Luận Anh Hùng - Phần III - Chương 16 - phần 1
V. Tiến thoái lưỡng nan
Từ ngày mùng chín tháng chín (năm 690) năm Thiên Thụ thứ nhất (năm 690 đăng
cơ), đến ngày hai mươi chín tháng giêng (năm 705) năm Thần Long thứ nhất, thoái
vị, Võ Tắc Thiên làm hoàng đế gần mười lăm năm. Trong mười lăm năm này, bà gặp
hai khó khăn lớn: Làm thế nào để trị lý tốt Đại Chu và chọn người kế nhiệm
vương triều.
Việc thứ nhất, bà làm khá thành công. Vương triều Võ Chu trong mười lăm năm
đại thể là đất nước thanh bình, dân chúng yên vui. Tuy tốc độ phát triển kinh
tế chưa bằng Trinh Quán (Thái Tông trị lý), mức độ phồn vinh xã hội chưa bằng
Khai Nguyên (Huyền Tông trị lý), nhưng ít nhất cũng đạt mức: Kho tàng đầy ắp,
dân số phát triển nhiều. Lãnh thổ đế quốc hơn hẳn thời Trinh Quán Đường Thái
Tông. Bản thân nữ hoàng bệ hạ mọc thêm tóc, thêm thanh xuân, tháng chín năm
Trường Thọ thứ nhất (năm 692), bà mọc thêm răng mới, (lúc này đã sáu mươi chín
tuổi), mọc thêm lông mày mới (lúc này đã bảy mươi sáu tuổi). Võ Tắc Thiên, người
đàn bà này đã trẻ ra qua đời sống chính trị và đấu tranh chính trị. Đúng là kỳ
tích.
Một kỳ tích nữa: Trong lịch sử Trung Quốc không ít đế vương phải lo toan
việc nước ở tuổi thanh và trung niên, vào những năm cuối đời, nếu không hồ đồ
thì cũng sai lầm. Võ Tắc Thiên lại là ngoại lệ, Võ Tắc Thiên là hoàng đế năm sáu mươi bảy tuổi, nhưng mãi đến
năm tám mươi hai tuổi mới thoái vị, lúc nào đầu óc cũng tỉnh táo, tư duy nhạy
bén, tinh lực dồi dào, phán đoán chính xác, không hề có hiện tượng già nua,
cũng không hề thấy mệt mỏi. Chỉ sau khi bị đoạt mất quyền lực, đồng thời lại bị
đoạt mất chàng trai sủng ái, chính trị và đàn ông đều không còn, bà mới già đi
nhanh chóng.
Có thể, tất cả vì Võ Tắc Thiên là đàn bà. Tố chất thân thể và tố chất tâm
lý của đàn bà tốt hơn của đàn ông, ít ra cũng được lâu hơn đàn ông. “Cao cao
thì dễ gãy, trắng thì dễ ố”, tính cương của đàn ông thì dễ gãy, tính nhu của
đàn bà bền lâu hơn. Cho nên đàn bà thường sống lâu hơn đàn ông, bà già cũng ít
lẩm cẩm hơn ông già. Rõ ràng, trong lịch sử đã có nhiều thái hậu nổi tiếng,
cũng thực dễ hiểu: Các vị đứng đầu Dương phủ, Giả phủ cũng đều là các bậc lão
thái quân sáng suốt, mạnh mẽ.
Đương nhiên, Võ Tắc Thiên lợi hại hơn nhiều so với Xa thái quân trong
“Dương gia tướng”, hoặc với Sử thái quân (Giả mẫu) trong “Hồng lâu mộng”, vì Võ
Tắc Thiên là hoàng đế. Xưa nay, hoàng đế luôn được gọi là “vua cha”, còn giữa
cha và con luôn có một chút ngăn cách. Lúc này hoàng đế đổi là Võ Tắc Thiên,
triều đình của Võ Chu, làm cho có không khí giữa người bà và đám con cháu. Cho
nên quan hệ quân thần trong triều Tắc Thiên tương đối là hòa thuận.
Điều chủ yếu là bởi, Võ Tắc Thiên là nhà chính trị cao minh, còn có thêm sự
“bổ trợ âm dương” vì nữ là vua, nam là thần. Sau khi đã thuận lợi đoạt được
chính quyền là hoàng đế, Võ Tắc Thiên không hề vì thắng lợi mà hoa mắt. Bà thừa
biết, giữ chính quyền khó khăn hơn lúc đoạt chính quyền, và tạo nên một xã hội
thái bình thịnh thế càng khó khăn hơn giữ chính quyền. Muốn làm được điều đó,
chỉ dựa vào cá nhân Võ Tắc Thiên là không xong, nên cần phải thu nạp nhiều nhân
tài. Nhân tài không phải là để trang trí. Cần phải sử dụng nhân tài, trước hết
là phải tôn trọng nhân tài, và điều tôn trọng lớn đối với nhân tài là thực bụng
lắng nghe ý kiến họ. Hiển nhiên, muốn trị quốc phải chiêu hiền, chiêu hiền còn
phải nghe lời can gián.
Có người cho rằng, Võ Tắc Thiên thành tâm nghe lời can gián là có “phong
thái vua hiền thời cổ”, chưa hẳn là vậy. Tần Hoàng, Hán Vũ, Đường Thái Tông đều
nghe lời can gián từ trẻ, lúc về già lại không. Võ Tắc Thiên lại khác, lúc trẻ
thì không, lúc già mới nghe lời can gián. Vì lời can gián lúc trẻ, không muốn
bà làm hoàng đế, bà nghe sao được? Lời can gián lúc già, luôn giúp bà làm hoàng
đế, vì sao bà không nghe? Rõ ràng, Võ Tắc Thiên là người hiểu được đúng sai. Sở
dĩ giai đoạn đầu phải hạn chế ngôn luận, cấm phê phán, vì luôn là những câu nói
khó lọt tai, như “gà mái gáy sáng”, đành phải bịt miệng mọi người lại để tránh
phiền hà.
Chẳng trách, Võ Tắc Thiên lúc này lại khoan dung nhiều với những biểu hiện
của phê phán. Con người Võ Tắc Thiên luôn thích nghe những “tin vui”. Tháng
chín, năm Thánh Lịch thứ mười một (năm 699), có cây lê nở hoa, Võ Tắc Thiên hỏi quần thần: “Đây là tin vui
gì?”. Chư thần đều nói: “Đó là đức của bệ hạ trùm cây cỏ”. Riêng phượng các thị
lang Đỗ Cảnh Kiệm nói: “Đó không phải tin vui, mà là tội của thần. Vì trách
nhiệm tể tướng là phò tá bệ hạ, hòa hợp âm dương. Nay có việc quái gở, âm dương
đảo lộn, vạn vật bất bằng, để có hoa lê nở vào mùa thu, đương nhiên đây là tội
của thần”. Nói xong liền quỳ xuống, mong được Võ Tắc Thiên xử tội. Nữ hoàng vô
cùng cảm động, nói: “Khanh đúng là tể tướng!”.
Không thể kể hết những việc như vậy. Tháng ba năm Tràng An thứ nhất, trời
đổ tuyết lớn, tể tướng Tô Vị Đạo cho là tin vui, đưa trăm quan đi chúc mừng, duy
có thị ngự sử Vương Cầu Lễ không bái, còn hỏi lại: “Nếu như tháng ba có tuyết
lành, vậy tháng chạp sẽ có tuyết gì? Giữa xuân là lúc vạn vật đang hồi sinh,
đột nhiên có tuyết lớn, chỉ có thể coi là tai họa, đâu phải là tin vui”. Võ Tắc
Thiên tuy mất hứng, nhưng tỏ ra đã biết nghe, liền hạ lệnh không lên triều ba
hôm, để biểu thị nỗi kinh hoàng khi trời có điều bất thường.
Xem ra, bà già đã bảy, tám mươi tuổi này không hề hồ đồ chút nào. Bà hoàn
toàn biết rõ đâu là ý kiến chính xác, đâu là ý kiến không đúng; và bà cũng
hiểu, nhân tài nào dễ kiếm, nhân tài nào thì khó kiếm. Vương Cập Thiện vốn đã
từ chức nghỉ ngơi, nhưng vì Khiết Đan quấy nhiễu, nên phải gọi ra làm thứ sử
Hoạt Châu. Theo lệ, trước khi đi nhận chức phải đến từ biệt bệ hạ, Võ Tắc Thiên
liền hỏi về sự được mất của triều đình. Vương Cập Thiện nói một thôi, đề xuất
mười mấy ý kiến. Võ Tắc Thiên liền thay đổi lệnh, giữ Vương Cập Thiện ở lại
kinh thành làm quan nội sử. Võ Tắc Thiên đã phát hiện, đây là nhân tài hiểu
biết toàn cục, nếu để làm quan địa phương thì không thỏa, tài nhiều dùng ít.
Quan lại nhiều người tham lam, nhưng
Diêu Thọ nhận chức đại đô đốc phủ trưởng sử Ích Châu chưa bao lâu thì tình
trạng đó đã hết. Lập tức Võ Tắc Thiên xuống chiếu khen ngợi, nói: “Dưới sương
buốt mới biết trinh tùng tài giỏi, trước gió mạnh, mới hay kình thảo là quý”.
Võ Tắc Thiên còn nói với người khác: Một người làm quan, muốn giữ mình trong
sạch, có lẽ không khó, nhưng có thể làm cho liêu thuộc đều thanh liêm, e không
dễ, chỉ có Diêu Thọ được coi là liêm, đúng là nhân tài khó kiếm.
Chỉ cần là nhân tài hiếm thấy, Võ Tắc Thiên đều trọng dụng hết, bất kể là
xuất thân thế nào, môn đệ, học thức ra sao. Tiết Quý Sưởng vốn là dân áo vải,
vì đã dâng một tấu chương rất khá, nên được bổ nhiệm làm giám sát ngự sử. Tiết
Quý Sưởng không phụ thánh ân, đã làm được nhiều việc. Tướng quân Hầu Vị Hư sợ
địch, không dám đánh, đã hoang báo quân tình, nói quân địch có hổ dữ rắn độc án
trước trận. Tiết Quý Sưởng lập tức chém đầu Hầu Vị Hư trước ba quân, chấn chỉnh
quân uy. Huyện úy Ngô Trạch tham ô tàn bạo, hoành hành trái phép nước, trưởng
quan trong châu không có biện pháp nào. Tiết Quý Sưởng vừa đến Hà Bắc, đã lập
tức cho bắt Ngô Trạch, dùng gậy đánh chết, dân chúng vỗ tay sung sướng. Sau
này, ở đâu có kẻ khó trị, Võ Tắc Thiên liền phái Tiết Quý Sưởng tới đó. Tiết
Quý Sưởng xuất thân bình dân, dần dà đã trở thành viên quan có năng lực, nổi
tiếng trong triều.
Thậm chí là con cháu kẻ thù, tội nhân, nếu có tài, đều được Tắc Thiên hoàng
đế trọng dụng, như Thượng Quan Uyển Nhi, Quảng Vũ Công. Ông bác của Quảng Vũ
Công từng phạm tội giết người, ông nội Thượng Quan Uyển Nhi là Thượng Quan Nghị
từng là “chủ mưu” âm mưu phế bỏ Võ Tắc Thiên năm nào, nhưng nữ hoàng bệ hạ
không hề kỳ thị với con cháu họ. Vốn có lòng bao dung độ lượng, lại có mắt tinh
nhìn người, Võ Tắc Thiên nhanh chóng có được hàng loạt nhân tài kiệt xuất, văn
có thể trị quốc, võ có thể an bang, và trong số đó, Địch Nhân Kiệt là ưu tú
nhất.
Địch Nhân Kiệt, tự Hoài Anh, người Thái Nguyên, Tinh Châu, cùng quê với Võ
Tắc Thiên - người Văn Thủy, Tinh Châu. Địch Nhân Kiệt là cái tên không xa lạ
với người Trung Quốc và nhiều người nước
ngoài. Vì không chỉ người Trung Quốc mới có cuốn “Địch công án”, hơn nữa còn có
một người Hà Lan viết không ít tiểu thuyết trinh thám về Địch Nhân Kiệt. Địch
Nhân Kiệt không chỉ là một thám tử kiệt xuất, một pháp quan chân chính mà còn
là một chính trị gia ưu tú. Địch Nhân Kiệt lầu thông kinh sử, hình luật, dáng
vẻ đường hoàng. Làm quan, ông yêu dân như con, không sợ cường quyền; làm thần,
ông trung trinh hết mực, chăm lo việc nước; làm người ông chân thành hữu nghị,
thẳng thắn cương nghị; xử sự thì nhạy biến quyền biến, túc trí đa mưu. Hiếm có
nhà chính trị nào có được nhiều ưu điểm như Địch Nhân Kiệt. Đúng như Lâm Ngữ
Đường từng nói: “Địch Nhân Kiệt bình tĩnh, nhẫn nại, trí tuệ, nhãn quang đều
không yếu hơn Võ hậu. Địch Nhân Kiệt chính là khắc tinh của Võ hậu(1)”.
(1)
Lâm Ngữ Đường, “Võ Tắc Thiên chính truyện”, trang 129, NXB Thời đại văn nghệ,
năm 1988.
Nhưng quan hệ quân thần giữa Võ Tắc Thiên và Địch Nhân Kiệt lại rất tốt,
nhất là mấy năm cuối cùng khi Địch Nhân Kiệt là tể tướng. Vào ngày hai mươi sáu
tháng chín (năm 691) năm Thiên Thụ thứ hai, Địch Nhân Kiệt nhận chức tể tướng.
Đến ngày hai mươi sáu tháng chín (năm 700) năm Cửu Thị thứ nhất, vừa tròn chín
năm, Địch Nhân Kiệt tạ thế! Trong thời gian chín năm, thực tế Địch Nhân Kiệt là
tể tướng chưa đến bốn năm. Tháng giêng (năm 692) năm Trường Thọ thứ nhất, Địch
Nhân Kiệt bị Lai Tuấn Thần vu cáo hãm hại, bị giam vào ngục. Gặp đại nạn nhưng
không chết, chỉ bị giáng làm Bành Trạch huyện lệnh, đến tháng mười nhuận (năm
697) năm Thần Công thứ nhất, ông được phục hồi chức tể tướng. Sau khi gặp nạn
và ba năm cuối cùng là tể tướng, Võ Tắc Thiên càng thêm kính trọng, càng thêm
quý mến, càng thêm tín nhiệm Địch Nhân Kiệt. Võ Tắc Thiên đã tiếp thu phần lớn
những phê phán, kiến nghị, ý kiến của Địch Nhân Kiệt. Như năm Cửu Thị thứ nhất,
bà đã tiếp thu ý kiến của Địch Nhân Kiệt, hủy bỏ quyết định tập kết vật tư đắp
tượng Phật, còn nói: “Ông dạy trẫm làm điều thiện, làm sao có thể trái lời?”.
Võ Tắc Thiên luôn trọng dụng phần lớn số quan lại do Địch Nhân Kiệt tiến cử,
trong đó có đến hơn chục công khanh. Võ Tắc Thiên còn tự tay may một chiếc áo
dài, trên ghi mười hai chữ: “Phô chính thuật, giữ thanh cần, thăng hiển vị, khen
tướng thần”, ban tặng Địch Nhân Kiệt. Thường ngày, mỗi khi gặp mặt, thường gọi
là “quốc lão”, là chuyện chưa từng có ở triều Đường. Mỗi khi lên triều, Võ Tắc
Thiên không để Địch Nhân Kiệt phải quỳ bái, còn nói, mỗi lần nhìn quốc lão quỳ
bái, lòng dạ thấy không nỡ. Sau khi Địch Nhân Kiệt tạ thế, Võ Tắc Thiên buồn
khóc không thôi, còn nói, quốc lão ra đi, tiện đường luôn trống vắng. Sau này,
mỗi khi gặp chuyện khó giải quyết, Võ Tắc Thiên thường lặng lẽ thở dài. Trời đã
cướp mất quốc lão! Trời đã cướp mất quốc lão của trẫm rồi!
Quan hệ như cá với nước của Võ Tắc Thiên và Địch Nhân Kiệt là hoàn toàn có
lợi cho sự sáng suốt về chính trị của Võ Tắc Thiên và sự thông minh về chính
trị của Địch Nhân Kiệt, nhất là mấy năm sau năm Thần Công thứ nhất, hai người
tuổi đã cao, đều biết sẽ không còn sống được bao lâu nữa, nên rất mong cùng
nhau đồng tâm hiệp lực, làm tốt một số việc. Võ Tắc Thiên hiểu rõ, muốn chỉnh
đốn triều cương, trị lý thiên hạ thì không thể thiếu được những nhân tài rường
cột, vừa hết mực trung thành vừa thẳng thắn hiền hòa. Địch Nhân Kiệt đúng là
người như vậy. Xưa nay, Địch Nhân Kiệt chưa từng phản đối Võ Tắc Thiên. Dù Võ
Tắc Thiên có phóng túng dâm dật, lạm sát người vô tội, ông cũng chưa từng phản
đối. Địch Nhân Kiệt lo giữ vững cương vị, lo làm tròn trách nhiệm, gắng sức
giảm thiểu những tổn thất do bọn khốc lại gây ra. Đây chính là điểm thông minh
ở Địch Nhân Kiệt, biết mình quan chưa cao đức chưa lớn, người ít, nói chẳng
thấm vào đâu, nên phản đối là vô ích, chi bằng giữ nguyên lực lượng, yên lặng
chờ thời. Võ Tắc Thiên thay Đường xưng đế, Địch Nhân Kiệt không giữ mãi thái độ
phản đối, mà tích cực hợp tác, chủ động tham dự, có nhiều cống hiến và xây
dựng. Theo ý Địch Nhân Kiệt, việc Võ Tắc Thiên làm hoàng đế, có ngăn cũng không
ngăn nổi. Chỉ cần Võ Tắc Thiên có thể trị lý tốt đất nước (Võ Tắc Thiên có tài
về mặt này) thì đấy chẳng phải phúc của trăm họ sao, việc gì cứ phải là con
trai họ Lý? Vì vậy, cùng người khác ngăn cản Võ Tắc Thiên, không bằng giúp Võ
Tắc Thiên làm hoàng đế tốt, đó mới là người có trách nhiệm với dân với đất
nước. Huống chi, Võ Tắc Thiên rồi cũng phải chết, tới lúc đó có thể trả chính
quyền lại cho Lý Đường, còn mình thì mãi mãi vẫn là một trung thần. Vì vậy, cần
phải hợp tác với Võ Tắc Thiên, để sau này có tiếng nói tốt hơn trong việc lập
tự, để có sự chuẩn bị tốt hơn về tổ chức, về cơ sở cho việc bàn giao chính
quyền sau này. Cách làm, cách nghĩ của Địch Nhân Kiệt đã thể hiện ông là chính
trị gia kiệt xuất, trí tuệ sáng suốt, biết nhìn xa, trông rộng.
Chẳng có cách gì để biết, Võ Tắc Thiên có hiểu rõ những suy nghĩ của Địch
Nhân Kiệt hay không? Nhưng từ lâu Võ Tắc Thiên đã chú ý đến nhân phẩm và tài
trí của Địch Nhân Kiệt. Địch Nhân Kiệt sinh vào năm (Tùy) Đại Nghiệp thứ ba
(năm 607), hơn Võ Tắc Thiên bảy tuổi, trước khi Võ Tắc Thiên lên ngôi, Địch
Nhân Kiệt từng là pháp tào đô đốc phủ, đại lý thừa, thị ngự sử, là thứ sử Ninh
Châu và Dự châu. Nghe nói, khi là đại lý thừa, mới đến nhận chức một năm, Địch
Nhân Kiệt đã xử lý một vạn bảy ngàn vụ án tồn đọng, không một ai oan uổng, án
xử công minh, dứt điểm, rõ ràng và nổi tiếng. Lúc là thứ sử Ninh Châu, Địch
Nhân Kiệt được trăm họ ủng hộ, họ còn tự nguyện khắc đá lập bia cho Địch Nhân
Kiệt, năm Thùy Củng thứ tư (năm 688), Việt vương Lý Trinh mưu phản, được dẹp
yên, Võ Tắc Thiên phái Địch Nhân Kiệt làm Thứ sử Dự Châu, tra xét dư đảng của
Lý Trinh. Địch Nhân Kiệt đến nhiệm sở phát hiện thấy, tể tướng Trương Quang Phụ
- lãnh binh bình phản, đã cho bắt hơn năm ngàn người, liên quan đến sáu, bảy
trăm gia đình, chờ Địch Nhân Kiệt đến để hành hình. Lập tức Địch Nhân Kiệt sai
tháo gông cho số người đó và tấu gấp về thái hậu: “Án mưu phản liên quan đến
nhiều người như vậy, không khỏi đã bắt nhầm không ít, thần không dám vi phạm
thánh ý thương yêu dân chúng của bệ hạ, nhận nguy hiểm thay phản tặc có lời,
mong bệ hạ mở cho một đường thoát”. Võ Tắc Thiên phê chuẩn tấu chương của Địch
Nhân Kiệt, xét xử lại và cho đầy số người đó ra biên cương. Số can phạm vừa
thoát chết khi đi qua Ninh Châu đã dừng lại thắp hương vái lạy trước tấm bia
công đức mà dân chúng Ninh Châu vừa tạo dựng. Họ khóc lóc, nói: Chính Địch công
đã cho chúng ta sống!”. Nhưng Địch Nhân Kiệt lại bị giáng là Tư Mã Lạc Châu vì
đã đắc tội với Trương Quang Phụ.
Việc đó nhất định đã để lại ấn tượng sâu sắc cho Võ Tắc Thiên. Vì vậy, một năm
sau khi lên ngôi, Võ TắcThiên cho điều Địch Nhân Kiệt về kinh thành làm tể
tướng. Võ Tắc Thiên nói với Địch Nhân Kiệt, các đại thần trong triều đều tán
thưởng nền chính trị tốt lúc khanh ở Nhữ Nam, nhưng cũng có người lại nói xấu
khanh, khanh muốn biết đó là ai không? Địch Nhân Kiệt nói, thần không muốn
biết. Không biết vẫn hay hơn, vẫn có thể quan hệ bình thường với người đó. Võ
Tắc Thiên vừa nghe đã lấy làm ưng ý. Có thể, chính vì Võ Tắc Thiên rất có cảm
tình với Địch Nhân Kiệt, cho nên bọn Lai Tuấn Thần nhiều lần vu cáo, hãm hại
Địch Nhân Kiệt nhưng không có kết quả. Sau khi Lai Tuấn Thần chết được bốn
tháng, Địch Nhân Kiệt lại trở về với chức tể tướng.

