ai biết mình đang theo đuổi cái gì”,
Tina nói.
“Nhưng chúng ta cùng một đội mà”.
“Cậu ngây thơ quá, Anna ạ. Cậu không biết là trong đội của Fenston chỉ có
một người duy nhất thôi sao?”
“Nhưng ông ta không thể bắt Victoria giao bức tranh trừ phi - ”
“Mình không dám chắc về điều đó”, Tina nói.
“Tại sao?”
“Hôm qua Fenston đã gọi cho Ruth Parish và lệnh cho bà ta chuyển bức tranh
tới New York ngay lập tức. Mình nghe rõ ông ta lặp lại cụm từ “ngay lập tức”.
“Trước khi Victoria có cơ hội được làm theo lời khuyên của mình”.
“Đó cũng là lý do tại sao ông ta sa thải cậu trước khi cậu kịp lên máy bay
và làm vỡ kế hoạch của ông ta. Cậu phải nhớ là”, Tina nói thêm, “cậu không phải
là người đầu tiên phải chịu cảnh này”.
“Cậu muốn nói gì?” Anna hỏi.
“Nếu có ai đó biết được việc làm của Fenston, người đó sẽ ngay lập tức bị
đuổi ra khỏi cửa”.
“Thế tại sao ông ta chưa sa thải cậu?”
“Bởi vì mình chưa bao giờ đưa ra một kiến nghị mà ông ta không muốn nghe
theo”, Tina nói. “Mình nghĩ mình vẫn an toàn nếu cứ làm theo nguyên tắc ấy, ít
nhất là trong lúc này”.
Anna đập tay xuống bàn vì giận dữ, làm một đám mây bụi nhỏ bay lên. “Mình
ngốc quá”, cô nói. “Nhẽ ra mình đã phải hiểu ra chuyện đó, bây giờ thì mình chẳng
thể làm gì nổi”.
“Mình không chắc là như thế”, Tina nói. “Chúng ta còn chưa biết liệu Ruth
đã tới Lâu đài Wentworth lấy bức tranh ấy và gửi đi hay chưa. Nếu chưa, cậu vẫn
còn đủ thời gian để gọi cho Victoria và khuyên bà ấy giữ lại bức tranh cho đến
khi cậu thoả thuận xong với Nakamura - cách đó có thể giúp bà ấy trả hết nợ cho
Fenston và ông ta chẳng thể làm gì được”, Tina nói thêm, vừa lúc chuông điện
thoại cầm tay của chị vang lên. Chị kiểm tra mã số người gọi: “Sếp.” Chị đặt
tay lên môi. “Fenston đấy”, chị cảnh báo. “Có lẽ ông ta muốn kiểm tra xem cậu
đã liên lạc với mình chưa”, chị vừa nói vừa bấm nút nghe.
“Cô có biết là ai đang còn nằm trong đống đổ nát không?” Fenston hỏi trước
khi Tina kịp lên tiếng.
“Anna à?”
“Không”, Fenston nói. “Petrescu đã chết rồi”.
“Chết rồi ư?” Tina vừa nhắc lại vừa nhìn bạn mình qua bàn. “Nhưng-”
“Đúng thế đấy. Khi Barry báo cáo, anh ta khẳng định đã trông thấy cô ta nằm
trên sàn, vì vậy cô ta không thể sống sót được”.
“Tôi nghĩ ông sẽ thấy - ”
“Đừng lo gì về Petrescu nữa”, Fenston nói. “Tôi đã có kế hoạch thay thế cô
ta, nhưng thứ mà tôi không thể thay thế là tiền của tôi”.
Tina cảm thấy bị sốc đến mức gần như không thể lên tiếng, và chị vừa định
nói cho Fenston biết ông ta đã nhầm thì chợt nghĩ rằng chị có thể biến sự nhầm
lẫn của Fenston thành lợi thế của Petrescu.
“Như thế cũng có nghĩa là chúng ta đã mất bức tranh Van Gogh à?”
“Không”, Fenston nói. “Ruth Parish đã báo lại rằng bức tranh đang trên
đường từ London tới đây. Tối nay sẽ tới sân bay JFK, và Leapman sẽ đi nhận về”.
Tina ngồi bịch xuống ghế với một cảm giác thất vọng.
“Nhớ là 6 giờ sáng mai cô phải có mặt”.
“Sáu giờ?”
“Đúng vậy”, Fenston nói. “Và đừng có phàn nàn. Hôm nay cô đã được nghỉ cả
ngày rồi còn gì”.
“Thế tôi phải báo cáo ở đâu?” Tina hỏi, chẳng buồn tranh luận với ông ta.
“Tôi đã thuê văn phòng mới trên tầng 32 của toà nhà Trump Building ở số 40
Phố Wall, vì vậy chúng ta vẫn có thể hoạt động bình thường”. Ông ta dập điện
thoại.
“Ông ta nghĩ rằng cậu đã chết”, Tina nói, “và ông đang cuống lên vì bị mất
tiền”, chị nói thêm và đậy nắp điện thoại lại.
“Ông ta sẽ nhanh chóng phát hiện ra là mình đã nhầm”, Anna nói.
“Chỉ khi cậu muốn cho ông ta biết”, Tina nói. “Có ai nhận ra cậu khi cậu
thoát ra khỏi toà nhà ấy không?”
“Cứ nhìn mình đây thì biết”, Anna nói.
“Thế thì cứ im tiếng đã, trong khi đó bọn mình sẽ nghĩ cách xem cần phải
làm gì. Fenston nói bức Van Gogh đang trên đường tới đây và Leapman sẽ tới sân
bay JFK để nhận ngay khi máy bay hạ cánh”.
“Thế thì chúng ta có thể làm gì?”
“Mình sẽ tìm cách làm cho ông ta bị chậm giờ, trong khi đó cậu đi lấy bức
tranh”.
“Nhưng mình biết làm gì với nó”, Anna hỏi, “trong khi chắc chắn Fenston sẽ
cho người đi tìm mình”.
“Cậu có thể lên chuyến bay đầu tiên tới London, và gửi trả lại bức tranh
cho Victoria”.
“Mình không thể làm thế nếu không được sự cho phép của Victoria”, Anna nói.
“Lạy Chúa, Anna, cậu lớn lên ở đâu vậy? Cậu phải thôi cái kiểu suy nghĩ của
một bà hiệu trưởng ấy đi và bắt đầu nghĩ xem Fenston sẽ làm gì nếu ông ta ở vào
địa vị của cậu”.
“Ông ta đã biết mấy giờ máy bay sẽ hạ cánh”, Anna nói. “Vì vậy việc đầu
tiên mình phải làm là - ”
“Việc đầu tiên cậu phải làm là đi tắm, trong khi mình kiểm tra giờ hạ cánh
của máy bay và đồng thời kiểm tra lịch trình của Leapman”, Tina vừa nói vừa
đứng dậy. “Bởi vì có một điều chắc chắn là trong bộ dạng như thế này, họ sẽ
chẳng cho cậu nhận bất cứ thứ gì ở sân bay”.
Anna uống hết cốc cà phê rồi theo bạn bước ra hành lang. Tina mở cửa phòng
tắm và nhìn bạn mình thật kỹ. “Gặp lại cậu sau - ” chị ngập ngừng - “một tiếng
nữa”.
Lần đầu tiên trong ngày, Anna cười phá lên.
Anna chầm chậm cởi hết quần áo ra rồi vứt thành một đống trên nền nhà tắm.
Cô liếc nhìn vào gương, và thấy trong đó một người hoàn toàn xa lạ. Cô cởi
chiếc dây chuyền bằng bạc quanh cổ ra và đặt nó lên thành bồn tắm, gần một
chiếc du thuyền mô hình. Cuối cùng cô cởi đồng hồ ra. Chiếc đồng hồ đã dừng
chạy lúc 8 giờ 46 phút. Chỉ chậm vài giây nữa là cô đã bước vào thang máy.
Đứng dưới vòi nước hoa sen, cô bắt đầu nghĩ đến kế hoạch táo bạo của Tina.
Cô vặn to cả hai vòi và để cho nước xối lên người một lúc trước khi bắt đầu kỳ
cọ. Cô nhìn dòng nước chuyển dần từ màu đen sang màu xám, nhưng dù có kỳ mạnh
đến đâu, dòng nước chảy từ người cô xuống vẫn có màu xám. Anna kỳ mãi cho đến
khi da cô đỏ ửng lên và đau rát, trước khi cô chú ý đến lọ dầu gội đầu. Anna
gội đầu ba lần trước khi bước ra khỏi vòi nước, nhưng chắc phải còn lâu mọi
người mới nhận ra rằng mái tóc cô vốn có màu vàng tự nhiên. Anna chẳng buồn lau
khô người; cô cúi xuống, cắm phích bồn tắm và vặn vòi nước. Nằm trong bồn tắm
đầy bọt xà phòng, cô nhớ lại tất cả những gì vừa diễn ra trong ngày hôm đó.
Cô nghĩ đến những người bạn và những đồng nghiệp chắc còn bị mắc kẹt trong
đống đổ nát, và thấy mình thật may mắn. Nhưng bây giờ chưa phải là lúc để than
khóc. Cô còn phải cứu Victoria thoát khỏi một cái chết từ từ.
Những suy nghĩ của Anna bị gián đoạn vì tiếng gõ cửa của Tina. Chị bước vào
và ngồi lên thành bồn. “Trông khá lên nhiều rồi”, chị vừa nói vừa mỉm cười sau
khi ngắm nhìn thân thể vừa được kỳ cọ kỹ của Anna.
“Mình đã nghĩ về ý kiến của cậu”, Anna nói, “và giá mình có thể - ”
“Thay đổi kế hoạch”, Tina nói. “FAA vừa thông báo rằng mọi chuyến bay trên
bầu trời nước Mỹ đều phải hạ cánh ngay và không một chiếc máy bay nào được bay
vào nước Mỹ trước khi có thông báo mới, vì vậy vào lúc này bức Van Gogh đang
trên đường quay trở lại sân bay Heathrow”.
“Vậy thì mình phải gọi điện cho Phu nhân Victoria ngay”, Anna nói, “và nói
với bà ấy yêu cầu Ruth Parish đưa bức tranh trở lại Lâu đài Wentworth”.
“Đồng ý”, Tina nói. “nhưng mình vừa phát hiện ra rằng Fenston còn mất một
thứ quan trọng hơn cả tiền bạc”.
“Đối với ông ta thì cái gì là quan trọng hơn tiền?” Anna hỏi.
“Hợp đồng với Victoria, và tất cả các tài liệu chứng minh rằng bức Van Gogh
là của ông ta, cùng với toàn bộ tài sản của Lâu đài Wentworth trong trường hợp
Phu nhân Wentworth không trả được nợ”.
“Nhưng ông ta không giữ các tài liệu sao lưu à?”
Tina ngập ngừng. “Có”, chị nói, “trong một chiếc két ở văn phòng của ông
ta”.
“Nhưng đừng có quên là Victoria cũng có những tài liệu đó”.
Tina lại ngập ngừng. “Không, nếu bà ấy chấp nhận huỷ bỏ chúng”.
“Victoria sẽ không bao giờ làm chuyện đó”, Anna nói.
“Sao cậu không gọi điện cho bà ấy thử xem? Nếu bà ấy chấp nhận, cậu sẽ có
thêm thời gian để thu xếp bán bức tranh giúp bà ấy thanh toán nợ cho Fenston
Finance, trước khi ông ta kịp giở trò”.
“Chỉ còn một vấn đề”.
“Gì vậy?” Tina hỏi.
“Mình không có số điện thoại của bà ấy. Tài liệu về bà ấy nằm trong văn
phòng của mình và mình đã mất mọi thứ, kể cả điện thoại di động và ví”.
“Mình tin chắc tổng đài quốc tế có thể giúp giải quyết chuyện này”, Tina
nói. “Tại sao cậu không lau khô người đi và mặc một chiếc áo ngủ của tớ vào.
Sau đó chúng ta sẽ tìm xem có bộ nào hợp với cậu không”.
“Cảm ơn cậu”, Anna vừa nói vừa nắm lấy tay bạn.
“Cậu sẽ không cảm ơn mình nếu cậu biết mình cho cậu ăn trưa bằng món gì.
Mình đâu có nghĩ là sẽ được đón tiếp cậu, và vậy cậu sẽ phải ăn món mỳ thừa của
Trung Quốc”.
“Nghe có vẻ tuyệt đấy”, Anna nói và đứng dậy bước ra khỏi bồn tắm rồi với
một chiếc khăn quấn quanh mình.
“Gặp cậu sau vài phút nhé”, Tina nói, “lúc đó lò vi sóng đã hoàn thiện món
sở trường của mình”. Chị quay mình bước ra khỏi phòng tắm.
“Tina, mình hỏi cậu một chuyện được không?”
“Bất cứ chuyện gì”.
“Tại sao cậu vẫn tiếp tục làm việc cho Fenston, trong khi rõ ràng là cậu
ghét cay ghét đắng ông ta, chẳng khác gì mình?”
Tina lưỡng lự. “Chuyện gì cũng được, trừ chuyện đó”, cuối cùng đáp và nhẹ
nhàng khép cánh cửa phòng tắm lại sau lưng mình.

