Việt sử giai thoại (Tập 5) - Chương 01 - 06
01 - LÍ LỊCH XUẤT THÂN CỦA LÊ LỢI
Tằng tổ của Lê Lợi là Lê
Hối, vốn người ở thôn Như Áng. Sách Đại Việt thông sử (trang
31) chép rằng: "Một hôm, cụ đi chơi thấy đàn chim lượn vòng quanh trên một
khoảng đất nơi dưới núi Lam Sơn, trông như hình một đám người tụ hội. Cụ nghĩ:
“Chỗ này tất là nơi đất lành,” bên dời nhà đến ở đấy, rồi khai phá ruộng vườn,
tự chăm lo cày cấy, được ba năm thì thành sản nghiệp, từ đấy, đời đời đều là
hùng trưởng một phương.”
Lê Hối sinh ra Lê Thinh. Lê
Thinh lấy bà Nguyễn Thị Quách, sinh hạ hai người con trai, con trưởng là Lê
Tòng, con thứ là Lê KHóang. Lê KHóang kết hôn với bà Trịnh Thị Ngọc Thương,
sinh hạ được ba người con trai, con trưởng là Lê Học, con thứ là Lê Trừ và con
út là Lê Lợi.
[Chúc bạn đọc sách vui vẻ
tại www.gacsach.com - gác nhỏ cho người yêu sách.]
Cũng sách Đại Việt
thông sử (trang 32) chép rằng: "Vua sinh giờ tí (tức từ khoảng 23
giờ đến 1 giờ sáng - NKT) ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385), niên hiệu
Xương Phù thứ 9 nhà Trần, tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương. Nguyên trước, xứ
Du Sơn, thôn Như Áng Hậu thuộc làng này (Chủ Sơn), có một cây quế, dưới cây quế
này có con hùm xám thường xuất hiện, nhưng nó hiền lành, vẫn thường thân cận
với người mà chưa từng hại ai. Từ khi Vua ra đời thì không thấy con hùm ấy đâu
nữa. Người ta cho là một sự lạ! Ngày Vua ra đời thì trong nhà có hào quang đô
chiếu sáng rực, và mùi thơm ngào ngạt khắp làng. Khi lớn lên thì thông minh
dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng,
sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai bên tá có bảy nốt ruồi, bước đi như
rồng như hổ, tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay
là một người phi thường.
Khi Vua làm phụ đạo ở Khả
Lam, được hồn sư ông mặc áo trắng hiển hiện chỉ cho ngôi huyệt phát "đế
vương" ở động Chiêu Nghi.
Thời ấy, người phường chài ở
sách Mục Sơn là Lê Thận, đêm nào cũng thấy khoảng sông Lam Xuyên có luồng ánh
sáng như bó đuốc cháy. Hơn một tháng sau, bỗng chài được một thanh sắt dài hơn
một thước, hình tựa con dao cũ, đem về để trong nhà. Ngay hôm ấy, Vua đến nhà
ông, thấy trong nhà tối có một luồng ánh sáng, liền tới chỗ đó lấy thanh đao
đem về. Về đến nhà, không phải mài mà sáng (như dao mới), nhận thấy có hàng chữ
triện khắc trên thân đao, biết là một thanh đao quý. Đêm hôm sau, có trận mưa
gió, sáng ra, thấy trong vườn rau có lốt chân thần in trên lá rau, Vua sai
người vẽ hình vết chân ấy. Ngày hôm sau, Hoàng hậu ra vườn hái rau, đến chỗ cây
rau có hình bàn chân, bỗng được một quả ấn báu, dài rộng ngay ngắn, một quả ấn
khắc mấy chữ lối triện, trên lưng quả ấn khắc đích họ tên Vua, nhận kĩ mới rõ.
Vua biết là bảo vật của trời ban cho, bèn cúi đầu lạy tạ. Ngày hôm sau, bỗng
được cái chuôi kiếm ở gốc cây đa, rửa sạch đất cát đi, thấy có khắc hình con
rồng và con hổ, và hiện ra hai chữ "thanh thúy,” đem lắp vào thanh kiếm đã
bắt được hồi trước, vừa vặn không sai tí nào, càng tin là vật của thần cho.”
Lời bàn: Ở đời, phàm người mình
yêu thì bao giờ cũng đẹp, thậm chí, có khi mình còn thấy cả cái đẹp trong chỗ
chưa đẹp; và phàm là người mình kính thì khi họ sống, mình thấy họ có uy, khi
họ mất, mình thấy họ thiêng, thậm chí, thấy cả cái uy cái thiêng ngay trong chỗ
rất bình thường nữa. Bậc dốc lòng nuôi chí cả, bất chấp hiểm nguy mà làm nên
đại sự nghiệp cứu nước cứu dân như Lê Lợi, cổ kim nào có được mấy người. Cho nên,
nếu trăm họ cảm phục và kính trọng Lê Lợi, rồi nhân đó mà tặng thêm cho lí lịch
Lê Lợi những chi tiết li kì và sử gia xưa cũng viết về Lê Lợi với tấm lòng ấy,
khiến cho Lê Lợi càng trở nên khác thường, thì có gì là lạ đâu.
Vẫn biết rằng lúc vận nước nguy
nan, ngọn cờ thiên hạ cần nhất là ngọn cờ đủ sức quy tụ và cố kết lòng người
chứ không phải là ngọn cờ có sắc màu lạ, nhưng khi xã tắc thái bình, nếu ngọn
cờ đủ sức quy tụ và cố kết lòng người bỗng được vẽ thêm sắc màu lạ, thì trăm họ
cũng sẽ sẵn lòng tin là sắc màu ấy vốn đã có từ lâu.
02 - SỰ TÍCH ĐIỆN TIÊN DU
Ở xứ Phật Hoàng, động Chiêu
Nghi, Lam Sơn, Thanh Hóa, có một ngôi điện nhỏ, gọi là điện Tiên Du. Điện này
được lập từ thế kỉ XV. Sách Lam Sơn thực lục (quyển 1) đã chép
về sự tích điện Tiên Du này như sau:
'Thuở ấy, Vua (chỉ Lê Lợi - ND)
sai người đến cày ruộng ở xứ Phật Hoàng thuộc động Chiêu Nghi. (Người cày) bỗng
thấy một vị sư già, mình kHóac áo trắng, đi từ hướng làng Đức Trai tới, vừa đi
vừa than rằng:
- Đất này đẹp quá, thế mà chẳng có ai để trao
cho.
Người cày thấy thế, vội chạy
vế báo Vua hay. Vua chạy gấp đến hỏi. Có người cho biết:
- Nhà sư đã đi rồi.
Theo hướng chỉ, Vua đi nhanh
đến sách Quần Đội, huyện Lôi Dương. (Dọc đường), Vua thấy có cái thẻ tre đề
rằng:
Thiên đức
thụ mệnh,
Tuế trung
tứ thập,
Số dĩ chỉ
định
Tích tai vị
cập.
(Nghĩa là: Đức trời nhận
mệnh, vào tuổi bốn mươi, số kia đã định, tiếc thay chẳng kịp). Vua thấy chữ ấy
mà mừng nên càng cố đi nhanh. Lúc ấy, rồng vàng hiện lên che lấy Vua. Vừa chợt
thấy, vị sư già đã thưa rằng:
- Tôi từ đất Ai Lao đến, người họ Trịnh, tên
tự là Bạch Thạch Sơn Tăng. Thấy Vua khí tượng khác người, đoán là có thể làm
nên việc lớn.
Vua quỳ xuống thưa rằng:
- Mạch đất của tôi đây sang hèn ra sao, dám
xin thầy chỉ rõ cho.
Vị sư già nói:
- Xứ Phật Hoàng, động Chiêu Nghi có một thửa
đất rộng chừng nửa sào, có hình tượng như cái ấn của nước nhà, bên tả có thái
thất là núi Chí Linh ở Mường Giao Lão. Trong núi ấy có gò Tiên Bạn, Chiêu Sơn ở
xã An KHóai là án, phía trước có nước Long Sơn, phía trong có nước Long Hồ hình
xoáy như ruột ốc, bên hữu có nước hồ bao quanh, phía ngoài chân núi tựa như
chuỗi hạt. Đất ấy, đàn ông thì quý không thể nói được, nhưng đàn bà thì hẳn là
sẽ phải thất tiết. Tôi e rằng con cháu ngài về sau nó không ở cùng với nhau.
Ngôi báu tất có khi trung hưng, mệnh trời có thể biết trước được. (Bây giờ) nếu
có được thầy giỏi, đem hài cốt đi cải táng thì vẫn có thể phấn phát được dăm
trăm năm.
Nghe lời vị sư già, Vua đem
hài cốt của thân phụ táng ở xứ ấy. Vào khoảng giờ Dần (từ 3 đến 5 giờ sáng - ND),
khi Vua về đến thôn Giao Xá Hạ thì vị sư già ấy cũng bay lên trời. Vì lẽ này,
Vua cho lập điện Tiên Du ở đấy. Trong động Chiêu Nghi, Vua cho dựng am nhỏ (chỗ
mộ Phật Hoàng). Đó chính là gốc cội của sự phát tích.”
Lời bàn: Chuyện này có đến ba
điều đáng suy ngẫm. Thứ nhất, nhờ người nhà đi cày về mách bảo, Lê Lợi mới hay
là có thầy phong thủy đi qua xứ mình. Người cày ấy chính là nhân chứng bằng
xương bằng thịt vậy. Thứ hai, thầy phong thủy lại cũng là một vị sư già, tự
hiệu Bạch Thạch Sơn Tăng, vốn người Ai Lao, tức là người xứ lạ. Cứ theo nếp
nghĩ “bụt chùa nhà không thiêng” thì người xứ lạ thường là người giỏi hơn xứ
mình, họ mà đã nói thì còn sai vào đâu được. Vả chăng, đã là người xứ lạ giá
thử như có người nào khó tính của xứ mình muốn đến gặp để kiểm chứng lại, việc
nhiêu khê này cũng chẳng dễ gì làm. Thứ ba, thầy phong thủy sau khi chỉ huyệt
đại phát cho Lê Lợi, đã bay thẳng lên trời. Với đấng phi phàm ấy, thế tục chỉ
còn biết hãy vâng theo và nghiêm cẩn kính thờ.
Từ ba điều
đáng suy ngẫm ấy, dễ thường cũng có cả trăm lẽ khiến cho thiên hạ kéo về tụ
nghĩa ở Lam Sơn. Chí quật khởi có thật, cộng với khí thiêng sông núi và mệnh
trời vô hình lẩn quất đâu đó đã cùng họp lại mà tạo ra sức mạnh vô song, quân
Minh xâm lược không bị đánh bại làm sao được!
03 - LÊ LỢI XƯỚNG NGHĨA
Sách Đại Việt thông
sử (trang 34 chép rằng: "Từ khi người Minh đô hộ nước ta, chính
sự phiền toái, thuế má nặng nề, quan tham lại nhũng, cấm dân nấu muối trồng
rau, bắt dân xuống biển mò ngọc châu, phá núi tìm vàng; những sản phẩm quý giá
như ngà voi, sừng tê, lông chim trả, cùng các thứ hương liệu, chúng đều vơ vét
hết. Sau lại bất dân đắp mười thành trong mười quận để đóng quân; chúng lại
khéo dùng chức tước để dụ dỗ những người hào kiệt, đưa về triều đình Trung Hoa,
cốt là an trí ở đó. Bởi vậy nhân dân nước ta không trừ một ai, thảy đều thảm
sầu oán giận! Vua (chỉ Lê Lợi - NKT) vẫn giữ chí như trước, dù người Minh đem
quan tước ra dụ cũng không được, lấy thế lực cũng không hiếp nổi, nhưng nhận
thấy thế quân địch đang mạnh, nên Vua càng ẩn trong bóng tối, không dám khinh
động, lại thường đem bảo vật năn nỉ hối lộ cho bọn Trương Phụ, Trần Trí, Sơn
Thọ và Mã Kỳ, những mong được khỏi nạn, để nuôi thêm sức lực và chờ đợi thời
cơ. Chỉ vì tên Lương Nhữ Hốt, người huyện Cổ Đằng (sau này đổi là Hoằng Hóa)
giữ chức tham chính, là thổ quan của người Minh, đem lòng ghen ghét, bèn mật
cáo với người Minh rằng:
"Người chúa Lam Sơn
chiêu nạp những kẻ vong mạng và làm phản, đãi ngộ sĩ tốt rất hậu, chí của người
ấy không phải là nhỏ. Nếu không sớm liệu đi, để cho con rồng gặp mây mưa, thì
khi ấy nó sẽ không còn là một con vật ở trong ao nữa đâu. Vậy, xin trừ ngay đi,
đừng để tai vạ về sau.”
Người Minh tin lời tên Nhữ
Hốt, cho nên, càng bức bách rất gấp. Bởi vậy, Vua bèn đại hội tướng sĩ, bàn tính
việc khởi binh.
Ngày mồng hai là ngày Canh
Thân, tháng giêng năm Mậu Tuất (tức ngày mồng hai Tết, hay ngày 7 tháng 2 năm
1418), niên hiệu Vĩnh Lạc thứ XVI nhà Minh, Vua dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn,
xưng là Bình Định Vương.”
Lời bàn: Trước, dẫu lòng riêng
vẫn hằng kính trọng nghĩa khí của Giản Định Đế và Trùng Quang Đế, nhưng Lê Lợi
vẫn quyết không theo phò, bởi đã nhìn thấy kết cục thất bại không thể nào tránh
khỏi của họ. Đó là mẫn tuệ.
Sau, vì thương trăm họ bị
quân Minh đày đọa mà khôn khéo tập hợp anh hùng hào kiệt, ẩn nhẫn chờ thời để
dựng cờ cứu nước cứu dân, đó là chí nhân và đại dũng.
Gồm đủ cả trí, dũng và nhân,
Lê Lợi quả đúng như lời Lương Nhữ Hốt nói, chẳng phải là con vật tầm thường
trong ao, mà là con hoàng long phi phàm vậy.
Dân gian có câu rằng:
Xạ hương dẫu ở trong rừng.
Khi thơm, bưng bít mấy tầng
cũng thơm.
Trước khi để lại danh thơm
muôn thuở cho nước nhà, Lê Lợi là xạ hương đặc biệt của núi rừng Lam Sơn đó
chăng? Nếu không, trăm họ ở khắp thiên hạ bốn phương, làm sao biết được để tìm
đến mà tụ nghĩa?
04 – HOẰNG HỰU ĐẠI VƯƠNG VÀ BẢO QUỐC
ĐẠI VƯƠNG
Bên bờ sông Khả Lam (Thanh
Hóa) hiện vẫn còn dấu tích của hai ngôi miếu thờ, một là Hoàng Hựu Đại vương và
một là Bảo Quốc Đại vương. Sự tích hai ngôi miếu thờ này được sách Lam
Sơn thực lục chép lại khá rõ.
Chuyện kể rằng, khi Lê Lợi
đang gấp rút chuẩn bị dựng cờ khởi nghĩa thì có một sự xích mích đáng tiếc đã
xảy ra. Bấy giờ, ở thôn Hào Lương (cũng thuộc Lam Sơn) có một người tên là Đỗ
Phú, bỗng sinh chuyện tranh giành đất đai với Lê Lợi. Đỗ Phú đưa đơn kiện Lê
Lợi. Quan trên thấy Đỗ Phú đuối lí, bèn cho Lê Lợi thắng kiện. Lam Sơn
thục lục (quyển 1) chép:
“Đỗ Phú nhân thế mà sinh thù
oán, dẫn giặc Minh về bắt Vua (chỉ Lê Lợi - ND). Vua cùng với Lê Liễu chạy đến
sông Khả Lam thì thấy thi thể một người đàn bà, mình mặc áo trắng, có đeo xuyến
vàng và thoa vàng. Vua và Lê Liễu ngửa mặt lên trời mà khấn rằng:
- Ta bị giặc Minh đuổi, xin hãy giúp ta thoát
nạn, mai sau nếu được thiên hạ, ta sẽ lập miếu thờ, hễ có bò heo cúng tế thì sẽ
xin đem cúng trước.
(Khấn rồi, vội đem xác người
đàn bà đi chôn). Mồ đắp chưa xong thì giặc đã xua chó ngao chạy đến. Vua và
Liễu trốn vào gốc cây đa. Giặc lấy giáo đâm vào gốc đa, mũi giáo trúng ngay đùi
bên trái của Liễu. Liễu lấy tay nắm cát, đem vuốt cho hết máu ở mũi giáo. Bất
ngờ, một con chồn trắng từ đâu đó trong gốc đa chạy ra, chó ngao cứ thế đuổi
theo chồn, giặc bỏ đi vì không nghi trong gốc cây có người trốn nữa, Vua cũng
nhờ vậy mà được thoát.
Sau này, khi định song thiên
hạ, Vua phong thần áo trắng làm Hoằng Hựu Đại vương (vị Đại vương có công lớn
trong việc cứu giúp) và phong cây đa làm Hộ Quốc Đại vương (vị Đại vương có
công bảo hộ nước nhà).
Lời bàn: Sống mà phản trắc như
Đỗ Phú là sống nhục. Của tham dầu mọn nuốt cũng chẳng trôi mà danh nhơ thì muôn
đời rửa cũng chẳng sạch.
Trong chỗ quẫn bách, cái
chết đã cận kè mà Lê Lợi và Lê Liễu vẫn giữ vững đức nhân, cẩn thận đắp mồ cho
người đàn bà xấu số, việc ấy đáng kính lắm thay. Bậc đại nhân túc tự trí thường
vẫn ung dung, thấy lối thông trong chỗ cùng, thấy đường sống ngay trong chỗ
hiểm nguy chết chóc. Nếu không vậy thì làm sao mà Lê Liễu đủ bình tĩnh nắm cát
vuốt máu ở đầu mũi giáo!
Ban sắc phong cho thần áo
trắng và cây đa ở bến Khả Lam, hẳn Hoàng đế Lê Lợi muốn tự nhắc nhở mình đừng
quên thời hàn vi gian khổ và nhắc nhở dân Lam Sơn rằng đừng bao giờ quên đất ấy
quả là địa linh.
Đỗ Phú mang danh là người mà
sau chẳng dám ngửa mặt nhìn người, đến cúi xuống cũng chẳng dám mở mắt, bởi
thân xác ấy làm sao mà không khỏi hổ thẹn, cả với gốc cây đa, với con chồn trắng
bên bến Khả Lam.
05 - LÊ LAI CỨU CHÚA
Lê Lai là con của Lê Kiều,
người thôn Dựng Tú, sách Đức Giang huyện Lương Giang (Thanh Hóa). Cùng với anh
trai là Lê Lạn, Lê Lai đã sát cánh với Lê Lợi ngay trong những ngày trứng nước
của phong trào Lam Sơn, và từng có mặt trong hội thề Lũng Nhai lịch sử. Gia
đình Lê Lai có năm người cùng tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đó là Lê Lạn,
Lê Lai và ba con của Lê Lai là Lê Lư, Lê Lộ và Lê Lâm. Ngoại trừ Lê Lâm mất năm
1430 (trong trận đánh nhau với Ai Lao thời vua Lê Thái Tổ), bốn người còn lại
đều anh dũng ngã xuống trong cuộc chiến đấu chống quân Minh.
Sách Đại Việt thông
sử (trang 156 và 157) đã chép về Lê Lai như sau:
"Lê Lai tính cương
trực, dung mạo khác thường, chí khí cao cả lẫm liệt, lo việc hầu cận cho Vua Thái
Tổ rất chu đáo, công lao rõ rệt. Mùa đông năm Bính Thân (1416), vua Thái Tổ
cùng 18 vị tướng thân cận của nhà vua, liên danh hội thề, nguyện sống chết có
nhau, ông cũng dự trong số đó, ông được trao chức Tổng quản phủ Đô tổng quản,
tước quan Nội hầu. Năm Mậu Tuất (1418) lúc vua mới dựng cờ khởi nghĩa, tướng
ít, quân thiếu, bị tướng nhà Minh vây đánh ở Mường Một, Vua chạy thoát, về đóng
ở Trịnh Cao, nơi hẻo lánh, không dân ở, tướng Minh chia quân chặn những nơi
hiểm yếu, tình thế rất cấp bách, nhà Vua hỏi các tướng: "Ai dám đổi áo
thay ta đem quân ra đánh giặc, xưng danh hiệu của ta, bắt chước như Kỷ Tín đời
Hán, để cho ta có thể giấu tiếng nghi binh, tập hợp tướng sĩ, mưu tính cuộc nổi
dậy về sau.” Các tướng đều không ai dám hưởng ứng. Riêng Lê Lai đứng dậy nói:
"Tôi xin đi. Sau này lấy được nước thì nghĩ đến công lao của tôi, khiến
cho con cháu muôn đời được nhờ ơn nước, đó là nguyện vọng của tôi.” Nhà Vua rất
thương cảm. Ông nói: "Bây giờ nguy khốn thế này, nếu ngồi giữ mảnh đất
nguy hiểm, vua tôi đều bị tiêu diệt, sợ sẽ vô ích, nếu theo kế này, may ra có
thể thoát được. Kẻ trung thần chết vì nước nào có tiếc gì.” Nhà vua vái trời mà
khấn rằng: "Lê Lai có công đổi áo, sau này tôi và con cháu tôi, cùng con
cháu các tướng tá công thần, nếu không nhớ đến công lao ấy, thì xin cho cung
điện biến thành rừng núi, ấn báu thành cục đồng, gươm thần biến thành dao cùn.”
Ông bèn dẫn hai con voi và 500 quân kéo thẳng tới trại giặc khiêu chiến. Giặc
dốc hết quân ra đánh, ông cưỡi ngựa tốt, xông thẳng vào giữa trận, hô to lên
rằng: "Chúa Lam Sơn chính là ta đây,” rối đánh giết được rất nhiều quân
giặc. Khi đã kiệt sức, ông bị địch bắt xử cực hình...” Vua cảm động vì lòng
trung nghĩa của ông, trước hết sai người ngầm tìm di hài ông, đem về mai táng ở
Lam Sơn. Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), phong ông là công thần hạng nhất,
tặng là "Suy trung Đồng đức Hiệp mưu Bảo chính Lũng Nhai công thần"
hàm Thiếu úy, thụy là Toàn Nghĩa. Tháng 12 năm sau, nhà Vua sai Nguyễn Trãi,
viết hai bản lời thề ước trước và lời thề nhớ công của Lê Lai, để vào trong hòm
vàng, lại gia phong cho ông hàm Thái úy. Năm Thái Hòa thứ nhất (1443), ban tặng
là Bình Chương quân quốc trọng sự, ban cho túi kim ngư, ấn vàng (kim phù) tước
Huyện thượng hầu. Đầu niên hiệu Hồng Đức (1470), tặng là Diên Phúc hầu, đến năm
thứ 15 (1484), truy tặng là Thái úy Phúc Quốc công, về sau gia phong là Trung
Túc Vương.”
Lời bàn: Vẫn biết lúc xông pha
trận mạc, thật khó có thể bảo trọng tấm thân, nhưng đi vào chỗ mà cải chết chỉ
còn cách mình trong gang tấc, cổ kim nào có được mấy người! Khí phách và lòng
trung nghĩa của Lê Lai, khỏi bàn cũng đã quá rõ. Song, có lẽ cũng chớ nên quên
rằng, chỉ có những người như Lê Lợi mới quy tụ được những người như Lê Lai, và
cũng chỉ có những người như Lê Lai mới dám quả cảm hi sinh thay cho Lê Lợi. Vua
ấy, dũng tướng ấy, cuộc hội ngộ cảm động làm sao.
Ai mà chẳng chết, khác nhau
chăng cũng chỉ là, nếu được chọn, người ta nên chết như thế nào đó thôi. Lẫm
liệt thay, Lê Lai!
06 - CẦM BÀNH BỊ MẮC MƯU
Ngày 10 tháng 4 năm Quý Mão
(1423), thực hiện chủ trương tạm thời hòa hoãn với quân Minh để tạo cơ hội củng
cố và phát triển lực lượng, Lê Lợi và tướng sĩ trở về Lam Sơn. Tướng giặc là
Trần Trí và Sơn Thọ thỉnh thoảng vẫn sai người đem quà đến tặng Lê Lợi để nhân
thể dò la tình hình, ngược lại, cũng đã có lần Lê Lợi sai Lê Trăn mang phẩm vật
đến doanh trại giặc đáp lễ. Nhưng, bọn Trần Trí ngờ Lê Lợi chỉ vờ giao hảo nên
bắt giữ Lê Trăn.
Đến tháng 9 năm Giáp Thìn
(1424), giai đoạn tạm thời hòa hoãn giữa hai bên đã chấm dứt. Thực hiện kế
hoạch chiến lược của Nguyễn Chích, quân Lam Sơn ồ ạt đánh vào Nghệ An. Tháng 11
năm đó, quân Lam Sơn vây chặt lực lượng giặc ở châu Trà Long do Cầm Bành chỉ
huy.
Bị bao vây bốn mặt, Cầm Bành
chỉ còn biết trông cậy ở viện binh của Sơn Thọ ở Nghệ An. Nhưng, bọn Sơn Thọ
sau mấy trận thất bại đã mất hết dũng khí. Chúng sai người đưa Lê Trăn trả cho
Lê Lợi, đồng thời có ý cầu hòa. Sách Đại Việt thông sử (trang 43 - 44)
chép rằng:
"Sau khi tiếp sứ giả,
Vua (chỉ Lê Lợi - NKT) triệu các tướng bàn rằng: "Hiện Cầm Bành bị vây
khốn đốn, lẽ ra bọn tên Chính (tức Phương Chính - NKT) phải cấp cứu ngay mới
phải, thế mà đến nay vẫn dùng dằng quanh co. Đó tất là nó có ý sợ. Chi bằng ta
hãy cứ vờ bằng lòng hòa để xem tình thế. Trong khi thư từ qua lại độ một tháng,
thì ta đã bắt được Cầm Bành rồi.”
Bàn xong, cho viết bức thư,
để lên trên một cái bè, thả cho xuôi dòng, trong thư nói: "Chúng tôi muốn
trở về Thanh Hoa, nhưng sợ bị Cầm Bành ngăn chặn. Vậy ông cho người tới hòa
giải để thông lối về, rất mong.” Chính nhận thư, tin là thực, bèn sai Trần Đức
Nhị đưa thư đến Cầm Bành bảo nên hòa giải. Cầm Bành được thư, biết là viện binh
không đến, bèn mở cửa thành ra hàng.”
Lời bàn: Cầm Bành ra hàng, biết
bị mắc mưu nên tìm cách bỏ trốn, bị Lê Lợi bắt giết. Chuyện này, mãi sau Sơn
Thọ mới hay.
Hóa ra, người cầm quân giỏi
đôi khi cũng có nét phảng phất giống người thầy thuốc có tài. Thầy thuốc bắt
mạch mà đoán ra bệnh để cắt thuốc, người cầm quân coi ý tứ mà biết thực lực của
đối phương. Xét việc Sơn Thọ trả Lê Trăn, lại xét lời lẽ sứ giả có ý muốn giảng
hòa, Lê Lợi đã hạ lệnh bao vây Cầm Bành đến cùng, đồng thời, cậy nước sông
chuyển thư, cố ý làm cho cuộc trao đổi đôi bên phải kéo dài, buộc Cầm Bành kiệt
sức.
Kể ra, Sơn Thọ cũng là tướng
có tài, chỉ tiếc là chưa tài bằng Lê Lợi thôi. Lấy một châu mà không tốn tên
đạn, tướng lão luyện mà làm được như Lê Lợi, xưa nay nào đã có mấy ai?

