Mảnh gốm vỡ - Chương 10
Chương 10
Dùng một hòn đá nhọn, Mộc
Nhĩ vạch thêm một dấu nữa lên khung chiếc gùi. Có sáu vạch tất cả, mỗi vạch là
một ngày đi đường tính cho tới nay.
Đúng như bác Sếu dự đoán
- mỗi ngày ở một ngôi làng. Sáng sáng Mộc Nhĩ thức dậy, rửa mặt ở một con suối,
ăn một chiếc bánh gạo của Ajima rồi lên đường. Đến khi mặt trời đứng bóng, nó
dừng lại tìm một chỗ có bóng mát để nghỉ ngơi và uống nước từ bầu quả khô. Khi
mặt trời hơi xế bóng, nó lại tiếp tục đi. Đôi lúc, vào khoảng chiều muộn hoặc
tối mịt nó mới tới một ngôi làng và dừng chân nghỉ qua đêm.
Phong tục mến khách của
dân quê dành cho những kẻ nhỡ đường là thuận lợi lớn đối với một thằng bé như
Mộc Nhĩ. Nó đi trên đường làng cho đến khi một ai đó - thường là trẻ con - hỏi
han sức khỏe và chuyện đi đường của nó. Mộc Nhĩ sẽ theo nó về nhà. Các gia đình
bao giờ cũng cho phép nó ngủ dưới mái hiên. Nhiều khi họ còn cho nó ăn tối. Nếu
không được đãi bữa tối thì ông chủ Min cũng đã cho nó một xâu tiền xu để mua
thức ăn. Nó giữ tiền trong một chiếc túi nhỏ ở thắt lưng cùng với hai hòn đá
lửa và một thỏi đất sét.
“Có lẽ mày sẽ quay về với
một ít tiền còn dư,” ông thợ Min nhấm nhẳng nói vào một buổi sáng nó lên đường.
Khi đưa tiền cho Mộc Nhĩ ông đã đặt tay lên vai nó trong một giây. Chỉ thế thôi
nhưng Mộc Nhĩ xúc động đến nỗi suýt khuỵu xuống. Ông Min quay ngoắt người vào
nhà không một lời từ biệt, nhưng một lúc sau đó Mộc Nhĩ vẫn cảm giác tựa hồ tay
ông đang chạm vào nó.
Ajima có đưa cho Mộc Nhĩ
một bao đồ ăn. Ngoài bánh gạo đặc, thứ lương khô tốt nhất trên đường trường,
còn có một thứ đáng ngạc nhiên khác: Một gói gokkam- mứt hồng vàng khô ngọt ngào. Đôi mắt nó mở thao láo không
tin nổi khi mở cái gói lúc nghỉ chân ngày đầu tiên. Nó nhận ra ngay: những trái
hồng tròn dẻo màu vàng cam. Cách đây nhiều năm trong dịp lễ Phật Đản[5], một nhà sư nhân từ đã cho nó ăn vài
quả gokkam. Đó là lần duy nhất
mà nó từng được nếm vị mứt hồng. Nhưng món mứt hồng gokkam này ngon hơn nhiều, mỗi miếng mứt ngọt ngào, thơm phức
gợi nhớ đến sự chăm sóc ân cần của Ajima.
[5] Ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời, vào ngày 15
tháng 4 âm lịch - ND.
Cho đến lúc này chuyến đi
của nó vẫn xuôi chèo mát mái khiến nó bắt đầu lơ là cảnh giác. Không có rủi ro
hay tai nạn giáng xuống nó và gùi hàng. Thời tiết đẹp, ban ngày, thời tiết nóng
như mùa hè, ban đêm lại dịu mát như tiết thu thật sự. Nó ngủ, chiếc gùi vừa cao
vừa cứng dùng làm gối nhưng sự bất tiện khó chịu luôn được cảm nhận như một lời
nhắc nhở về bổn phận của mình.
Tuy nhiên, hôm nay, những
nỗi bồn chồn lo âu dọc đường của Mộc Nhĩ đã trở lại. Cho đến lúc ấy, việc đi
lại thật dễ dàng. Sau khi vượt qua ngọn núi gần Chulpo nhất, con đường trở nên
bằng phẳng, xuyên qua những cánh đồng lúa bát ngát. Nhưng giờ đây bắt đầu có
nhiều đồi dốc, con đường dẫn lên cao dần. Đến ngôi làng kế tiếp phải mất hai
ngày đường, đi qua một dãy núi lô nhô trước mặt, Mộc Nhĩ phải ngủ lại giữa rừng
hoang.
Nhưng ngay khi đặt chân
lên con đường núi, Mộc Nhĩ bắt đầu cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Mặc dù dãy núi xa lạ
với nó, nhưng cây cối ở đây cũng giống như ở nhà - càng lên cao những cây
thích, cây sồi và cây mận rừng dần nhường chỗ cho những đồi thông. Tâm trí Mộc
Nhĩ bận rộn phân biệt tiếng hót của các loài chim và nhận biết các loài cây cỏ.
Có lúc cao hứng nó bật hát nghêu ngao - nhưng nó chợt im bặt khi nhận ra mình
vừa ngâm nga bài hát mà ông thợ Min hay hát ư ử trong khi ngồi bên bàn
xoay. Lão già cứng đầu, Mộc Nhĩ
nghĩ, rồi lắc đầu.
Thoáng hương sắc đầu tiên
của mùa thu đã chớm len lỏi vào khu rừng này. Lá cây lác đác ngả sang màu vàng
thau đỏ quạch nơi rìa lá. Không khí tươi mát và trong lành khi nó bước liêu
xiêu trên con đường mòn rợp bóng. Nó nghĩ mình thật ngu ngốc vì đã lo sợ hão
huyền vào lúc sáng sớm.
Mộc Nhĩ hi vọng sẽ đi
ngang qua một lán thợ săn, hoặc thậm chí một ngôi chùa, nhưng mãi cho tới khi
mặt trời từ từ khuất bóng sau những ngọn cây, nó vẫn chưa thấy chỗ trú chân. Nó
để mắt tìm một chỗ thích hợp nghỉ đêm. Đứng bên con suối cạn nước róc rách chảy
ngang qua lối mòn, Mộc Nhĩ lấy bình nước ra uống. Chùi hai tay vào áo chẽn, nó
đứng nhìn chung quanh.
Ở bên kia bờ suối, cách
đường mòn không xa lắm, có hai tảng đá lớn dựng đứng. Mộc Nhĩ lội qua suối đến
gần quan sát kĩ. Giữa hai tảng đá có một khe hở. Khe quá hẹp không thể ngủ ở
trong đó được, nhưng nó thích cái dáng chở che của những tảng đá lớn. Nếu ngủ ở
đây, nó nghĩ, tảng đá sẽ đứng canh gác cho mình.
Mộc Nhĩ chật vật tháo gùi
khỏi vai, bắt đầu lượm cành khô nhóm lửa. Chẳng có gì để nấu nướng, nhưng ngọn
lửa sẽ sưởi ấm và giúp nó vững tâm khi màn đêm buông xuống. Sau khi dọn sạch
một khoảng trống, nó nhặt đá từ dưới suối lên xếp thành môt vòng tròn. Rồi ở
giữa vòng tròn nó dựng một kim tự tháp nhỏ bằng những cành khô chụm đầu lại với
nhau. Dưới đáy kim tự tháp là một lớp lá thông khô.
Mộc Nhĩ thành thạo đánh
hai hòn đá lửa vào nhau. Những tia lửa bắt vào đám lá thông. Cũng phải mất vài
lần như vậy mới có một làn khói nhỏ báo hiệu ngọn lửa sắp bùng lên. Mộc Nhĩ lắc
đầu tự chế nhạo mình. Bác Sếu hầu như lần nào cũng nhóm được lửa từ ngay cú mồi
đầu tiên.
Mộc Nhĩ ngồi dựa lưng vào
một trong hai tảng đá. Nó cất hai hòn đá đánh lửa vào chiếc túi nhỏ đeo ở thắt
lưng rồi lấy một cái bánh gạo trong túi ra ăn. Nó hơi nhăn mũi lại khi cắn
miếng đầu tiên. Nó đã ăn hết bánh gạo của Ajima ngày hôm qua, mứt hồng đã hết
từ lâu. Những chiếc bánh này nó mua ở trong làng, chẳng giống những chiếc bánh
do Ajima làm chút nào, cả về mùi vị lẫn độ mịn của bột.
Ăn xong, Mộc Nhĩ lấy cục
đất sét ra ngắt, véo, nhào, lăn tròn nhưng chưa nặn thành hình gì cả, chờ cục
đất thì thầm mách bảo. Lập tức cái lưng cong cong, trơn trơn của một con rùa
định hình. Tạo hình đầu rùa có khó hơn, và Mộc Nhĩ, mải mê với công việc tỉ
mẩn.
Một lúc sau, nó chợt nhận
ra mình đang căng mắt nhìn cục đất sét qua ánh sáng của ngọn lửa bập bùng. Nó
đưa mắt nhìn quanh; mặt trời đã lặn, nhưng ánh hào quang vẫn còn bảng lảng trên
mấy đám mây. Mộc Nhĩ đứng dậy, tháo cái chiếu buộc bên hông gùi ra. Nó trải
chiếu ở khoảng đất giữa đống lửa và tảng đá, nằm sấp xuống, chống tay lên cằm,
tư lự.
“Có hai thứ mà con người luôn thích ngắm nhìn,” nó như nghe tiếng bác Sếu vang vọng
trong đầu. “Đó là lửa cháy và nước
chảy. Bao giờ cũng như vậy, nhưng lại luôn luôn thay đổi.”
Khi màn đêm buông xuống,
ngọn lửa bắt đầu hắt những cái bóng kì lạ lên những thân cây đen vây quanh nó.
Bỗng nghe đánh tách. Tiếng động đột ngột từ đống lửa làm thằng bé giật bắn
mình, nỗi lo sợ phập phồng lại ùa về. Đến
lúc ngủ rồi - nó can đảm tự nhủ.
Mộc Nhĩ nhắm mắt lại,
nhưng chỉ được một lúc thôi. Bóng tối bủa vây quanh nó sao mà mênh mang quá.
Nhìn ngọn lửa một lúc nữa có lẽ mình sẽ ngủ được, Mộc Nhĩ nghĩ thầm. Quả thật,
trong hơi ấm của ngọn lửa lung linh, hai mí mắt nó nặng dần.
Bất thình lình, Mộc Nhĩ
giật mình thức giấc - nó vừa nghe thấy một tiếng động không phát ra từ đống
lửa, khẽ khàng đến mức gần như không phải tiếng va chạm mà chỉ là một vật gì đó
lay động, hay cái lao xao êm dịu của lá cây trong màn đêm tĩnh mịch. Nó chống
khuỷu tay, hơi nhổm người dậy, lắng tai nghe ngóng, căng mắt ra nhìn trong ánh
sáng hư ảo của vầng trăng non vừa ló dạng. Có lẽ chẳng có gì hết.
Nhưng rồi, nó nghe thấy
lần nữa. Lần này thì không phải hồ nghi gì nữa. Có thứ gì đó đang chuyển động
ngang qua khu rừng, cách chỗ nó không xa lắm. Một cái gì đó bước đi thanh
thoát, có lẽ một con thú đang nhẹ nhàng chuyển động trên lớp lá rụng...
Từ từ, chầm chậm, nó nhấc
chiếc gùi lên. Nó định nhét chiếc gùi vào khe hở giữa hai tảng đá nhưng lại
không thể làm thế một cách lặng lẽ được. Nan cây của chiếc gùi cọ vào mặt đá
bật thành tiếng. Mộc Nhĩ sợ cứng người, nín thở.
Thế này thì không xong
rồi. Nó phải hành động thật mau nếu không con vật kia sẽ vồ nó trước khi nó kịp
nhận biết. Mộc Nhĩ cố đẩy chiếc gùi vào trong khe hở, áp lưng vào đó và ngọ
nguậy thân mình cố len vào. Không đủ chỗ, nó đành ngồi bó gối, người hơi chồm
về phía trước chờ đợi, tim nó như muốn nổ tung ra khỏi lồng ngực.
Liệu con vật đó có tránh
xa ngọn lửa không? Lửa sắp tàn rồi, bây giờ chỉ còn một đống than hồng. Mộc Nhĩ
thầm mắng mình đã không nhặt nhiều củi hơn để cạnh đống lửa.
Tiếng động đang tiến lại
gần hơn. Mộc Nhĩ có thể nghe thấy tiếng lá cây lạo xạo ở bên trái. Trên mặt đất
ngay trước mặt nó có một cây gậy. Thật ra chỉ là một cành cây, nhưng dù sao có
cũng hơn không. Nó tuốt lá rồi nắm chặt vũ khí trong tay. Có lẽ, nó quýnh quáng
nghĩ, mình sẽ chọc mù mắt con thú khi nó chồm lên người mình, cố lôi mình ra
khỏi chỗ có hai tảng đá...
Nó sẽ phải chờ bao lâu?
Từng giây từng phút chậm chạp trôi qua. Rồi, không một dấu hiệu báo trước, con
vật lọt vào tầm nhìn của nó.
Đó là một con cáo!
Mộc Nhĩ cảm thấy mạch đập
thùm thụp trong cổ họng. Những ý nghĩ quay cuồng tuyệt vọng trong đầu. Nó chẳng
có gì trong tay để chống lại con cáo kia. Trong khi đó, con vật nhìn nó chòng
chọc, xoáy sâu vào tận đáy mắt đối phương, hút hồn nó cho tới khi nó từ từ đứng
dậy đi theo về tận hang ổ của cáo. Thế là Mộc Nhĩ sẽ không bao giờ được gặp lại
bác Sếu hay Ajima nữa. Những chiếc bình sẽ vẫn được giấu kín giữa những tảng đá
này, vĩnh viễn. Riêng Mộc Nhĩ sẽ chẳng còn gì ngoài một đống xương trắng đã bị
gặm nham nhở...
Con cáo quay đầu lại.
Trong khoảnh khắc, ánh lửa vẫn còn le lói phản chiếu trong mắt cáo. Đừng nhìn! Mộc Nhĩ thầm la lên với
mình. Không được nhìn vào mắt nó - cơ hội
duy nhất của mi đấy! Thế là Mộc Nhĩ nhắm chặt mắt lại quyết không nhìn
vào đôi mắt ma quái của con cáo.
Mộc Nhĩ đã chờ trong bao
lâu, chính nó cũng không biết. Khi nó mở mắt ra thì hình như cả đời người đã
trôi qua. Nó đã bị thôi miên bất chấp nỗ lực bản thân rồi chăng? Hay là nó đang
ở trong hang cáo, tỉnh lại lần cuối cùng trước cái chết đau đớn, đẫm máu?
Mộc Nhĩ chớp chớp mắt để
nhìn cho rõ hơn. Chẳng thấy con cáo đâu cả, còn nó thì vẫn lèn cả thân mình
trong khe hở giữa hai tảng đá, bắp thịt đau nhức vì chuột rút. Nó không dám cử
động. Không chừng lại là một trò lừa bịp khác của con cáo: Biết đâu con cáo vẫn
lảng vảng đâu đó, chờ nó chui ra khỏi nơi ẩn náu. Không nhất định phải ở lại
chỗ này, cảnh giác trước bất cứ cạm bẫy nào của con thú ranh ma...
Tiếng chim chóc đánh thức
Mộc Nhĩ dậy. Nó ngơ ngác mất một lúc không biết mình đang ở đâu. Nó vừa nhúc
nhích thì bị một góc của chiếc gùi đâm mạnh vào lưng.
Ánh mặt trời nhảy nhót
rực rỡ qua những kẽ lá trên đầu. Trời sáng rồi.
Có lẽ nào? Hẳn nó đã ngủ
thiếp đi! Không ai biết nó ngủ trong bao lâu, với một con cáo cận kề và nó vẫn
còn sống.
Mộc Nhĩ chợt cười lên
thành tiếng, âm thanh của tiếng cười khiến nó nhớ đến ông bạn già ưa triết
lý. Chúng ta sợ hãi trước những thứ
mà chúng ta không biết chỉ vì chúng ta không biết mà thôi. Mộc Nhĩ
ngẫm nghĩ một chút và cảm thấy hài lòng với chính mình. Nó phải ghi nhớ ý tưởng
này - hẳn bác Sếu sẽ rất thích bàn luận về ý nghĩ của câu chuyện vừa rồi. Mộc
Nhĩ thu người chui ra khỏi khe hở, nhăn mặt buồn phiền vì hai bả vai cũng căng
cứng như những cơ bắp trên người nó.
Còn một ngày đường nữa
thì tới ngôi làng kế tiếp, nằm ở thành phố Puyo. Mặc dù Mộc Nhĩ định đi thẳng
đến Songdo vì không muốn chậm trễ, nhưng bác Sếu đã khuyên một khi đã đến Puyo
hãy dừng chân ở một nơi được gọi là “Vách đá Hoa Rơi”.
“Đó là câu chuyện xưa,
rất xưa,” bác Sếu bắt đầu như vậy, còn Mộc Nhĩ thì trải chiếc chiếu của mình ra
và nằm xuống, ngọ nguậy tìm thế nằm thoải mái nhất.
“Con biết không, mảnh đất
nhỏ bé của chúng ta đã phải trải qua bao nhiêu họa xâm lăng,” bác Sếu nói tiếp.
“Những vương quốc hùng cường xung quanh - Trung Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ - không
bao giờ để cho chúng ta sống thanh bình lâu dài. Đây là câu chuyện về một trong
những cuộc xâm lăng như thế.”
“Vào thời nhà Đường của
Trung Hoa, cách đây khoảng năm trăm năm về trước, Puyo lúc bấy giờ là thủ đô
của Paekche - một trong ba quốc gia chia nhau cai trị vùng đất này. Quân nhà
Đường, liên minh với vương quốc Silla, càn quét từ phía bắc và tràn xuống đến
Puyo. Phần lớn quân lính đều lên đường chiến đấu, chỉ còn một số ít cận vệ ở
lại để bảo vệ nhà vua. Ngài nhận được tin cấp báo thì đã quá trễ.”
“Khi nhà vua và đám cận
thần rời bỏ cung điện, họ bị quân nhà Đường truy đuổi gắt gao. Đoàn người chạy
trốn buộc phải rút lên ẩn náu tại một nơi cao nhất Puyo - một vách đá nhìn
xuống dòng sông Kum. Không có lối thoát, lính ngự lâm anh dũng chặn con đường
lên xuống vách đá, trấn thủ giữa kẻ thù và Đức vua của họ. Chẳng bao lâu, họ đã
bị quân giặc đánh cho tan tác.”
“Vài cận thần và đám cung
tần mỹ nữ vây quanh nhà vua, kiên quyết bảo vệ Chúa thượng của mình đến hơi thở
cuối cùng. Cánh phụ nữ biết quá rõ ràng, quân nhà Đường sẽ không giết họ - không,
chúng sẽ bắt họ như những chiến lợi phẩm và chắc chắn sẽ hành hạ họ. Nỗi kinh
hoàng ấy khó có thể hình dung nổi.”
Bác Sếu ngừng lời để nhấp
một ngụm trà. Mộc Nhĩ nhỏm dậy, quỳ gối háo hức, lắng nghe câu chuyện. “Rồi sao
nữa?,” nó hối thúc.
“Kiên nhẫn nào, khỉ con.
Còn chưa đến đoạn hay nhất đâu.” Bác Sếu nhìn đăm đăm vào ngọn lửa trong giây
lát. “Quân nhà Đường đánh thốc lên đỉnh núi, Ngay lập tức, cứ như thể tất cả
tâm trí của mọi người đã chung đúc thành một, đám đàn bà con gái thi nhau lao
mình từ vách đá xuống vực. Tất cả họ thà chọn cái chết hơn là trở thành tù nhân
trong tay quân thù.”
“Con có mường tượng được
không, anh bạn nhỏ? Những người đẹp nhảy từ vách đá xuống, từng người, từng
người một, những bộ váy lụa rực rỡ của họ bay phất phới trong không trung -
tím, đỏ, vàng, xanh... tựa như những đóa hoa đang rời cành rơi xuống.”
Mộc Nhĩ há hốc miệng, hai
mắt tròn xoe. Cảnh tượng mới hào hùng làm sao!
“Trong trận đó thắng lợi
thuộc về quân nhà Đường, nhưng cái chết của những người phụ nữ không hề vô ích,
bởi vì hành động của họ đã trở thành nguồn cảm hứng động viên tinh thần cho tất
cả những ai cần được khích lệ. Kí ức về họ sẽ còn lưu truyền hàng ngàn năm nữa,
ta chắc chắn là như vậy.”
Bác Sếu đưa tay ra với
lấy cái nạng, chọc vào đống than hồng với ngọn lửa sắp tàn. Mộc Nhĩ trông thấy
những tia lửa lóe lên rồi vụt tắt... như những bông hoa bé xíu xiu.
“Hãy leo lên Vách Đá Hoa
Rơi khi con tới Puyo, anh bạn nhỏ ạ,” bác Sếu dặn dò. “Nhưng nên nhớ rằng nhảy
xuống tìm cái chết không phải là cách duy nhất để chứng tỏ lòng dũng cảm thật
sự.”
Bây giờ Puyo đang ở ngay
trước mặt. Mộc Nhĩ hăm hở sải bước trên đường. Nó sẽ ghé thăm vách đá, và khi
trở về sẽ kể lại với bác Sếu những gì tai nghe mắt thấy.
Những ngôi làng nằm trên
con đường Mộc Nhĩ đi qua có cái gì đó khá giống với Chulpo. Tuy không phải là
những ngôi làng ven biển, dân chúng phần lớn làm nghề nông, không phải nghề
gốm, nhưng vẫn tạo cho khách bộ hành cái cảm giác giông giống như Chulpo: những
nếp nhà nhỏ, mái lá cụm vào nhau dọc theo tuyến đường chính, dinh thự dành cho
giới quan lại tách hẳn khỏi khu nhà dân; thế nào cũng có một ngôi chùa ở gần
làng; hết thảy mọi người đều cần cù làm lụng để đổi lấy một cuộc sống đạm bạc.
Ai nấy đều tốt bụng và đáng kính, chí thú làm ăn. Mộc Nhĩ cũng chăm chú lo cho
công việc của mình.
Nhưng ở Puyo thì khác!
Mộc Nhĩ đi qua cổng thành và đứng khựng lại ở giữa đường. Người đâu ra mà đông
thế! Nào chỉ có người, còn trâu, bò và xe thồ chen lấn nhau trên những con phố
chật hẹp; nhà cửa san sát nhau khiến Mộc Nhĩ thắc mắc không biết cư dân ở đây
làm sao thở được. Sau lưng nó vang lên những tiếng quát tháo nôn nóng, ai cũng
cố xô đẩy để vượt qua mặt nó. Cậu bé bị cuốn đi, giữa dòng người hối hả.
Hai bên đường là những
cửa tiệm buôn bán nhộn nhịp. Chủ tiệm ai nấy đều lảnh lót rao hàng và trưng ra
những món hàng độc của mình; khách mua hàng cũng thét to không kém, cố trả giá
rẻ nhất. Chưa bao giờ Mộc Nhĩ trông thấy nhiều hàng hóa đến thế hoặc nghe nhiều
tiếng ồn đến thế! Cứ thế này, làm sao cư dân Puyo có thể nghe thấy những suy
nghĩ của chính họ?
Có tiệm bán thực phẩm chế
biến sẵn, có cửa hàng bán rau củ và cá mú. Một quầy chỉ bán rặt bánh kẹo. Lại
có những dãy bàn bày tơ lụa, những khay ngọc thô đá quý còn chưa qua chế tác,
rồi đồ chơi bằng gỗ. Tất cả các mặt hàng gia dụng đều có mặt, nào giỏ, nào
chiếu cói và tủ gỗ.
Và đồ gốm nữa. Mộc Nhĩ
dừng lại trước một gian hàng. Đồ gốm được chất thành những ngọn núi nhỏ - không
phải là đồ tráng men màu ngọc bích, mà là đồ gốm đá[6] màu nâu sậm gọi là onggi, dùng để chứa thực phẩm.
[6] Đồ gốm có chứa một lượng nhỏ đá - ND.
Cửa hàng onggi trưng bày tất cả loại sản
phẩm đủ mọi kích cỡ, từ những cái đĩa nhỏ tí xíu đựng nước sốt cho đến những
cái vại muối kim chi to đến
mức một người lớn có thể chui lọt. Hàng hóa được chất thành những tháp cao nhìn
chông chênh như sắp sửa lật nhào xuống. Nhưng Mộc Nhĩ mỉm cười, biết rằng chúng
vững chắc hơn vẻ bề ngoài rất nhiều. Nó đã học được các xếp chồng những sản
phẩm gốm có kích thước tương tự nhau thành một ngọn tháp cao ngất mà không bao
giờ bị đổ nhào.
Mộc Nhĩ vừa toan bước
tiếp thì bỗng phát hiện ra một cái kệ ở cuối cửa tiệm. Miệng nó há to vì kinh
ngạc.
Chỉ có ba món hàng trưng
trên cái kệ này, ba cái bát uống rượu men màu ngọc bích giống hệt nhau - khảm hình hoa cúc.
Người chủ tiệm nhận thấy
Mộc Nhĩ quan tâm bèn bảo: “Này chú nhóc, hãy về bẩm với ông chủ của chú rằng
những cái bát đó là mẫu mới nhất đấy. Người làm ra chúng chính là một người thợ
được đức vua sủng ái! Ta không dám nói cho chú biết là mình phải trả bao nhiêu
mới mua được đâu... Chỉ có khách hàng sành điệu lắm mới có thể mua nổi món đồ
này. Chủ của chú có phải là người như vậy không?”
Mộc Nhĩ không muốn tỏ ra
thô lỗ, nhưng nó không sao nói được. Đầu óc quay cuồng, nó chỉ cúi đầu trước
người chủ tiệm và bước ra khỏi quầy.
Thiết kế của bác thợ Kang
- đã được chiêm ngưỡng, được thán phục và được sao chép để bày bán trên những
đường phố ở Puyo.
Mộc Nhĩ bắt đầu đi nhanh
hơn, len lỏi giữa đám đông. Tác phẩm của ông thợ Min phải đến Songdo sớm chừng
nào tốt chừng nấy.

