Chặng Đường Mười Nghìn Ngày - Chương 01
Chương 1
Kỷ niệm chín năm.
Quê tôi ở thôn Vĩnh Thượng, xã Sơn
Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (trước là tổng Sơn Lăng, phủ Ứng Hòa(1),
tỉnh Hà Đông).
(1) Là những
đơn vị hành chính thời Pháp thuộc: tổng tương đương với xã, phủ lớn hơn huyện,
nay thống nhất là huyện.
Hơn bốn mươi năm tham gia cách mạng,
đã có mặt ở khắp mọi miền đất nước nhưng tôi vẫn tự hào về quê mình - một vùng
giàu đẹp khiêm nhường. Ở đấy, có cánh đồng cấy được hai vụ chiêm mùa; có những
vạt bãi rộng phẳng, đất tơi xốp và màu mỡ bởi phù sa sông Đáy bao quanh hàng
năm bồi đắp, rất thuận lợi cho việc phát triển hoa màu, cây công nghiệp như rau
đậu, ngô, khoai, mía, lạc và dâu tằm, vân vân.
Nhưng trước cách mạng tháng Tám năm
1945, hầu hết người dân quê tôi đều phải làm thuê, cấy mướn đầu tắt mặt tối
quanh năm mà vẫn không đủ ăn. Khi liềm hái vừa gác thì cũng là lúc thóc trong bồ
cạn vơi vì phải nộp tô, trả nợ cho một số ít địa chủ, phú nông là những người
chiếm gần hết ruộng đất trong làng xã.
[Chúc bạn đọc sách vui vẻ tại www.gacsach.com - gác nhỏ cho người yêu
sách.]
Lại cảnh vác rá đi vay, thậm chí phải
bán cả lúa non với giá rẻ mạt để đổi lấy hạt thóc mang về sống cầm hơi, tiếp tục
cuộc đời cấy rẽ, làm thuê với bao nỗi u uất ê chề, chờ mùa gặt sau có thóc mang
trả họ. Cái kiếp luân hồi ấy khó ai mà thoát được!
Tôi mồ côi mẹ lúc ba tuổi. Nhà nghèo,
bố phải đi làm thuê gánh mướn để kiếm sống. Bọn nhà giàu lập mưu hại bố tôi,
chúng muốn cướp mảnh đất nhỏ nhoi cuối cùng của ông bà để lại, xô đẩy gia đình
tôi vào cảnh xẻ đàn tan nghé.
Ấy là vào một buổi sáng tinh mơ giữa
năm 1930, lính đoan (lính chuyên đi thu thuế, bắt hàng lậu) bất thần ập đến,
chúng vòng ra sau nhà lấy cây bới nhẹ mặt đất lôi lên một hũ rượu mang vào nhà
giơ sát vào mặt bố tôi, dọa:
- Ê! Lão già này dám chống lệnh nhà
nước hả?
Bố tôi lúc này tỏ ra bình tĩnh, đầu
cúi chắp hai tay vái:
- Bẩm quan, oan cho con, chắc... có...
kẻ... nào... bày... ra chuyện... này.
Không để bố tôi nói hết, tên lính
đoan sấn sổ, mặt dữ tợn túm ngực áo bố tôi đẩy đi đẩy lại, dằn giọng:
- Không oan gì hết, phải tù sáu tháng
ở Hỏa Lò Hà Nội, nộp phạt bốn mươi đồng vì tội tàng trữ rượu lậu trong nhà. Nếu
không sẽ mất nhà và tù mọt xương.
Sau khi ở tù về bố tôi phải bán nhà
được hai mươi đồng và bán chị tôi lấy hai mươi đồng để nộp phạt. Từ đó gia đình
tôi bị dồn vào cảnh màn trời chiếu đất, không một tấc đất cắm dùi. Quẫn chí, bố
tôi thắt cổ tự tử khi tôi mới mười hai tuổi. Nhưng gia đình phải giữ kín chờ
đêm khuya bó chiếu đưa ra xa chôn cất, vì nếu khai báo bọn hào lý trong làng kiếm
cớ gây xách nhiễu phiền hà, có khi phải để thối mới được chôn nếu không có tiền
lo lót, mặc dầu đứng về lý mình ngay, chết vì nghèo túng. Đúng là nghèo đi đôi
với khổ đủ điều, lẽ phải không thuộc về người nghèo.
Cũng từ đó tôi sống kiếp tôi đòi, phải
đi ở đợ làm con nuôi cho một gia đình giàu có sáu năm liền với bao nỗi đắng cay
tủi phận. Có một lần nhận ba đồng từ tay “bố mẹ nuôi” về bốc mộ cho cha, đến
khi từ giã kiếp con nuôi họ đòi lại.
Chuyện vợ con cũng thật long đong, lận
đận. Tục lệ xưa mười chín, hai mươi tuổi đã lấy chồng, lấy vợ, đã có con bế con
bồng. Biết là khổ vì nhà nghèo nhưng chị tôi lo buồn ra mặt, thấy tôi đã hai
mươi tuổi mà chưa có vợ sẽ trở thành “ông mãnh”(2) dân làng chê cười
gán vào hạng “cao số” thì khổ thân, sau này có muốn cũng không được phải chịu cảnh
cô đơn, chị tôi luôn luôn thúc giục tôi lấy vợ. Người đầu tiên chị tôi nhắm là
một phụ nữ góa chồng, nhưng một tuần sau lý trưởng cưới cô về làm lẽ thứ ba.
Không nản, chị tôi còn ướm hỏi hai, ba đám nữa, cũng là đàn bà góa nhưng đều
không thành.
(2) Ông
mãnh, bà cô tục xưa chỉ những người chết không vợ, không chồng. Những người cô
đơn dưới âm phủ, rất không hay đối với những người thân đang sống trên trần
gian.
Tình cảnh không lối thoát, tôi quyết
định bỏ làng đi bất cứ phương trời góc biển nào, miễn là tìm được kế sinh nhai.
Tục xưa bỏ làng là xấu xa, thấp hèn,
dân làng khinh rẻ, nên đêm trước khi rời xa quê tôi tự nhủ mình: Nguyện đã đi
là không trở lại. Đã quyết là đi, đến đâu thì đến, làm việc gì cũng được, ở đợ,
làm thuê, đi phu hay đăng lính, miễn sao thoát khỏi cảnh khốn cùng ở cái quê
hương nghèo khổ, đầy nghiệt ngã này.
Tháng 8 năm 1940, tôi ra Hà Nội, dừng
lại ở chợ Hôm, phố Huế. Tại đây tôi làm đủ nghề: gánh nước, kéo xe bò, vác gỗ,
bổ củi thuê, nhưng cũng chỉ làm tạm bợ, chốc lát để lại cắp nón khoác bị sang
nhà khác cầu xin việc. Cứ thế bữa đói bữa no, ngày thất thểu qua các phố tìm việc,
tối ngủ vất vưởng nơi đầu đường góc chợ, làm bạn với muỗi, chuột.
Hai tháng qua đi thật nặng nề, chậm
chạp, đã có lúc tôi gần như kiếm sống bằng cách ngửa tay cầu xin lòng thương cảm
của khách qua đường phố. Đang tính chuyện phá lời nguyền, về làng trở lại kiếp
sống tủi nhục, thì được tin chủ thầu người Pháp mộ phu đi làm đường, tôi ghi
tên liền.
Nhưng rồi vẫn cảnh tủi cực lầm than.
Con đường chúng tôi mở ngày ấy là đường số 7 bây giờ (nối thành phố Vinh với nước
Lào). Cậy thế có tiền, bọn chủ thầu cho chúng có quyền, bắt dân phu phải làm hết
mình, ai mỏi mệt trễ nải công việc là chúng chửi mắng, đánh đập, dùng roi vọt hối
thúc phải quên mệt, quên đói, quên ốm đau tiếp tục đi làm. Lao động vất vả nặng
nhọc nên đau yếu, bệnh tật, chết chóc diễn ra như cơm bữa. Ngày nào cũng có
chuyện người sa chân xuống vực, người bị núi lở, đá đè; rồi phù thũng, ngộ độc
ngã nước sốt rét, ghẻ lở chấy rận. Tôi vẫn được anh em xếp vào loại tuổi “bẻ
gãy sừng trâu” vậy mà sang tháng thứ tư bị sốt rét rừng quật ngã, đến tháng thứ
chín chịu không nổi cảnh đói rét, bệnh tật với công việc nặng nhọc, nguy hiểm,
phải bỏ về, giã từ đời “dân phu lục lộ” cho Tây.
Trở lại Hà Đông với một tâm trạng phẫn
chí đến cùng cực, thì có tin Pháp mộ lính, tôi lại đăng tên với ý nghĩ giản đơn
như nhiều thanh niên nghèo hồi ấy - âu cũng là một nghề. Vào hôm trước, hôm sau
bọn chỉ huy Pháp lùa chúng tôi lên xe đi qua Lai Châu. Đúng là lúc này bữa ăn
hàng ngày không phải lo, nhưng hơn một năm ở lính (từ giữa 1943 đến đầu năm
1945), tôi dần dần hiểu ra cái kiếp nô lệ da vàng. Cũng là lính như nhau, nhưng
lính Tây lương cao hơn, có quyền thế hơn, không phải lao công tạp dịch như lính
người Việt. Tận mắt tôi thấy chúng tra khảo, hành hạ dã man một người thanh
niên cũng nghèo khổ, cũng mất cha, mất mẹ, cũng cửa nhà tan nát như tôi cho đến
chết với cái tội “làm Cộng sản” (!).
Sự tận mắt này đã thức tỉnh trong nếp
nghĩ của tôi. Tuy chưa hiểu cặn kẽ các hành động của chúng lúc ấy là thống trị,
đàn áp, là xâm lược nhưng cũng đủ lý do khiến tôi chán ngán, quyết định từ bỏ
cuộc đời làm lính, trốn về xuôi tìm nghề khác.
Những ngày đầu bỏ trốn tôi chỉ nghĩ
và lo sợ bọn Tây truy lùng, bắt trở lại, nhưng đến khi về gần tới Hà Nội, thì
câu hỏi thường trực trong tôi lại bật dậy: Mình sẽ sống tiếp như thế nào đây?

