Việt sử giai thoại (Tập 6) - Chương 16 - 19
16 - BANG GIAO THỜI LOẠN
Trong thời Nam - Bắc triều,
triều Mạc (Bắc triều) và triều Lê (Nam triều), tuy coi nhau là kẻ thù không đội
trời chung, nhưng cả hai đều thần phục nhà Minh và cố tìm mọi cách để được nhà
Minh ban sắc phong cho mình. Hai bên biết rõ ý định cũng như mặt mạnh và mặt
yếu của nhau, cho nên đã không ngần ngại tung ra các thủ đoạn để phá hoại lẫn
nhau. Nói khác hơn, ngay cả trong lĩnh vực bang giao với nhà Minh, Nam triều và
Bắc triều cũng có một cuộc chiến thực sự. Một trong những đỉnh cao ác liệt của
cuộc chiến tranh này là sự kiện năm Bính Thân (1596). Sách Đại Việt sử
kí toàn thư (Bản kỉ tục biên, quyển 17, tờ 55 - b và 56 - a) chép như
sau:
“Bấy giờ, bọn bề tôi nhà Mạc
dùng nhiều quỷ kế đề tố cáo với nhà Minh rằng:
- Cái gọi là nhà Lê hiện thời, thực chất chỉ
là của họ Trịnh. Chúng làm việc tranh giành, dấy binh để giết bề tôi đã thần
phục của thượng quốc (ý nói giết dòng dõi của họ Lê - ND) và con cháu của họ
Mạc chứ chẳng phải là quân lo hưng phục nhà Lê.
Vì lời tố cáo ấy, nhà Minh
đã nhiều lần sai sứ tới cửa ải trấn Nam Giao (tức cửa ải Mục Nam Quan ngày nay
- ND), mang điệp văn sang và hẹn đến cửa ải hội khám xem thực hư thế nào.
Ngày 29 (tháng giêng năm
Bính Thân, 1596 - ND), vua Lê sai Hộ Bộ thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ,
tước Thông Quận công là Đỗ Uông, cùng với quan Đô Ngự sử ở Ngự Sử Đài là Nguyễn
Văn Giai, đi làm quan hầu mệnh, đến cửa ải trấn Nam Giao để trao đổi điệp văn
và thư từ qua lại với viên Tả Giang binh tuần đạo (của nhà Minh) là Trần Đôn
Lâm, lời lẽ rất khiêm nhường. Sau, (vua Lê) lại sai quan Hữu tướng là Hoàng
Đình Ái, mang quân đến Lạng Sơn để làm hậu ứng, sai tộc mục là Hoàng huynh Lê
Ngạnh, Hoàng huynh Lê Lựu, cùng với Công Bộ thị lang là Phùng Khắc Khoan, mang
ấn An Nam Đô thống sứ ti và hai tờ có in mẫu ấn bằng mực của An Nam Quốc vương
trước, 100 cân vàng, 1000 lạng bạc và mấy chục kì lão lên tận cửa ải trấn Nam
Giao để chờ hội khám.
Ngày mồng 1 tháng 2, quan Tả
Giang binh tuần đạo, kiêm án sát Đề hình sứ ti, Phó sứ Trần Đôn Lâm gởi điệp
văn, đòi Vua phải thân hành tới cửa ải trấn Nam Giao để cùng hội khám.
Ngày mồng năm (tháng giêng
năm Bính Thân - ND), Vua đích thân đốc suất bọn Hữu tướng là Hoàng Đình Ái,
Thái úy là Nguyễn Hoàng và Nguyễn Hữu Liêu, Thái phó là Trịnh Đỗ và tướng lĩnh
cùng binh lính, tổng cộng hơn một vạn người đến cửa ải trấn Nam Giao để hẹn
ngày hội khám, nhưng lúc ấy nhà Minh tìm cớ dây dưa thoải thác, chỉ đòi lấy
người vàng, ấn vàng theo lệ cũ, không đến khám, thành ra quá cả kì hạn.”
Tháng chạp năm Bính Thân
(1596), vua Lê lại sai quan Hộ Bộ thượng thư, kiêm Đông Các Đại học sĩ, tước
Thông Quận công là Đỗ Uông đi làm quan hầu mệnh, cùng đi còn có Quảng Quận công
là Trịnh Vĩnh Lộc. Cũng sách trên (tờ 58 - b) chép:
"Lúc ấy, viên thổ quan
đất Long Châu của nhà Minh, vì nhận nhiều của đút lót của họ Mạc, nên cứ về hùa
với họ Mạc mà thoái thác, khiến cho việc chẳng thành, trong khi đó, tết nguyên
đán cũng đã đến, bọn Đỗ Uông và Vĩnh Lộc đành phải về kinh.”
Sau nhiều phen hối lộ, tốn
phí không biết bao nhiêu là của cải, đến tháng 4 năm Đinh Dậu (1597), mối bang
giao giữa nhà Lê với nhà Minh mới trở lại bình thường.
Lời bàn: Họ Lê và họ Mạc lớn tiếng
bêu riếu nhau khắp nước vẫn chưa cảm thấy vừa lòng, cho nên mới tìm cách bêu
riếu nhau trên đất thiên triều là nhà Minh. Đương thời, họ chỉ cốt nói sao cho
hả dạ căm tức, có biết đâu, cứ mở miệng nói mãi những điều chẳng tốt lành, thân
danh cũng theo đó mà tan tành tơi tả. Ở đời, có phải lúc nào trình độ học vấn
và trình độ hiểu biết về văn hóa cũng tương đương với nhau đâu!
Họ Lê và họ Mạc công kích
nhau, rốt cuộc, chỉ có nhà Minh là thủ lợi. Quan lại thiên triều quả là thiên
tài thay! Chuyện xưa kể rằng: Hai đứa trẻ nhà nọ có một quả chuối, nhưng cả hai
đều tham, sau khi đã chia đôi rồi, đứa nào cũng cảm thấy phần mình ít hơn, bởi
thế, chúng nhờ một anh hàng xóm chia hộ. Anh ta giơ hai nửa quả chuối ra và hỏi
hai đứa rằng phần nào nhiều. Phần này - một trong hai đứa nhanh nhảu chỉ phần
của đứa kia và nói như thế. Anh hàng xóm nhanh tay đưa lên miệng cắn một miếng
thật to. Ăn xong, anh ta lại hỏi tiếp: Phần nào? Hai đứa đồng thanh chỉ về nửa
quả chuối chưa bị cắn. Anh ta cắn một miếng còn to hơn miếng trước. Cứ thế, hết
cắn bên này và hỏi, rồi lại cắn tiếp bên kia, cho đến khi hai nửa quả chuối đều
vào hết bụng anh ta. Bấy giờ, hai đứa trẻ mới nhận ra mình dại, tên đại bợm lừa
cho đến nỗi mất hết cả miếng ngon, nhưng muộn mất rồi.
Họ Mạc và họ Lê không phải
là hai đứa trẻ, nhưng trong phép ứng xử với nhà Minh, chừng như cũng đáng coi
là trẻ con. Nhà Minh không phải chỉ là anh hàng xóm chỉ tham miếng ăn nhất
thời, ngược lại, còn là con hổ, khi đói, có thể xơi luôn cả hai đứa trẻ như
thường. Con hổ bao giờ cũng là con hổ, đợi đến khi nó chồm tới vồ người mới bảo
là nó dữ, phỏng có ích gì?
17 – MẠC KÍNH DỤNG BỊ MẮC MƯU
Sách Đại Việt sử kí toàn
thư (Bản kỉ tục biên, quyển 17, từ tờ 65 - a đến tờ 66 - b) chép rằng:
"Con của Hùng Lễ Hầu
(tức Mạc Kính Chỉ - ND) là Mạc Kính Dụng, họp đảng ở huyện An Bác (nay thuộc
Lạng Sơn - ND), ngụy xưng là Uy Vương. Vì thua luôn lại thiếu ăn nên hắn âm mưu
giết viên thổ quan Phú Lương Hầu (chưa rõ họ tên) để cướp lấy đất đai và dân
vừng này, nhưng Phú Lương Hầu biết được nên mưu ấy không thành. Mạc Kính Dụng
bèn đem quân đến bức bách, Phú Lương Hầu dã dùng mẹo để đánh lừa. Trước hết,
ông sai vợ con ra đón (Mạc Kính Dụng) để xin hàng, vờ thú tội rằng:
- Đại vương quyền cao chức trọng, binh lính nhiều,
kẻ theo hầu phục dịch ai cũng oai hùng gan dạ. Chồng thiếp chỉ là một người nhà
quê, chưa từng thấy dụng binh lớn như thế này bao giờ, cho nên, vừa nghe có
quân của Đại vương tới, chồng thiếp đã kinh hoàng sợ hãi, liền sai thiếp đi đón
thay, xin Đại vương đóng yên dinh trại ở ngoài cõi, ban lệnh nghiêm cấm, chấn
chỉnh quân sĩ cho nghiêm, cố giữ dinh lại thật cẩn thận để lỡ quân triều đình
có đến thì chống lại. Xong, xin Đại vương tự chọn lấy tay chân thân cận, chẳng
qua độ vài chục người, theo thiếp vào nhà, thiếp sẽ lập tức dẫn chồng ra lạy
chào và dâng nạp đất đai cũng như dân chúng trong vùng.
Uy Vương nghe nói thì cả
mừng, lập tức chọn 40 người tay chân và con em thân cận, vào thôn của Phú Lương
Hầu. Phú Lương Hầu sai quân canh giữ, đóng kín hết các cửa ải, rồi ra đón tiếp,
quỳ lạy trước mặt Uy Vương và nói:
- Thần ở nơi xa xôi hẻo lánh, lương đủ nhưng
binh ít, Đại vương có thể tạm yên thân nơi này, nuôi quân và dưỡng sức để chờ
thời, nhân thể chiêu dụ các châu huyện khác, tuyển chọn thêm sĩ tốt thì có thể
phục hưng được cơ nghiệp xưa. Nay, thần có một lũng núi xa, rất sâu và rất
hiểm, đại vương nên đem vài người tới chiếm giữ chỗ sâu và hiểm ấy, thần sẽ lo
cung cấp hầu hạ, còn các tướng hiệu khác thì hãy tạm ở trong thôn của thần,
thần sẽ lo cấp dưỡng và cùng lo liệu việc lớn sau này.
Uy Vương nghe vậy, tự đem
bốn năm người tay chân thân tín đi chiếm lũng núi. Phú Lương Hầu lập tức sai
người bí mật thủ tiêu hết cả bốn chục con em và tay chân thân tín của Uy Vương
mà Uy Vương không hay, đồng thời, sai người gấp chạy về kinh đô xin quân cứu
viện để bắt Uy Vương. Lúc ấy, Tiết chế Trịnh Tùng sai bọn Đô đốc là Lâm Quận
công, Quảng Quận công và Hoa Dương Hầu đem quân đến thôn của Phú Lương Hầu thì
quả nhiên bắt được Uy Vương giải về kinh đô. Sau, (triều đình) xét công ban
thưởng, Phú Lương Hầu được thăng chức Tổng binh.”
Lời bàn: Thời nhà Mạc còn thịnh
vượng, trên gồm đủ triều đình và bá quan văn võ, dưới có quân mạnh và tướng
tài, vậy mà vẫn còn chịu thua Nam triều, huống chi là thời mạt vận của nhà Mạc.
Nổi binh chống Nam triều lúc này, Mạc Kính Dụng quả là không thức thời chút nào
cả.
Quân ít lại thua luôn, lương
thực thì đã cạn... lực lượng của Uy Vương Mạc Kính Dụng, bất quá cũng chỉ như
một đám giặc cỏ mà thôi. Đã non sức lại vô mưu, thảm bại và mạng vong là điều
không sao tránh được. Hỏa ra ở đời, lớn tiếng xưng này xưng nọ là chuyện của
người ưa xưng, còn như xã hội thừa nhận họ tới đâu là chuyện của xã hội, mà ở
dưới hai vầng nhật nguyệt, xã hội ngàn năm nghiêm khắc nhưng có bất công bao
giờ đâu!
Song le, Phú Lương Hầu dùng
mưu mà hạ được lực lượng của Uy Vương Mạc Kính Dụng, chẳng qua là rải thêm khăn
tang cho cả một vùng, chúa Trịnh vui mừng hả dạ, chớ đồng bào trong khắp thiên
hạ, nào có ai sung sướng gì đâu.
18 - HOÀNG GIÁP PHÙNG KHẮC KHOAN VỚI
CHUYẾN BẮC SỨ NĂM 1597
Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613),
quê ở Phùng Xá, huyện Thạch Thất (nay thuộc tỉnh Hà Tây), nguyên là học trò của
Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585). Năm 1550, Phùng Khắc Khoan vào
Thanh Hoa, cùng với các cựu thần nhà Lê chống lại nhà Mạc. Năm 1580, Phùng Khắc
Khoan đỗ Hoàng giáp và trở thành một trong những quan lại cao cấp của Nam
triều. Bình sinh ông từng giữ chức Thượng thư bộ Hộ và bộ Công và từng cầm đầu
phái bộ sứ giả nước ta sang Trung Quốc. Lúc về hưu, Phùng Khắc Khoan đã tận tụy
chỉ dẫn cho dân làng cách xây dựng hệ thống tưới tiêu, và đặc biệt, ông đã dạy
cho dân Phùng Xá học nghề dệt vải, khiến cho dân Phùng Xá nổi tiếng với nghề
thủ công đặc biệt này.
Ngày 10 tháng 4 năm Đinh Dậu
(1597), triều đình cử một phái bộ sứ giả sang Trung Quốc để nạp cống và cầu
phong. Chánh sứ của phái bộ này là Công Bộ Tả thị lang Phùng Khắc Khoan và Phó
sứ là Thái thường Tự khanh Nguyễn Nhân Thiêm. Chuyến Bắc sứ này kéo dài tổng
cộng gần một năm rưỡi và Phùng Khắc Khoan đã hoàn thành tốt đẹp phận sự của
mình, để lại tiếng thơm ngàn đời trong sử sách. Sách Khâm định Việt sử
thông giám cương mục (Chính
biên, quyển 30, tờ 26) chép như sau:
"Trước đây (chỉ tháng 4
năm 1597, vì đoạn này chép việc của tháng 12 năm 1598 - ND), sứ thần là Phùng
Khắc Khoan đem phẩm vật sang Yên Kinh (Trung Quốc - ND) để cống nạp. Vua Minh
rất bằng lòng, hạ chiếu phong vua Lê làm Đô thống sứ của An Nam Đô thống sứ ti,
được cai quản nhân dân trong nước và được ban một quả ấn bằng bạc trên có khắc
chữ An Nam, sai Phùng Khắc Khoan mang về. Phùng Khắc Khoan dâng sớ biện bác
rằng:
- Họ Lê là dòng chính thống của nước An Nam,
vì giận kẻ bề tôi là họ Mạc bạo ngược tiếm ngôi cướp nước, nên cam chịu nếm mật
nằm gai, quyết chí khôi phục cơ nghiệp của tổ tông. Họ Mạc vốn đời đời làm tôi
mà dám giết vua cướp nước, rõ là có tội với thiên triều mà vẫn được phong chức
Đô thống một cách ám muội. Nay, họ Lê không phải là người có tội như họ Mạc mà
vẫn phải nhận chức ngang với họ Mạc, thế nghĩa là sao? Xin bệ hạ soi xét lại.
Vua Minh thấy thế, dụ bảo
rằng:
- Chúa của ngươi không phải như họ Mạc, nhưng
vì mới khôi phục được nước, lòng người chưa yên, thì hãy tạm nhận chức Đô
thống, quản lí việc nước, sau sẽ gia phong cũng chưa muộn gì.
Bấy giờ, Phùng Khắc Khoan
mới chịu lạy nhận sắc phong mang về. Khi sứ bộ về đến Nam Quan, quan Tả Giang
binh tuần đạo của nhà Minh là Trần Đôn Lâm, sai liêu thuộc là Vương Kiến Lập,
nhân thể, đem công văn đến nước ta. Triều đình sai Hữu tướng là Hoàng Đình Ái
và Thái bảo là Trịnh Nành, lo chuẩn bị nghi trượng để đón tiếp. Nhà vua thân
hành sang sông (chỉ sông Hồng - ND), tới bến Bồ Đề lạy nhận chiếu thư và rước
về nội điện. Khi thấy quả ấn (nhà Minh ban cho) là quả ấn làm bằng đồng mạ bạc,
nhà vua liền sai viết tờ tấu thư, giao cho Vương Kiến Lập chuyển đạt lên vua
Minh. Sau, vua nhà Minh sai quan lại đến đổi cho quả ấn khác."
Sách Đại việt sử kí
toàn thư (Bản kỉ tục biên, quyển 17, tờ 60 - a) cho biết thêm:
"(Phùng) Khắc Khoan đến
Yên Kinh vào đúng tiết Vạn Thọ của vua Minh, nhân đó, ông làm ba chục bài thơ để
mừng. Quan Anh Vũ điện Đại học sĩ, hàm Thiếu bảo, kiêm Thái tử Thái bảo, chức
Lại Bộ thượng thư của nhà Minh là Trương Vị đem tập thơ Vạn Thọ ấy dâng lên.
Vua Minh cầm bút phê rằng:
- Trẫm đọc thơ này, thấy rõ lòng thành của
Phùng Khắc Khoan thật đáng khen ngợi.
Nói rồi, vua Minh sai người
đưa xuống khắc in tập thơ (của Phùng Khắc Khoan) để lưu hành trong nước. Bấy
giờ, sứ thần của Triều Tiên là Hình tào Tham phán Lý Toái Quang đề tựa cho tập
thơ này.”
Lời bàn: Trước Phùng Khắc
Khoan, đã có không ít phái bộ sứ giả giữ phép không nghiêm, trên thì làm nhục
mệnh vua, dưới thì rẻ rúng xã tắc.
Thời Phùng Khắc Khoan là
thời nhà Lê mới hưng phục, ứng xử của phái bộ sứ giả lúc này, dẫu muốn hay
không, cũng đều can hệ tới vận mệnh của nhà Lê. Đáng khen thay Phùng Khắc
Khoan, người đã xứng đáng với niềm tin cậy của triều đình đương thời.
Dám thẳng thắn biện bác với
cả thiên tử, Phùng Khắc Khoan đã tỏ được cái dũng của sứ thần, làm một lúc ba
chục bài thơ hay. Phúng Khắc Khoan đã tỏ được năng lực phi thường của kẻ sĩ đất
ngàn năm văn hiến. Kính thay!
Ngoại giao bao giờ cũng có
những chi tiết rất tế nhị, nhưng cứ xem việc vua Minh ban sắc phong và ấn tín,
cũng đủ biết ý đồ của họ thô bạo đến ngần nào. Cho nên, chỉ cần mơ hồ và bất
cẩn, không chọn đúng bậc hiền tài để đi sứ, thì quả là chí nguy!
19 - CHÍNH QUYỀN VUA LÊ - CHÚA TRỊNH
THỰC SỰ CÓ TỪ LÚC NÀO?
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp
ngôi nhà Lê. Sáu năm sau, năm Quý Tị (1533), con của vua Lê Chiêu Tông là Lê
Ninh (cũng có tên khác là Lê Huyến), được Nguyễn Kim tôn lên ngôi vua ở Thanh
Hoa, đó là vua Lê Trang Tông (1533 - 1548), người đứng đầu Nam triều. Như vậy, Nam triều
là triều Lê, nhưng thực chất, mọi quyền bính đều nằm trong tay Nguyễn Kim. Năm
1545, Nguyễn Kim mất, con rể của Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm đã thu hết quyền hành
về mình. Manh nha của chính quyền vua Lê - chúa Trịnh bắt đầu xuất hiện kể từ
đó, nhưng dẫu sao thì địa vị của vua Lê cũng không đến nỗi quả kém cỏi. Các vua
nối tiếp như Lê Trung Tông (1548 - 1556), Lê Anh Tông (1556 - 1573) và Lê Thế
Tông (1573 - 1599), tuy bị chúa Trịnh (trước là Trịnh Kiểm, sau là Trịnh Tùng)
ra sức lấn át, thậm chí là bị giết (như trường hợp chúa Trịnh Tùng giết vua Lê
Anh Tông năm 1573) nhưng tiếng nói của Hoàng đế vẫn còn có người nghe và về
hình thức, chính quyền vẫn là một mối, đứng đầu là vua Lê. Sau khi đã đè bẹp
được những lực lượng chủ yếu nhất của Nam triều (1592), uy danh của Trịnh Tùng
trở nên lừng lẫy, vua Lê Thế Tông trẻ tuổi và lắm bệnh tật, bị coi thường, thi
thoảng, Trịnh Tùng chỉ hỏi qua đôi việc cho có lệ mà thôi. Năm 1599, vua Lê Thế
Tông lâm bệnh nặng và mất vào ngày 24 tháng 8, thọ 32 tuổi. Bốn tháng trước khi
vua Lê Thế Tông mất, Trịnh Tùng tìm đủ mọi cách để thúc ép nhà vua phong tước
vương cho mình, và ngay sau khi được phong, Trịnh Tùng đã tự ý lập phủ đệ
riêng. Thực trạng cung vua phủ chúa bắt đầu có kể từ đó.
Sách Khâm định Việt
sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 30, tờ 27 và 28), đã ghi chép sự
kiện này, đồng thời viết thêm Lời phê và Lời cẩn
án như sau:
"Bởi có quyền uy ngày
một cao cả, Tùng muốn được phong danh vị tước Vương, bèn sai người vào xin với
Nhà vua. Vua bất đắc dĩ mà phải y cho, sai quan Thái tể là Hoàng Đình Ái đem
sách thư đến, phong Tùng làm Bình An Vương, lại ban thêm cả Ngọc Toản (tức cái
chén của vua dùng để rót rượu tế - ND), Mao Tiết (lá cờ nhà vua dùng khi có
việc phải xuất hành, ở đầu cán có ngù, tết bằng lông - ND) và Hoàng Việt (là
cái búa vàng, vật nhà vua dùng khi đi đánh dẹp - ND). Tùng được mở phủ chúa và
lập bộ máy quan lại riêng. Từ đấy, chính sự trong nước do Tùng quyết định, của
cải, thuế khóa và quân lính... hết thảy đều dồn vào phủ chúa. Phần vua Lê chỉ
có một ngàn xã làm bổng lộc, gọi là thượng tiến, quân lính túc trực và hộ vệ
trong nội điện chỉ có 5000 người, 7 thớt voi và 20 chiếc thuyền rồng. Nhà vua
chỉ còn mặc áo long bào, cầm hốt ngọc để nhận lễ triều yết mà thôi.
Tùng nhận sách phong xong
thì vào triều lạy tạ vua Lê. Khi về phủ chúa, trăm quan đều lạy mừng, Tùng mở
đại yến và ban thưởng tiền, lụa cho quan lại, kẻ nhiều người ít khác nhau. Họ
Trịnh đời đời được tập phong tước Vương là bắt đầu từ Tùng vậy.
Lời phê: Nhà Lê lúc bấy giờ
cũng chẳng khác gì nhà Chu (Trung Quốc - ND), chỉ ngồi giữ ngôi (chứ chẳng
có quyền lực gì). Khi ấy, bề tôi đầy cả một triều đình, vậy mà không hiểu tại
sao lại để sự tệ hại chất chứa đến như thế.
Lời cẩn án: Từ khi Tùng làm việc
bạo ngược là giết vua (nói việc Trịnh Tùng giết vua Lê Anh Tông - ND), sách này
chỉ chép là Trịnh Tùng không mà thôi, tất cả quan tước của hắn đều bị tước bỏ.
Đến đây, hắn còn cả gan xưng Vương, thì không còn lời chê trách nào nặng nề hơn
được nữa, bèn tước bỏ họ của hắn (là Trịnh, rồi chỉ chép tên là Tùng nữa thôi).”
Lời bàn: Các sử gia xưa nặng
lời phê phán các chúa Trịnh nói chung và Trịnh Tùng nói riêng. Lời phê ấy quả
là không sai, nhưng bảo là đúng thì cũng chưa hẳn. Khởi đầu, Nguyễn Kim tôn lập
Lê Ninh lên ngôi, ấy là vua Lê Trang Tông, chẳng qua cũng chỉ vì Lê Ninh đích
thị là dòng dõi nhà Lê mà thôi. Vả chăng, các vua Lê lúc bấy giờ đều trẻ người
non dạ, lo cho riêng thân còn chưa được, huống chi chuyện lo cho giang sơn xã
tắc? Vua Lê dẫu có muốn thực sự làm vua cũng chẳng được. Trông cậy vào các quan
ư? Trên đời này, chẳng có gì nhục nhã bằng việc phải quỳ lạy những kẻ kém cỏi
hơn mình, cho nên, xin hãy rộng lòng thể tất cho các quan thuở trước.
Sử gia xưa chê Trịnh Tùng
lộng quyền, quả có thế thật, nhưng nếu không như vậy, chưa dễ đã có vua Lê, cho
dẫu là ngôi suông. Thời loạn, mọi sự không thường đều là sự thường đó thôi.

