Việt sử giai thoại (Tập 5) - Chương 24 - 28
24 - THÁI QUÂN THỰC VÀ NGUYỄN TÔNG
TRỤ LÀM NHỤC QUỐC THỂ
Ngày 16 tháng 5 năm Giáp Dần
(1434), Thái Quân Thực đang giữ chức Trung thư hoàng môn thị lang và Nguyễn
Tông Trụ đang giữ chức Tuyên phủ sứ, cả hai cùng hàm Tứ phẩm, được triều đình
cho sung vào sứ bộ mang biểu văn sang nhà Minh cầu phong cho vua Lê Thái Tông.
Trong chuyến đi này, hai ông đã phạm tội lớn, để tiếng xấu đến muôn đời.
Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 11, tờ 24 a - b)
chép rằng:
"Hai người này khi nhận
mệnh sang sứ nhà Minh đã phạm tội lớn, Thái Quân Thực bị xử đày viễn xứ, còn
Nguyễn Tông Trụ bị đày cận xứ. Khi ấy, Hữu ti làm giấy tờ (cho hai người đi
sứ), theo thứ tự mà ghi Nguyễn Tông Trụ là Bồi thần (hàng quan Đại phu - ND)
còn Thái Quân Thực là Kì lão (dưới Đại phu một bậc ND). Quân Thực tỏ ý bất
bình. Khi đến triều Minh, triều Minh cứ chiếu theo thứ bậc (đã ghi trong giấy
tờ của sứ bộ) mà ban áo. (Vì là Kì lão), áo của Quân Thực không có hoa văn kim
tuyến. Quân Thực hậm hực bảo với người phương Bắc rằng:
- Ta cũng là quan Tứ phẩm, lại ở dưới Tông Trụ
là làm sao?
Đến lúc vào dự yến tiệc,
Thực không chịu mặc áo được (triều nhà Minh) ban mà lại mặc áo có thêu kim
tuyến của mình mang theo. Thực còn đem cả biểu văn do Nguyễn Trãi soạn ra mà
chửi bới, lại còn chửi luôn cả quan Tham tri Đông Đạo là Đào Công Soạn chỉ vì
ông này đã tiến cử Nguyễn Tông Trụ cùng đi sứ với mình. Tông Trụ giận dữ, tranh
cãi mãi (với Thái Quân Thực). Hai người đánh nhau, Tông Trụ bị vỡ mặt, người đi
theo can ngăn cũng không được. Hai người còn kiện nhau ở Hồng Lô Tự (của nhà
Minh), nói xấu nhau đủ điều. Tông Trụ lại còn lén tới nhà viên nội quan của Bắc
triều ở Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc - ND), nhận riêng lễ vật, lại nói riêng
với viên quan của Long Châu đi tiễn là Lã Hồi về chuyện (Thái Quân Thực) khi đi
sứ ở Ai Lao đã nói vụng Tiên đế (tức Lê Lợi - ND) nghe lời gièm pha của kẻ xấu
mà giết hại nhiều người.
Hai người này đều vì tội đi
sứ mà giao thiệp với người nước ngoài, tức giận mà đánh lẫn nhau, làm nhục quốc
thể, đáng phải xử tử. Nhưng bởi cả hai đều từng là người có công lao, nên tùy
mức độ mà xử bị đi đày.
Tông Trụ còn phạm tội đem
nhiều tiền lụa sang mua hàng phương Bắc. Vua ghét Trụ làm liều, bất chấp cả
lệnh cấm của triều đình, bèn tịch thu hành trang (của Tông Trụ) mà chia cho các
quan.”
Lời bàn: Thái Quân Thực quyết
mặc cho bằng được chiếc áo có thêu kim tuyến, nhưng hoa văn lấp lánh của chiếc
áo ấy nào có đủ để che nổi một tâm hồn nhỏ nhen và ngang ngược của ông. Mới
hay, nhún nhường trong xử thế quả là rất khó.
Bởi nhỏ nhen và ngang ngược,
đến nỗi đánh nhau ngay giữa thiên triều, hai thành viên của sứ bộ đã hóa thân
thành hai kẻ vũ phu tầm thường. Sử chép Tông Trụ bị đánh vỡ mặt, nhưng xem ra,
trước khi họ đánh nhau, hai gương mặt ấy cũng có phải là lành lặn đâu. Họ đem
nhau đến kiện cáo ở Hồng Lô Tự nhà Minh, nhưng, thua kiện đau đớn nhất lại
chính là những người không hề dính dáng gì đến vụ kiện này, đó là triều đình,
là nhân dân Đại Việt. Với họ, quốc thể sao mả rẻ rúng đến thế?
Họ chửi nhau rồi đánh nhau
chưa đủ, còn đi bêu riếu đồng liêu và triều đình ở khắp nơi. Điều họ quan tâm
chỉ là quà cáp và buôn bán kiếm lời. Hẳn nhiên là với đà ấy, đến một dịp có
thể, họ sẵn sàng bản cả giang sơn này.
Triều đình xử họ phải đi
đày, kẻ viễn xứ, người cận xứ. Phép nước mỗi thời một khác, chẳng ai dảm bàn sự
đúng sai án quyết của triều đình thời ấy, nhưng, sống thêm mà làm gì nữa, hỡi
hai con người kia. Giá mà hai người biết được sử viết gì về họ, hậu thế nghĩ gì
về họ.
25 - PHAN THIÊN TƯỚC VÀ Ý THỨC VỀ
CHỨC PHẬN CỦA MÌNH
Sách Đại Việt sử kí
toàn thư (bản kỉ, quyển 11, tờ 29 a - b) có đoạn chép như sau:
"Ngày 18 (tháng 9 năm
ất Mão, 1435 - ND), triều đình nghị bàn riêng về các ngạch thuế. (Triều đình
định rằng), người có đất bãi trồng dâu và có ruộng cấy lúa, nếu là quân thì cấp
cho 5 sào đất bãi dâu, nếu là dân thì cấp cho 4 sào để làm sản nghiệp. Tất cả
được miễn thuế, trừ những người không vợ hoặc góa chồng. Phan Thiên Tước nói:
- Người không vợ và góa chồng là hạng người phải
được nhà vua thương đến. Nay bệ hạ ban ân huệ cho khắp quân dân mà những hạng
đó không được hưởng, thế ra họ không phải là dân của vua ư?
Quan Đại tư đồ là Lê Sát nói:
- Quân và dân là những hạng người dốc sức làm
việc, chớ bọn người không vợ hoặc góa chồng thì nhà nước được cậy nhờ gì mà
phải miễn thuế cho họ. Vả chăng, khi còn Tiên đế (tức còn Lê Lợi - ND), Tiên đế
cũng chưa từng giảm nhẹ cho ai, vậy mà sao ông im lặng, chẳng nói gì, nay nhà
nước đã định thành quy chế rõ ràng thì ông lại bàn cãi mãi là sao?
(Phan Thiên) Tước trả lời:
- Khi còn Tiên đế, Tước này chưa phải là Ngôn
quan, nay Tước giữ chức này thì phải nói. Mà tôi cũng chỉ nói điều hay cho nhà
nước chớ có mưu lợi riêng gì cho tôi đâu.
Bấy giờ, triều đình mới cho
những người không vợ hoặc giả là góa chồng được miễn thuế 3 sào.”
Lời bàn: Làm những việc không
thuộc chức trách của mình thì nếu không phạm thượng, ắt cũng giẫm phải chân
đồng liêu mà những việc thuộc chức phận của mình tất không thể chu toàn tốt
đẹp. Ở đời, những người nghiêm cẩn và mực thước, coi vậy mà chẳng có bao nhiêu.
Lời Phan Thiên Tước ắt không phải chỉ là lời bàn với bá quan đương thời, mà còn
là lời có ích chung cho tất cả những ai sắp bước vào hoạn lộ, cho nên sử mới
ghi lại đó thôi.
Việc thuộc chức phận phải
làm mà không làm, ấy là kẻ bê trễ. Đôi khi, sự chối từ lại chính là sự che đậy
một cách khôn ngoan những mưu toan cơ hội. Không nói thì không mất lòng ai, sự
thăng tiến dành cho những hạng người này xưa nay vẫn chiếm một tỉ lệ rất cao.
Thà làm đúng chức phận để được yên lòng, không tự thẹn với lương tâm, chứ chẳng
phải sự thăng tiến vinh hoa phú quý cho riêng mình mà bỏ qua điều chẳng phải,
Ngôn quan Phan Thiên Tước thật đáng kính lắm thay!
Triều đình Lê Thái Tông đặt
ra chức Ngôn quan chuyên lo nói lời can gián, lại chọn được người như Phan
Thiên Tước để trao chức đặc biệt này, chính sự rành mạch, dân cư an vui cũng là
phải lắm.
Mới hay, lo việc quốc gia
đại sự chỉ mới là một phần của đại đức, tìm người xứng đáng để trao việc quốc
gia đại sự mới là phàn quan trọng nhất của đại đức đế vương. Ngẫm mà xem!
26 – LẠI CHUYỆN CAN NGĂN CỦA NGÔN
QUAN PHAN THIÊN TƯỚC
Trong hàng quan lại của thời
Lê Thái Tông, hình như phải chịu khổ tâm nhiều hơn cả vẫn là các Ngôn quan. Họ
không nói tức là đã không làm hết chức phận, mà nói, nhất là nói lỗi của quan
trên, rồi đặc biệt là lỗi của vua, thì có khi, chính họ cũng khó bề giữ yên
thân mình. Lời nói thẳng thắn và đúng đắn của họ, cũng phải gian nan lắm mới
được triều đình nghe theo. Xin kể thêm một mẩu chuyện về Ngôn quan Phan Thiên Tước
để rõ điều này. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (chính
biên, quyển 16, tờ 20) chép rằng:
“Lê Thụ, ngay trong khi đang
có quốc tang (tang vua Lê Thái Tổ, tức Lê Lợi - ND) đã lấy vợ lẽ và bắt binh
lính về làm việc riêng cho mình như xây nhà và sai vặt. Thụ cất nhà đồ sộ, lại
còn giao lưu với người nước ngoài để buôn bán. Bấy giờ, quan giữ việc can ngăn
là Phan Thiên Tước đàn hặc các lỗi nói trên của Lê Thụ.
Khi ấy, phần nhiều các quan
đại thần đều bắt binh lính làm việc riêng và xây cất nhà cửa cho mình. Vua sai
Thiên Tước đi xem xét khắp nơi để xác minh hư thật. Khi Thiên Tước trở về, vua
vặn hỏi:
- Các đại thần cũng làm như thế, sao khanh
không nói mà chỉ đàn hặc một mình Lê Thụ mà thôi?
Thiên Tước thưa:
- Lê Thụ là đại thần, lại từng nhận lãnh thác
mệnh của tiên đế, lẽ ra phải giữ mình cho ngay thẳng để bá quan lấy đó làm
gương. Nay xem những việc Lê Thụ đã làm, thấy rõ Lê Thụ coi thường phép nước đã
quá lắm, cho nên, thần không dám nín tiếng im hơi. Còn như nay thần vâng mệnh
đi xem xét khắp các nhà đại thần thì thần đã làm, đâu dám lơ là chức trách?
Thiên Tước dâng sớ kể rõ
những ai làm nhà mới, chẳng hạn như quan Tham tri Đông Đạo là Lê Định cho đến
các quan giữ chức Quản lãnh, tổng cộng hơn 20 người. Tất cả đều được Nhà vua bỏ
qua, chỉ giao Lê Thụ cho Pháp ti xét hỏi. Nhưng, bọn Lê Vấn và Lê Ngân đều tìm
cách bào chữa, bao che cho Lê Thụ. Sau, Nhà vua cũng tha tội cho Thụ, chỉ bắt
Thụ phải bỏ người vợ lẽ và phải truy nộp 15 lạng vàng, 100 lạng bạc là số tiền
do buôn bán riêng mà có.”
Lời bàn: Phép nước xưa cho việc
quan lại tổ chức hát xướng vui chơi hoặc giả là cưới thêm vợ lẽ trong lúc có
quốc tang là có tội. Phép nước như thế là đúng hay sai, có lẽ xin được miễn
bàn, chỉ biết rằng, phép nước bao giờ cũng là phép nước, người có trách nhiệm
làm gương thực hiện trước hết phải là quan.
Cổ kim cho hay, người cố
tình làm sai phép nước thường rất ít ai chỉ cố tình làm trái một lần, và một
khi đại thần đã cố tình làm sai phép nước thì quan lại lớn nhỏ thế nào cũng có
kẻ bắt chước mà hùa theo. Hai mươi người cùng mắc tội giống như Lê Thụ, rồi Lê
Vấn và Lê Ngân lại bào chữa cho Lê Thụ, chuyện ấy có gì là lạ đâu.
Vua chỉ cho xét án mỗi mình
Lê Thụ, Vua lại chỉ bắt Lê Thụ bỏ người vợ lẽ mới cưới và nộp phạt ít tiền rồi
tha tội cho, thế thì phép nước bị gạt bỏ trước hết bởi chính bàn tay của Vua
vậy. Cội nguồn của những sự kiện bi thảm thời Lê Thái Tông bắt đầu từ đây chăng?
Khi trong thiên hạ có người được ngồi ngoài hoặc ngồi trên phép nước, thì loạn
li là điều sẽ không sao mà tránh được.
27 - CUỘC XUNG ĐỘT Ý KIẾN GIỮA NGUYỄN
TRÃI VỚI LƯƠNG ĐĂNG
Vừa lên ngôi Hoàng đế được
một thời gian, Lê Lợi đã quyết định chế nhã nhạc riêng cho triều đại của mình.
Công việc khó khăn này được giao cho quan Hành khiển là Nguyễn Trãi. Nhưng, mãi
đến bốn năm sau ngày Lê Lợi mất, Nguyễn Trãi cũng chỉ mới có thể dâng cho vua
Lê Thái Tông (1434 - 1442) bản vẽ của những chiếc khánh đá là một trong những
nhạc cụ buộc phải có mà thôi. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản
kỉ, quyển 11, tờ 35 - b và 36 - a) chép:
“Hành khiển Nguyễn Trãi dâng
bản vẽ những chiếc khánh đá và tâu Vua (Lê Thái Tông) rằng:
- Kể ra thì đời loạn trọng võ, thời bình trọng
văn. Nay quả rất đúng là phải chế ra các loại lễ nhạc. Nhưng, (nhạc) phải có
gốc mới đứng, phải có văn mới hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn
của nhạc vậy. Thần vâng chiếu soạn nhạc, dám đâu không dốc hết sức ra mà làm,
nhưng vì học thuật thì nông cạn, chỉ sợ thanh luật chẳng được hài hòa. Cúi xin
bệ hạ thương yêu và nuôi nấng muôn dân, khiến cho mọi xóm thôn không còn tiếng oán
hờn buồn khổ, như thế mới giữ được gốc của nhạc.
Vua khen ngợi và tiếp nhận
rồi sai thợ đá ở huyện Giáp Sơn lấy đá ở núi Kính Chủ để làm khánh.”
Nhưng, ngay khi thợ đá đang
làm khánh, vua Lê Thái Tông lại sai Lương Đăng cùng hợp sức với Nguyễn Trãi để
chế định nhã nhạc Ý kiến của hai người trong lĩnh vực này hoàn toàn khác nhau.
Nguyễn Trãi thấy không thể dung hòa được bèn xin thôi làm công việc vốn rất
phức tạp này. Cũng sách trên (tờ 38 a - b và tờ 39 - a) viết:
"Tháng 5 (năm Đinh Tị,
1437 - ND), Hành khiển Nguyễn Trãi tâu vua rằng:
- Mới rồi, bọn thần và Lương Đăng cùng hiệu
định nhã nhạc, song, cách của thần không giống với cách của Lương Đăng, nay
thần xin trả lại công việc được vua sai làm.
Trước, Thái Tổ sai Nguyễn
Trãi định ra quy chế về mũ áo nhưng chưa kịp thi hành. Đến đây, Lương Đăng dâng
thư, đại ý nói như sau:
- Kể về lễ thì có đại triều và thường triều.
Đại triều gồm có những lễ như tế trời, tế cáo ở thái miếu, ngày khánh tiết,
ngày chính đán... Trong những ngày đó, Hoàng đế mặc áo cổn, đội mũ miện, ngồi ở
ngai báu, còn như trăm quan thì mặc triều phục, đội mũ chầu. (Tuy cũng thuộc
đại triều) nhưng những ngày mồng một hoặc ngày rằm thì Hoàng đế mặc áo bào màu
vàng, đội mũ xung thiên, ngồi ngai báu, trăm quan cùng mặc công phục, đội mũ
phốc đầu, lễ thường triều gồm có những lễ còn lại. Trong những ngày đó Hoàng đế
mặc áo bào màu vàng, đội mũ Xung Thiên, ngồi sập vàng, còn như bá quan thì mặc
thường phục cổ tròn, đội mũ sa đen. Về nhạc thì nhạc đại triều dùng cho tế
Giao, tế Miếu, tế Ngũ Tự hoặc giả là khi cứu Mặt Trời, Mặt Trăng (khỏi nhật
thực và nguyệt thực). Nhạc thường triều và nhạc cửu tấu dùng khi đại yến. Đại
để nhạc dùng trong cung mỗi lễ một khác, không thể nhất loạt như nhau. Về Lỗ Bộ
đại giá cũng vậy. Xe kiệu thì có đại lộ, tượng lộ, mã lộ, kiệu chín rồng và
kiệu bảy rồng... nhanh chậm có khác nhau. Về nghi trượng thì có kim qua, phủ,
việt, chàng, phướn, tinh kì, mao tiết, chương phiến và long ngũ phượng. Số ngựa
đóng vào xe và số người theo hầu cũng đều có quy định cụ thể. Nói chung là
nhiều thứ, thần không thể chép ra đây hết được.
Thư ấy dâng lên, Vua lại sai
Lương Đăng định ra các quy chế. Đăng vâng mệnh làm và dâng lên những quy chế về
mũ, áo và nhạc. Đại để, quy chế của Đăng và của Trãi phần nhiều khác nhau,
trọng lượng và số lượng khác nhau đã đành, cả đến cách trình bày cũng khác. Vì
lẽ đó, Trãi xin thôi việc này. Vua theo lời tâu của Đăng mà làm.”
Lời bàn: Với Nguyễn Trãi, đến
cả nhã nhạc cũng phải hợp với lòng dân và hợp với sức dân, niềm vui của triều
đình phải thực sự là niềm vui chung của trăm họ. Khi chép sự kiện này vào bộ
sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (chính
biên, quyển 17, tờ 3) các sử gia thời Nguyễn đã có lời phê rất đúng rằng: “Lời
tâu này (của Nguyễn Trãi - ND) tuy đã nói đúng được cái gốc của nhạc nhưng nếu
thi hành thì khó đấy.”
Lê Thái Tông và Lương Đăng
sợ khó chăng? Dấu ấn của những năm chiến tranh gian khổ trong hai con người này
đã mờ nhạt. Gấm vóc nhung lụa đã tạo cho họ một lối nghĩ khác, một cái tình
cũng rất khác đối với dân. Nguyễn Trãi xin thôi việc cùng với Lương Đăng soạn
nhã nhạc là phải lắm. Một khi Vua đã có ý không tin dùng nữa, bàn thêm phỏng có
ích gì?
Nguyễn Trãi không muốn bàn
cãi thêm, ắt cũng muốn dành lời bàn cho hậu thế đó thôi.
28 – VỤ ÁN LÊ SÁT
Lê Sát sinh năm nào khang
rõ, chỉ biết ông người Lam Sơn, từng theo Lê Lợi nổi dậy đánh đuổi quân Minh
ngay từ khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vừa mới bùng nổ. Lê Sát là người lập công
lớn trong trận Quan Du (Thanh Hóa) năm 1420, trận Khả Lưu (Nghệ An) năm 1424 và
đặc biệt là trận Xương Giang (Bắc Giang) năm 1427. Khi Lê Lợi lên ngôi Hoàng
đế, ông được phong là Suy trung tán trị hiệp trung mưu quốc công thần, Nhập nội
kiểm hiệu tư khấu, Bình chương quân quốc trọng sự. Đến năm 1429, khi triều đình
cho khắc biển ghi tên 93 vị khai quốc công thần, tên ông được xếp ở hàng thứ
hai, tước hiệu là Huyện thượng hầu. Năm 1433, Lê Sát được gia phong là Dương vũ
tĩnh nạn công thần, chức Đại tư đồ, chịu cố mệnh của Lê Thái Tổ mà phò tá Lê
Thái Tông.
Bình sinh, Lê Sát là tướng
có tài, quyết đoán nhanh, nhưng là võ tướng ít chữ nghĩa, phép xử sự của ông
thường thiếu tế nhị, cho nên, lắm kẻ ghen ghét ông. Có lẽ đó chính là lí do sâu
xa dẫn đến vụ án Lê Sát và cái chết thê thảm của ông vào năm Đinh Tị (1437).
Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 11) đã có một vài
đoạn chép về ông như sau:
"Bấy giờ, tuổi Vua đã
tương đối lớn, đã có thể xét đoán mọi việc một cách sáng suốt, nhưng Lê Sát thì
vẫn tham quyền cố vị, cho nên, Vua rất ghét Sát. Ngoài mặt, Vua vẫn tỏ ra điềm
nhiên nên Sát không biết sự ghét bỏ này. Đến đây, (tháng 6 năm Đinh Tị, 1437 - ND),
Vua bàn với những người hầu cận, cho rằng: thân thích với Sát chỉ có bọn Lê Ê
và Lê Hiệu, còn hiềm khích với Sát thì có bọn Trịnh Khả. Bàn xong, bèn cho bọn
Lê Ê và Lê Hiệu ra ngoài (cung đình, nhậm chức ở xa) và giao cấm binh cho Trịnh
Khả coi giữ. Sát xin Vua cho giữ Lê Hiệu lại, tâu rằng:
- Nếu Khả được hầu trong cung thì sợ thần nguy
mất.
Vua (không trả lời, lặng lẽ)
trở vào cung. Ngày hôm sau, vua sai người báo cho Đinh Cảnh An rằng:
- Đại tư đồ được ta cho thăng chức mà không
nhận. Ta lại muốn dùng Lê Văn An làm Hải Tây đạo đồng Đô đốc tổng quản mà Sát
lại ngăn trở.
Đinh Cảnh An, Nguyễn Vĩnh
Tích bèn nhân đó mà hặc tội rằng:
- Lê Sát quen thói chuyên quyền, tội ấy khó
lòng dung thứ.
Tờ tâu (của bọn Đinh Cảnh An
và Nguyễn Vĩnh Tích) dâng lên. Vua trao cho hình quan xét hỏi. Sát cởi mũ, tâu
Vua rằng:
- Nếu ngày nay mà thần bị khép vào tội chuyên
quyền, thế thì chẳng phải tội của thần là do Tiên đế sắp đặt mà ra đó sao.
Lúc ấy, bọn Lê Văn Linh và
Lê Ngân đều cớ sức gỡ tội cho Sát nhưng Vua không nghe" (tờ 40 - b và 41 -
a).
"(Vua) xuống chiếu rằng:
Lê Sát chuyên quyền, nắm giữ việc nước, ghét người tài, giết Nhân Chú để ra
oai, truất Trịnh Khả để mong người phục, bãi chức của Ư Đài hòng bịt miệng bá
quan, đuổi Cầm Hồ ra biên ải để ngăn lời Ngôn quan... Mọi việc hắn làm đều trái
với đạo làm tôi. Nay ta muốn khép hắn vào hình luật để tỏ rõ phép nước, nhưng
vì hắn là viên cố mệnh đại thần, từng có công với xã tắc nên được đặc cách
khoan thứ, nhưng phải tước bỏ hết quan chức" (tờ 41 - b).
"Cho Lê Sát được tự tử
ở nhà. (Vua) xuống chiếu rằng: Lê Sát nay lại ngầm nuôi bọn võ sĩ, liều chết để
hại các bậc trung thần lương tướng, mưu kế thật xảo quyệt, ý định gian phi đã
quá rõ, lẽ phải đem chém để rao.
Bọn Lê Ngân và Bùi Cầm Hồ
cùng tâu rằng:
- Tội Sát đáng chết, nhưng Sát từng là đại
thần, nếu đem xác đi rao thì sợ để tiếng chê cười cho mai sau.
(Vua nghe), bên cho được
chết ở nhà. Vợ con và điền sản nhà Sát đều bị tịch thu. (Vua) sai đem đồ đạc
của nhà Sát ban cho các quan" (tờ 43 - a).
Lời bàn: Lê Sát một thời xông
pha đánh Nam dẹp Bắc, nguy hiểm đến tận cùng mà vẫn toàn được tính mạng, lại
còn lập được công to, nếu không phải là người thực tài thật khó mà được vậy.
Thế nhưng, giữa thời thái bình thịnh vượng, Lê Sát lại chết tức tưởi vì lời
gièm pha, đành Lê Sát cũng có chút lỗi của ông, nhưng nếu phép nước thật công
minh, có lẽ ông không phải chết như thế. Bấy giờ, ai cũng nhân danh phép nước,
nhân danh chiếu chỉ của Nhà vua, có biết đâu, chính Vua cũng bị hậu cung giằng
xé. Quyền bính hậu cung gần như nằm hết trong tay Nguyễn Thị Anh, các bà hoàng
đều lần lượt bị bà Nguyễn Thị Anh tìm kế hãm hại. Lê Sát là thân sinh của bà Lê
Thi Ngọc Dao. Nguyễn Thị Anh muốn hãm hại bà Ngọc Dao, tất trước phải hãm hại
thân sinh của bà là Lê Sát. Sau này cũng vì muốn hãm hại bà Ngô Thị Ngọc Dao,
bà Nguyễn Thị Anh đã âm mưu hãm hại Nguyễn Trãi là người đã cưu mang bà Ngô Thị
Ngọc Dao đó thôi.
Hại người tất sẽ bị người
hại. Sau, Nguyễn Thị Anh bị Lê Nghi Dân giết. Mới hay, cái gốc của vụ án Lê Sát
lại ở ngay trong hậu cung bí hiểm này.

