Luận Anh Hùng - Phần V - Chương 24 - phần 1

IV.
Bạn bè như vậy

Ung Chính còn biết kết giao bè bạn? Biết
chứ. Ung Chính thích thú nhất với quan hệ quân thần: “Nghĩa vững như quân thần,
tình giống như bằng hữu”. Chỉ có điều, là “bằng hữu” với Ung Chính không dễ.
Nếu ai đó đã phụ “ý tốt” của Ung Chính thì lập tức sẽ bị trở mặt và trở mặt lợi
hại hơn nhiều so với bè bạn thông thường.

Con người Ung Chính bất kể là đương thời
hay hậu thế đều rất dễ bị hiểu lầm. Ung Chính khô khan độc đoán, cương nghị
khắc nghiệt, sấm rền gió giật, không hề nể mặt, nổi tiếng là “vương gia mặt
lạnh” và “hoàng đế máu rắn”. Thêm nữa hàng ngày hàng đêm Ung Chính xử lý chính
sự, không được nhiều người vui lòng thích thú, vì vậy, không ít người tưởng
tượng Ung Chính thành lão già cứng nhắc đơn độc, thành bạo chúa tâm lý khác
thường hoặc một cỗ máy giết người lạnh tanh. Thực ra, không phải thế. Ung Chính
khe khắt nhưng ban không ít ân, Ung Chính lạnh lùng nhưng không vô tình. Không
chỉ có tình, thậm chí Ung Chính còn làm việc theo tình cảm. Và cũng chính vì
làm việc theo tình cảm lại chua chát, khe khắt nên Ung Chính đã làm tổn thương
người khác, nhiều người không thể tiếp thu nổi.

Thực ra ở Ung Chính cũng có mặt ôn hòa.
Trên các sớ tấu thỉnh an của các thần tử, Ung Chính thường phê: “Trẫm vẫn khỏe,
khanh có khỏe không” hoặc “trẫm khỏe, ngươi khỏe không?”. Lời phê ngắn ngủi
nhưng ngữ khí lại đượm màu thân thiết, không phải là lời văn đầy vẻ quan
trường. Ung Chính cũng biết nói chuyện phiếm, chuyện nhà chuyện cửa với các
thần hạ. Những lúc hứng khởi, thích nói gì thì nói nấy. Ví như: “Hay lắm, hay
lắm! Sau khi đọc xong bản tấu này mà không thích, không vui, trừ phi không phải
hoàng đế” hoặc “Lý Chi Anh không còn là người nữa! Đáng cười! Thực buồn cười!”,
“Truyền khẩu dụ cho hắn, trẫm cười đến chết mất, thực là vũ phu!”. Ung Chính
còn viết cả bốn chữ vào bản tấu: “Nên! Nên! Nên! Nên!”. Đúng là yêu ghét hiền
ác đều hiện thành lời, vui cười giận mắng đều thành văn, không làm ra vẻ hoàng
đế, lại từa tựa như thánh nhân. Chẳng trách sử gia đã công nhận, đọc ngự phê
của Ung Chính quả thấy thú vị, đọc ra một Ung Chính đích thực.

Đôi lúc Ung Chính còn tỏ vẻ ấm ức với các
thần hạ, “trẫm có những nỗi khổ không nói hết được” hoặc “trẫm bi phẫn đến uất
ức, không thể hình dung thành lời, đành chịu vậy”. Nghiêm trọng nhất là sau khi
nghe được lời “phỉ báng” của Tằng Tĩnh, Ung Chính nói với Ngạc Nhĩ Thái: “Làm
gì có chuyện buồn cười như vậy, có người đáng hận như vậy. Tuy là lời nghịch
của loại phỉ, nhưng cũng phải có nguyên nhân gì chứ. Như vậy là trẫm không làm
nổi hoàng đế nước Đại Thanh! Còn muốn trẫm phải làm gì nữa?”. Rõ ràng là uất ức
đầy bụng cũng không biết thổ lộ cùng ai. Hoàng đế không nên nói ra những lời
uất ức, đằng này lại nói tới mức “không làm nổi hoàng đế”, có thể coi đây là
nỗi uất ức lớn nhất trong lịch sử. Uất ức được thổ lộ với thần liêu, thần liêu
được coi là bè bạn.

Ung Chính cũng biết thể tình, khoan dung với thần liêu, Tổng binh
Đài Loan, Lam Đình Trân(1) có
tên trùng với tên của Ung Chính, dâng biểu cầu xin được đổi tên, tránh tội phạm
húy, Ung Chính đã bảo không cần, còn nói thêm, “Trẫm rất thích cái tên này”.
Thạch Văn Trác nhận lệnh thẩm án tham ô của Trình Như Ty, vì lần trước đã hoàn
thành tốt công việc, lần này người liên quan tới án rất phức tạp, nên phải đắn
đo suy nghĩ, hốt hoảng không yên, Ung Chính cũng nói không cần “Trẫm sẽ lượng
thứ, vì lần này có nhiều điểm khó”. Tổng đốc Lưỡng Quảng, Khổng Dục Tuần nhận
mua và vận chuyển gỗ tử đàn cho Niên Canh Nghiêu, sau khi Niên bị đổ, đã dâng
sớ xin chịu tội, Ung Chính nói: “Đó là tội nhỏ, lý nào trẫm lại không lượng
thứ? Trẫm không trách ngươi đâu”. Hơn thế, Ung Chính còn nói thêm: Niên Canh
Nghiêu được thể làm bừa, “Do trẫm nhìn nhầm người, sủng ái một tên phỉ. Tự trẫm
sẽ xem lại, cớ gì để liên lụy tới người vô tội?”. Ung Chính đã nhận mọi trách
nhiệm. Cũng vậy, mọi người hết sức cảm động khi Ung Chính đã giải thoát cho
tổng binh Hưng Hán, Thiểm Tây, Lưu Thế Minh. Vì có người em là Lưu Tích Viện
móc nối với phỉ và bị bắt, nên Lưu Thế Minh đã dâng sớ xin chịu tội, nói: “Bản
thân không chính, người khác chính sao được, đối mặt với thuộc viên, thần hổ
thẹn cấp báo vậy”. Ung Chính an ủi luôn: Trẫm cũng có hai người em A Kỳ Na, Tắc
Tư Hắc như vậy, ai dám đảm bảo Lưu Thế Minh không có em như Lưu Tích Viện?
Không chỉ anh em mà ngay cả con cái, ai mà biết chúng đang nghĩ gì, làm gì?”.
Mấy lời nói thật chân thành. Vì vậy Ung Chính khoan dung với Khổng Dục Tuần,
Lưu Thế Minh, được coi là “làm trò” với mục đích chính trị và “làm trò” một
cách chân thành.

(1)
Chữ Trân trong tên của Lam Đình Trân và chữ Chân trong Dận Trân có cùng âm đọc
là “zhen” (BTV).

Có nhiều điểm chứng tỏ Ung Chính luôn quan
tâm ưu ái thần hạ, như dắt dẫn từ từ từng bước từng bước, thể tình với người
khác. Tháng tám năm thứ nhất, Ung Chính ban cho Bố chánh sứ Phúc Kiến Hoàng
Thúc Uyển được quyền mật tấu (phần sau sẽ nói rõ hơn về đặc quyền này). Hoàng
dâng sớ tạ ân, Ung Chính có lời dặn dò: Khanh có đặc quyền nhưng không được lạm
dụng, bừa bãi: 1. Không được lấy đó để ép cấp trên. 2. Không thể phô trương với
người khác. 3. Không thể dâng tấu liên miên. Tấu nhiều lần, cấp trên sẽ nghi
ngờ khanh, thật bất lợi. Điền Văn Kính được phá lệ thăng nhiệm làm tuần phủ Hà
Nam. Điền vô cùng cảm tạ ân đức đó. Ung Chính liền dặn dò thêm: “Quá lo về
chuyện thiên hạ là không đủ sức, phải biết nên làm gì”. Không nên vì báo ân mà
làm việc quá sức, là không tốt. Sau này, Điền Văn Kính thúc đẩy việc cải cách
của Ung Chính, khắp nơi vang lên bài ca của nước Sở(2), Ung Chính lại an ủi: “Tránh sao khỏi
lời ca thán của lũ tiểu nhân, không cần phải bực bội, hẹp hòi”. Hoàng đế cất
nhắc đại thần, ai cũng mong được thần hạ cảm ơn báo đáp, Ung Chính cũng vậy.
Nhưng trong lúc Điền Văn Kính vội vã muốn báo đáp, Ung Chính lại giúp để ngăn
ngừa sự nôn nóng, như vậy là hiểu người; trong lúc Điền bị công kích, Ung Chính
lại khoan dung giúp đỡ, như vậy là giỏi dùng người.

(2)
Ý chỉ sự oán thán, than vãn (BTV).

Ung Chính không chỉ biết bồi dưỡng năng
thần, trọng thưởng gián thần, còn không so đo chuyện họ có phạm thượng hay
không, có nói những lời đúng sai hay không. Lúc Ung Chính vừa lên ngôi, ở ban
kiểm thảo Hàn lâm viện có người là Tôn Gia Cam dâng thư bàn việc, yêu cầu Ung
Chính thân cốt nhục, bỏ quyên nạp, bãi Tây binh. Nếu nói là bỏ quyên nạp (bỏ
việc bán quan) thì còn có thể bàn, còn hai việc kia đều là việc Ung Chính không
muốn nghe. Quan viên Hàn lâm viện vốn là các quan thị tòng văn học, không nên
nhiều chuyện; quan vị của Tôn Gia Cam lại rất thấp, là quan thất phẩm. Quan
thất phẩm muốn nhảy ra gây chuyện với hoàng thượng, muốn bàn về phương châm
chính trị to lớn của đất nước, khác gì muốn tìm đến chỗ chết. Vì vậy, Ung Chính
long nhan thịnh nộ, trách vấn viện học sĩ (viện trưởng) Hàn lâm viện, là làm
gì, sao lại điên cuồng như vậy? Thái phó Chu Thức ở bên cạnh nói, người này tuy
điên cuồng bừa bãi, nhưng thần rất phục vì hắn thực gan dạ. Ung Chính liền
giương mắt nhìn Chu Thức, nghĩ một lát rồi cười nói: Ngay như trẫm cũng không
thể không phục sự gan dạ của người này. Lập tức cất nhắc Tôn Gia Cam là Quốc tử
giám tư nghiệp. Sau này, Tôn Gia Cam vẫn luôn nêu ý kiến. Ý kiến tuy không được
dùng, nhưng Tôn vẫn luôn thăng tiến.

Có điều, những ai luôn xem thường chế độ
của đất nước, nghi lễ quân thần, Ung Chính sẽ không bao giờ thể tình với người
đó. Tháng tư năm thứ hai, Ung Chính bình định xong Thanh Hải, được các quan
triều bái chúc mừng. Viên ngoại lang bộ Hình là Lý Kiến Huân và La Thực đã thất
lễ trước mặt vua, bị ngôn quan(3)
hạch tội đại bất kính, theo luật đáng phải chém đầu. Ung Chính nói, nay ngày
đại hỷ, hãy gửi lại hai cái đầu của họ. Nghi thức tiếp tục, lại có người phạm
sai lầm, sẽ giết luôn chúng. Lúc đó, đừng nói là trẫm muốn giết người, mà là
người không giữ quy chế muốn giết chúng. Cũng tức là, hai người đó chết hay
không chết, quyết định bởi người khác có phạm sai lầm hay không, người phạm sai
lầm không chỉ bị xử trị, mà còn phải gánh trách nhiệm hại chết người khác. Chỉ
có Ung Chính mới có được sự “tính toán xuất thần” như vậy.

(3)
Ngôn quan: Là một bộ phận cấu thành kết cấu quan lại phong kiến. Nhiệm vụ chính
là quan giám sát và can gián bề trên. Quyền lợi của ngôn quan khá lớn, đặc biệt
là ở thời Minh, đến hoàng thượng cũng phải kính nể (BTV).

Một mặt thì ôn tồn chỉ dẫn từng ly từng tí
một, mặt khác lại đâm thủng đầu tóc máu kẻ có lòng lang dạ sói bằng con dao
nhọn; một mặt từ một chút không như ý đã biến thành tội lớn, mặt khác, một xúc
phạm ghê gớm lại được coi nhẹ, đáng để thưởng thức, nhiều người lại coi đó là
sự “buồn vui thất thường” của Ung Chính. Ngạc Nhĩ Thái lại thấu hiểu sự huyền
bí ở trong đó. Ngạc Nhĩ Thái cũng là người từng vuốt râu con hổ Ung Chính. Ngạc
Nhĩ Thái, tự Nghị Am, họ Tây Lâm Giác La, người Tương Lam Kỳ Mãn Châu, thế tập
quý tộc. Ngạc Nhĩ Thái rất có tài, năm hai mươi tuổi đậu cử nhân, năm hai mươi
mốt tuổi là ngự tiền thị vệ, nhưng vì là người cương trực, không chịu dựa dẫm ỷ
thế, nên mãi năm bốn mươi tuổi mới là viên ngoại lang phủ Nội vụ. Ngạc Nhĩ Thái
viết vài câu thơ: “Xem ra bốn mươi là như vậy, dù đến trăm năm vẫn uổng công”.
Lúc đó Ung Chính còn là Thân vương, đã nhờ người chuyển lời đến Ngạc Nhĩ Thái
nhờ làm việc, có ý muốn kéo Nhĩ Thái nhập bọn, nào ngờ Ngạc Nhĩ Thái đã từ chối
thẳng thừng, nói “Hoàng tử nên nuôi đức xuân hoa, không nên kết giao ngoại
thần”. Ý muốn nói, Ung Thân vương nên tự trọng, gìn giữ luật pháp. Ung Chính đã
va vào chiếc đinh mềm, không chỉ không hận Ngạc Nhĩ Thái, ngược lại còn rất tán
thưởng, khâm phục một nam tử hán một trực thần địa vị thấp hèn nhưng dám chống
lại Thân vương chí tôn. Sau khi lên ngôi đã nhanh chóng trọng dụng Ngạc Nhĩ
Thái. Một năm thăng phiên tử, ba năm thăng tổng đốc, sau mười năm thăng thủ
phụ, trở thành người - được Ung Chính tín nhiệm nhất chỉ sau Doãn Tường.

Quân thần gặp gỡ như vậy, ai mà không
ngưỡng mộ, vì vậy mọi người muốn biết bí quyết làm gì để được sủng ái. Ngạc Nhĩ
Thái cũng không hề giấu giếm. Ngạc Nhĩ Thái từng nói, cách dùng người của đương
kim hoàng thượng là “vô cùng thần kỳ” nhưng không ngoài hai chữ: Chí thành.
Cũng tức là, hoàng thượng đối với thần hạ chí thành, thần hạ đối với hoàng
thượng cũng phải chí thành. Thành là linh, linh là thông. Nếu quần thần luôn
đối xử với nhau chí thành, thì trên dưới hết trở ngại, cùng nhau tương thông.
Tâm linh giữa quân thần tương thông, tự nhiên sẽ luôn thông suốt. Vì vậy, làm
việc với Ung Chính, nói dễ không dễ, nói khó không khó. Chỉ một câu thôi, cần
phải “thực tâm thực lực”, “mọi hy vọng, suy đoán khác đều vô dụng, đều không
thể”. Vì hoàng thượng không hề thành kiến với ai, chỉ là anh có thành tâm hay
không. Nếu là trung thành, thật thà, dù phạm sai lầm lớn cũng chẳng sao, nếu là
thủ đoạn, lấy lòng, dù khuyết điểm nhỏ, cũng không tránh khỏi bị khiển trách
(nếu không lừa dối, sai lầm lớn cũng tha; nếu bày đặt hoặc lấy lòng, việc tuy
nhỏ cũng bị trừng phạt). Thực tế đó cho chúng ta hay: Trước mặt Ung Chính, phải
thành thực, giữ bổn phận, nhìn thực tại, có một nói một, có hai nói hai; đừng
mơ tưởng, suy đoán; đừng thủ đoạn, lấy lòng; đừng văn hoa, chải chuốt, đừng tự
cho là thanh cao. Chỉ cần không dẻo mỏ, không giở trò, thì Ung Chính luôn là
ông chủ dễ hầu hạ.

Ung Chính luôn tán thưởng cách nói của Ngạc
Nhĩ Thái. Xem sớ tấu của Ngạc Nhĩ Thái, Ung Chính đã có lời phê: “Trẫm nén lệ
mà đọc”. Nói vậy là thực bụng. Vì từng câu từng chữ của Ngạc Nhĩ Thái đã nói
được nỗi lòng của Ung Chính.

Ung Chính là người có lòng tự tin và tự thị
(tự thừa nhận mình) rất cao. Có người phê bình Ung Chính là “tính cao ngạo, lại
nghi kỵ, tự cho rằng trong thiên hạ không có việc gì là không biết rõ, không có
việc gì không làm được”, nghe cũng có lý. Cả đời Ung Chính chỉ có ba điều thấy
tự đắc và tự khen. 1. Tự cho hết lòng vì công việc, nghĩ gì làm gì đều vì quốc
gia xã tắc; 2. Tự cho là, nắm rõ từng việc, không ai có thể giấu được điều gì;
3. Tự cho mình là thanh cao, mắt không
có hạt cát nào, lòng dạ không vướng một chút bụi trần. Là hoàng đế, có thêm ba
điều đó, nên Ung Chính sẽ chẳng nể tình khách khí với bất kỳ thần liêu nào. Ai
đó dám giở trò mẹo vặt trước Ung Chính hoặc bị Ung Chính coi là kẻ hay giở trò,
thì đừng trách vì sao Ung Chính không nể mặt.

Như Dương Danh Thời đã nói ở phần trước,
mọi đen đủi đã đổ lên đầu người này. Dương Danh Thời kiến nghị tu sửa kênh đào
Tuấn Nhĩ Hà là một việc tốt, nhưng Ung Chính lại cho Dương lòng dạ bất kính. Lý
do là: 1. Là việc tốt sao sớm không làm tối không làm, sớm không nói tối không
nói, lại đề xuất vào lúc bản thân sắp bị điều khỏi nhiệm sở. 2. Vì sao không
dùng loại tấu bảo mật để xin ý kiến hoàng thượng, lại dùng tấu không bảo mật,
cố ý để cả triều đều biết? 3. Vì sao không chờ quan mới đến nhiệm sở và quan
mới sẽ dâng tấu hoặc liên doanh cùng dâng tấu? Rõ ràng, Dương Danh Thời muốn có
hư danh. Sự việc đã quá rõ ràng! Việc tu sửa kênh đào này là công trình như thế
nào, chẳng lẽ Dương Danh Thời có thể hoàn thành trước khi rời nhiệm sở? Đương
nhiên là người sau phải làm việc đó. Biết việc do người sau làm, vậy vì sao
phải giành nêu ý kiến trước? Chẳng phải việc dành cho người khác, tiếng tăm thì
dành cho mình hay sao? Muốn thiên hạ biết mình là người thương dân, nên phải
giở trò với hoàng đế, tấu báo không bảo mật, là ý gì vậy? Sợ hoàng đế không báo
với thiên hạ rằng đó là chủ ý của ngài Dương chăng?

Vì vậy Ung Chính mới phẫn nộ và có lời chê
trách, bụng dạ ngươi chỉ nghĩ đến mình, không nghĩ đến người khác, thậm chí
ngươi là kẻ không coi trên coi dưới ra gì, còn dám giơ mặt ra tự nhận mình là
người có học sao? Vì vậy, Ung Chính mới phạt Dương Danh Thời tự bỏ tiền ra tu sửa,
nếu chưa xong thì con cháu tu sửa tiếp. Ung Chính nói, phải phạt như vậy để
“người thiên hạ đều hiểu kẻ chuộng hư danh không chỉ bản thân phải chịu tội, mà
còn liên lụy tới con cháu sau này”.

Ung Chính có những yêu cầu khắt khe với
người khác, còn bản thân thì thế nào? Ung Chính cho rằng mình làm tốt. Ung
Chính nói: “Lương tâm trẫm có thể xứng với trời xanh, xứng với hoàng khảo, có
thể tặng cho ức vạn thần dân trong thiên hạ”. Ung Chính đúng là “một lòng vì
công”, một lòng một dạ, chân thành trị lý tốt thiên hạ, đất nước. Ung Chính
thức khuya dậy sớm, áo mỏng cơm thường, mười ba năm như một ngày. Lúc nào cũng
mạnh mẽ không nghỉ, lúc nào cũng đề phòng cẩn thận. Mờ sáng đã dậy, tối mịt mới
nghỉ, ăn một chút gì đó. Chưa nói tới việc khác, chỉ riêng số công văn đã phê
duyệt đã in thành “Thượng dụ nội các” gồm một trăm năm mươi chín quyển; “Chu
phê dụ chỉ” gồm ba trăm sáu mươi quyển, còn những giấy tờ chưa in thì không
biết là bao nhiêu. Ngoài ra còn một khối lượng lớn công việc khác. Tinh thần
kính nghiệp, tinh thần cần chính của Ung Chính, hầu như được mọi nhà sử học
công nhận.

Cuộc sống của cá nhân Ung Chính cũng rất
đơn giản, không thích chơi bời vui vẻ, không thích săn bắn, cũng không thật háo
sắc. Ung Chính cũng thích một vài trò chơi thông thường, nhưng không quá say
mê. Có một vài thứ Ung Chính rất thích và còn có tác dụng nữa như kính mắt. Thị
lực Ung Chính không tốt, nên rất thích kính mắt. Ung Chính từng lệnh cho thợ
kính chế tạo ra nhiều loại kính, mỗi loại để ở một nơi nhất định, tiện cho việc
sử dụng lúc Ung Chính làm việc, Ung Chính còn phân phát kính cho vương công đại
thần, mục đích là để họ chăm chỉ với việc công. Thậm chí Ung Chính còn hạ lệnh
phát kính cho công nhân làm việc nơi có nhiều khói bụi, làm đồ bảo hộ lao động.
Về mặt “coi thiên hạ là việc của mình”, Ung Chính luôn luôn lấy mình làm mẫu
mực.

Ung Chính cũng không phải hoàng đế hồ đồ.
Ung Chính từng nói với quần thần: Trẫm đã có hơn bốn mươi năm ở Phiên đệ(4), đã quen thuộc thấu hiểu nhân
tình cùng mọi thứ, đâu còn là hoàng đế trẻ con chưa từng trải, cũng không phải
là loại a ca ngồi không hưởng lạc. Vì vậy, Ung Chính cho rằng mình đủ tư cách,
năng lực có những yêu cầu nghiêm khắc với thần hạ. Hơn nữa, Ung Chính còn cho
rằng, chỉ cần quân thần hai bên đối xử chân thành với nhau, thần hạ không tìm
cách lấy lòng hoàng thượng, che giấu hoàng thượng, hoàng thượng cũng không nghi
ngờ thần hạ, đề phòng thần hạ, thì hai bên hoàn toàn có thể xây dựng quan hệ
thân tình, bè bạn như kiểu hoàng đế và Ngạc Nhĩ Thái.

(4)
Phiên đệ: Phụ trách của các Phiên vương - tức Thân vương là Quận vương (BTV).

Hiển nhiên, Ung Chính yêu cầu thần hạ không
thấp. Không chỉ yêu cầu họ hiến thân, còn yêu cầu họ hiến cả tâm hồn, không chỉ
yêu cầu họ phải nghe lời, còn yêu cầu họ phải hết lòng. Chỉ một câu thôi, không
ai được suy nghĩ khác, “chỉ một điều chí thành”.

Ung Chính suy nghĩ rất hay, tiếc là không
thực hiện được. Khoảng cách giữa quân thần là một trời một vực. Một người ở tít
trên cao, sấm sét mưa móc đều là ân, một kẻ ở tít phía dưới, sơ sẩy một chút là
sai lầm. Trời đất cách biệt nhường ấy, làm gì còn có thể “rất thân thiết”? Làm
gì để thân thiết cho được? Còn nói những là giao cả tâm hồn, con tim, kéo đứt
đi vậy! Tâm tư của thần hạ, muốn giấu cũng không giấu nổi, còn dám giao ra? Dù
đó là yêu cầu, cũng không dám giương mắt ra gánh vác. Vì sao vậy? Sợ vượt quá
bổn phận. Như chuyện Điền Văn Kính muốn “đổi tịch”, không dám nói với Ung
Chính, đành phải nhờ Dương Văn Càn nói hộ(5). Sau đó, Ung Chính đã trách Điền Văn Kính “Vì sao lại không nói
thật”, còn nói, “Trẫm rất giận ngươi” nhưng giận thì cứ giận, lần sau Điền Văn
Kính vẫn không dám nói! Dù có hồ đồ, thì Điền Văn Kính cũng không thể không
biết, ranh giới giữa quân thần không phải là “ân nghĩa” mà là “trên trời dưới
đất”, làm gì có chuyện, có gì thì cứ nói?

(5)
Điền Văn Kính vốn thuộc Hán quân Chính Lam Kì. Chính Lam Kì thấp nhất trong năm
kì. Điền Văn Chính không yên phận với địa vị đó, nhưng không dám nói với Ung
Chính, đành phải nói với cấp dưới bố chánh sứ Hà Nam, người Hán quân Chính Bạch
Kì là Dương Văn Càn. Sau này Dương là tuần phủ Quảng Đông, lúc bệ kiến mới tâu
với Ung Chính, Ung Chính liền cho Điền Văn Kính vào Chính Hoàng Kì (Tác giả).

Kỳ thực, ngay như Ngạc Nhĩ Thái cũng rất
hiểu: Đối với Ung Chính, Ngạc Nhĩ Thái không thể nói thật tất cả. Ví như Ung Chính
nói: “Xưa nay trẫm không nói đến điềm lành”, kỳ thực Ung Chính lại rất thích
những điềm lành, chỉ có điều không làm rõ ra. Không chỉ không thể làm rõ, mà
vẫn muốn ra sức làm ra vẻ. Cho nên, Ngạc Nhĩ Thái vẫn là quan địa phương số một
báo cáo tường tận. Với sự tinh anh của mình, Ngạc Nhĩ Thái không thể không biết
“một cây mạ ra chín bông, bò đẻ ra lân” là câu nói lung tung? Nhưng Ngạc Nhĩ
Thái biết đây không phải là vấn đề nguyên tắc, còn có thể trợ giúp tăng cường
lòng tin của Ung Chính, giống như cách nói một bà già chừng mới mười bảy, mười
tám tuổi, đây là “lời nói dối có thiện chí”, không cần phải làm rõ và cũng
không thể làm rõ. Chính vì nguyên nhân đó, khi một đại lý lệnh họ Lưu nhạo
báng, Ngạc Nhĩ Thái không chỉ không hận, mà còn tiến cử với Ung Chính viên quan
này. Trong lòng Ngạc Nhĩ Thái đã có tính toán!

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.